Vai tṛ của Hội đồng Mục vụ trong các Xứ Đạo Việt Nam
VietCatholic News (18 Feb 2009 05:49)
Măi
cho đến khi bộ giáo luật 1983 ra đời, Giáo Hội
mới có một tài liệu chính thức nói về Hội
Đồng Mục Vụ cấp giáo xứ. Thế
nhưng trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, Hội
Đồng này đă tồn tại từ rất lâu, có thể
nói từ khi hạt giống Tin Mừng được rao
giảng tại Việt Nam, và được gọi bằng
rất nhiều tên khác nhau. Đó là một nét đặc
thù của Giáo Hội Việt
I. Thế Nào Là Hội Đồng Mục
Vụ
1. T́m một định nghĩa
Nếu phải đi t́m một định nghĩa mang tính
chính thức về Hội Đồng Mục Vụ là
điều rất khó khăn. Bởi lẽ cho tới nay,
trừ những qui chế về Hội Đồng Mục
Vụ đang được soạn thảo thử nghiệm
tại một số giáo phận, hầu như chưa có một
tài liệu chuyên đề nào tŕnh bày về vấn đề
này, từ những văn kiện của Toà Thánh cho tới
những tài liệu của các Giáo Hội địa
phương.
Cho đến nay, một tài liệu duy nhất của Hội
Thánh hoàn vũ có đề cập đến Hội Đồng
Mục Vụ trong giáo xứ, đó là bộ giáo luật
1983, nhưng cũng chỉ nói rất chung chứ không có ư
đưa ra một định nghĩa: “Nếu Giám Mục
Giáo Phận xét là thuận lợi, sau khi đă tham khảo ư
kiến của Hội Đồng Linh Mục, th́ trong mỗi
giáo xứ nên thành lập Hội Đồng Mục Vụ,
do Cha Sở chủ tọa, và trong đó các tín hữu cùng với
những người chiếu theo chức vụ tham gia vào
việc săn sóc mục vụ trong giáo xứ cùng đóng
góp sự cộng tác của ḿnh vào việc cổ vơ sinh hoạt
mục vụ. Hội Đồng Mục Vụ chỉ có
quyền tư vấn, và được điều hành
theo các qui tắc do giám mục giáo phận đă ấn
định.” [1]
Tuy không phải là một định nghĩa, nhưng dựa
vào đoạn văn trích dẫn này, chúng ta cũng có thể
h́nh dung phần nào về hội đồng này là ǵ. Trước
hết đó là một “hội đồng”, có nghĩa là gồm
có nhiều người, tuy không xác định là bao nhiêu.
Thành phần tham dự của hội đồng ấy là
giáo dân trong giáo xứ. Công tác chính của hội đồng
này là tư vấn cho Cha Sở, tham gia điều hành giáo xứ,
săn sóc và cổ vơ những sinh hoạt mục vụ.
Qua những điều vừa phân tích dựa vào đoạn
giáo luật điều 536, nếu phải định nghĩa
về hội đồng mục vụ, chúng ta có thể tạm
định nghĩa như sau: Hội Đồng Mục
Vụ là một tổ chức gồm những chức vụ
được tuyển chọn từ hàng ngũ giáo dân
trong giáo xứ, dưới sự điều hành của
Cha Sở, nhằm tư vấn cho ngài, tham gia điều
hành giáo xứ, đồng thời săn sóc và cổ vơ những
sinh hoạt mục vụ của giáo xứ.
Chúng ta cũng có thể tham chiếu thêm một định
nghĩa khác, được ghi trong điều 3, Điều
Lệ Quới Chức (tức Hội Đồng Mục Vụ)
của giáo phận Vĩnh Long. Định nghĩa ấy
như sau: “BAN THƯỜNG VỤ QUỚI CHỨC là những
Chức Việc được tuyển chọn để
điều hành Họ đạo, dưới quyền
điều khiển của Cha sở và thường xuyên
giải quyết những vấn đề đă được
quyết định sẵn. Ban Thường Vụ gồm
có: ông Trùm, ông Câu, ông Biện Thư Kư, ông Biện Thủ Quỹ.”
[2]
Tóm lại, chúng ta có thể nói, Hội Đồng Mục Vụ
là những cộng tác viên của Cha Sở trong công tác mục
vụ và điều hành giáo xứ.
2. Đôi ḍng lịch sử về Hội
Đồng Mục Vụ trong Giáo Hội Việt Nam
Hiện nay, tổ chức những người giáo dân giúp
các Cha Sở tại các xứ đạo hầu hết
đều được gọi là Hội Đồng Mục
Vụ, do ảnh hưởng của điều 536 trong bộ
giáo luật. Tuy nhiên, hội đồng này đă có rất
nhiều tên gọi khác nhau gắn liền với lịch sử
truyền giáo tại Việt Nam, tuỳ từng miền:
Ban Chức Việc, Ban Trùm Họ, Ban Quí Chức, Hội
Đồng Giáo Xứ… Đây chính là một điểm
đặc biệt trong Giáo Hội Việt Nam.
Khoảng thế kỷ thứ 17, tại Việt Nam, Ban
Trùm Họ hay Ban Quí Chức là một tổ chức
được các cha thừa sai thiết lập nhằm trợ
giúp cho các ngài trong việc truyền giảng Tin Mừng. Các
ban này được chính thức công nhận tại công
nghị Phố Hải (Hội An) năm 1672, dưới sự
chủ toạ của đức cha Lambert de la Motte. Trong khoản
4 của công nghị này có nói như sau: “Nơi nào có nhiều
bổn đạo, mà không có Linh Mục hoặc Thầy Giảng,
Kẻ Giảng th́ phải chọn một người khôn
ngoan, đức hạnh để viếng thăm kẻ
liệt lào, rửa tội cho trẻ thơ hoặc những
người gần sinh th́, và phải gửi tên người
đó về cho Giám Mục hoặc Bề Trên địa phận.”
[3]
Như vậy, lúc mới được thành lập, tại
mỗi xứ đạo chỉ có một người
được chọn vào chức vụ này. Và lúc ấy
người ta dùng danh từ “Ông Trùm” để gọi những
người giữ chức vụ trên. Về sau, trong một
số xứ đạo bổ sung thêm nhiều người
và được gọi là Ban Chức Việc. Đến
thế kỷ 19, hầu như xứ đạo nào cũng
có ban này, và được gọi bằng nhiều tên khác
nhau, tuỳ từng vùng. Lúc đó ban này là trung gian giữa
Cha Sở và giáo dân, đồng thời làm thành Hội Đồng
để góp ư kiến với Cha Sở và phân chia trách nhiệm
trong giáo xứ.[4]
Sang thế kỷ 20, Ban Trùm Họ hay Ban Quí Chức
được phổ biến tại giáo phận Tây
Đàng Trong (năm 1924) và giáo phận Qui Nhơn (năm
1953). Năm 1943, công đồng Hà Nội đă nh́n nhận
tính hiệu quả của những ban này trong hoạt động.[5]
Ngày nay, trong tất cả các giáo xứ tại Việt Nam
đều có một Hội Đồng Mục Vụ mà tiền
thân của nó chính là những Ban Trùm Họ hay Ban Chức Việc
trước kia. Để đi vào hoạt động có nề
nếp và hiệu năng hơn, tại một số giáo
phận hiện nay đang xây dựng qui chế riêng cho Hội
Đồng Mục Vụ.
3. Thiết lập và cơ chế
Đoạn văn nói về Hội Đồng Mục Vụ
cấp giáo xứ trong giáo luật 536 không xác định
cách thức để một người trở nên thành
viên của hội đồng này như thế nào. Như
thế có thể nói giáo luật đă dành một khoảng
rất rộng cho cách thức lựa chọn các thành viên.
Tuy nhiên, Hội Đồng Mục Vụ cấp giáo xứ
hiện nay thường được qui chiếu vào Hội
Đồng Mục Vụ cấp giáo phận, là một hội
đồng được giáo luật đặc biệt
nói đến (các điều từ 511 đến 514). Chính
v́ thế, hiện nay, khi chọn thành viên cho Hội Đồng
Mục Vụ cấp giáo xứ, các Cha Sở thường
qui chiếu vào những tiêu chuẩn được ghi trong
giáo luật, đoạn nói về Hội Đồng Mục
Vụ cấp giáo phận.
Tiêu chuẩn đầu tiên và trên hết mà giáo luật
đưa ra cho những người được đề
cử vào Hội Đồng Mục Vụ phải là những
người trổi vượt về đức tin, có hạnh
kiểm tốt và khôn ngoan.[6] Đây là một tiêu chuẩn
mang tính tôn giáo, có lẽ cũng đă được tham khảo
từ một đoạn văn trong thơ của thánh
Phaolô, đoạn nói về việc tuyển chọn các kỳ
mục và các giám quản: “Kỳ mục phải là người
không chê trách được, chỉ có một đời vợ,
con cái cũng tin đạo và không mang tiếng là sống
phóng đăng hay bất phục tùng. Thật vậy, giám quản,
với tư cách là quản lư của Thiên Chúa, phải là
người không chê trách được, không ngạo mạn,
không nóng tính, không nghiện rượu, không hiếu chiến,
không t́m kiếm lợi lộc thấp hèn; trái lại, phải
hiếu khách, yêu chuộng điều thiện, biết tự
chủ. Người ấy phải gắn bó với lời
đáng tin cậy và đúng đạo lư, để vừa
có khả năng dùng đạo lư lành mạnh mà khuyên nhủ,
vừa có khả năng bẻ lại những kẻ chống
đối.” [7]
Ngoài ra, về mặt thời gian, giáo luật khuyên nên thiết
lập Hội Đồng Mục Vụ theo một hạn
kỳ nhất định, nhưng hạn kỳ đó là
do giám mục giáo phận ấn định.[8]
Dựa vào những tiêu chuẩn cơ bản trên đây mà
hiện nay, chúng ta thường thấy ở Việt Nam,
cách thức tuyển chọn các thành viên vào trong Hội
Đồng Mục Vụ giáo xứ dưới h́nh thức
phiếu bầu rất dân chủ, dưới sự chủ
toạ của Cha Sở. Giáo dân trong xứ đạo đề
cử những ứng viên trổi vượt, sau đó cũng
chính họ bầu chọn những vị đại diện
cho họ. Sau khi đă được bầu chọn,
thường Cha Sở sẽ đệ tŕnh danh sách lên
đức Giám Mục Giáo Phận, sau đó là lễ nhậm
chức của Hội Đồng mới này.
Về cơ cấu của các Hội Đồng Mục Vụ
cấp giáo xứ hiện nay, th́ không có hạn định
số người tham gia, tuỳ theo từng giáo xứ. Thế
nhưng, cho dù xứ lớn hay xứ nhỏ ba chức vụ
chính thường không thể thiếu: đó là vị chủ
tịch (hay có nơi gọi là ông chánh trương), vị
thơ kư và vị thủ qũy. Chính tại điểm này
mà chúng ta thấy rằng, ở Việt Nam không có sự
phân chia giữa Hội Đồng Mục Vụ và Hội
Đồng Kinh Tế theo như giáo luật qui định,
nhưng Hội Đồng Mục Vụ đảm nhiệm
luôn việc quản lư kinh tế của giáo xứ.
II. Trách Nhiệm Của Hội Đồng
Mục Vụ
Cuộc sống ngày càng tiến triển, những đ̣i hỏi
trong xă hội loài người ngày càng nhiều, thêm vào
đó, con số giáo dân trong các xứ đạo cũng ngày
càng tăng, gồm đủ mọi thành phần, nhất
là ở những thành phố lớn, v́ thế sự cộng
tác của các thành viên trong Hội Đồng Mục Vụ
đối với một Cha Sở hôm nay là không thể thiếu.
Thực tế cho thấy, Hội Đồng Mục Vụ
tại các xứ đạo giải quyết rất nhiều
công việc liên quan đến sinh hoạt của giáo xứ.
Thế nhưng ở đây, chúng ta chỉ chú ư đến
hai công tác chính của họ: điều hành giáo xứ và
thúc đẩy hoạt động mục vụ trong giáo xứ.
1. Điều hành giáo xứ
Giáo luật điều 129 nói: chỉ những người
có chức thánh mới là người lănh đạo thực
thụ trong Giáo Hội; giáo dân chỉ là người cộng
tác. Do đó, Hội Đồng Mục Vụ, dù được
thành lập đúng qui tắc theo luật định, vẫn
chỉ là những cộng sự viên của Cha Sở. Họ
tham gia vào công tác điều hành giáo xứ với tư cách
là cố vấn của Cha Sở. Do đó mọi quyết
định cuối cùng vẫn thuộc về Cha Sở, v́
ngài là người đại diện chính thức cho giáo xứ
xét về mặt pháp lư.[9]
Nhưng dù thế nào đi nữa th́ các thành viên của Hội
Đồng Mục Vụ giáo xứ cũng là những
người làm việc trực tiếp với Cha Sở và
những vị linh mục khác trong giáo xứ. Do vậy vị
trí của họ là nằm ở giữa thượng tầng
của giáo xứ là linh mục và hạ tầng của giáo
xứ là giáo dân. Trong một số giáo xứ Hội Đồng
Mục Vụ có một vai tṛ khá quan trọng trong việc
duy tŕ, định hướng và phát triển các sinh hoạt
của giáo xứ.
Thế nhưng một cách chung, tại các xứ đạo
ở Việt Nam, chúng ta thấy họ tham gia nhiều
hơn trong các công tác tổ chức trong giáo xứ, vận
động và thúc đẩy giáo dân tham gia các sinh hoạt của
giáo xứ. Cùng lắm họ cũng chỉ kiêm thêm một
vài công tác đối ngoại về mặt xă hội cũng
như giao tế với các giáo xứ khác. Thêm vào đó, công
tác thường xuyên của họ là lập sổ sách và quản
lư tài chánh của giáo xứ.
Để có thể thực hiện tốt công tác điều
hành giáo xứ, về mặt nhân sự trong Hội Đồng
Mục Vụ thường được phân chia theo ba cấp:
cấp giáo xứ, cấp giáo họ và cấp giáo khu, mỗi
vị có một bổn phận và trách nhiệm riêng. Tất
cả đều hoạt động theo nguyên tắc tập
quyền: trên hết là Cha Sở, sau đó là ban điều
hành của giáo xứ, giáo họ và giáo khu. Đây là một
cách tổ chức khá tốt, v́ chúng ta nên nhớ Hội
Đồng Mục Vụ chỉ có thể hoạt động
được khi gắn liền với giáo xứ và qui tụ
chung quanh Cha Sở.[10]
2. Cộng tác trong hoạt động
mục vụ
Một trong những công tác nổi bật của các Hội
Đồng Mục Vụ trong các xứ đạo ở Việt
Nam là cộng tác trong các hoạt động mục vụ.
Chính v́ thế mà điều Lệ Quới Chức (Hội
Đồng Mục Vụ) của giáo phận Vĩnh Long,
điều 4 và điều 7 đă tŕnh bày khái quát về
công tác của hội đồng này như sau: “BAN QUỚI
CHỨC được đặt thường xuyên dưới
sự hướng dẫn, cố vấn và điều khiển
của Cha sở, nhằm mục đích động viên tất
cả mọi người trong Họ đạo phát triển
không ngừng về các mặt: HỌC ĐẠO, SỐNG
ĐẠO và TRUYỀN ĐẠO… BAN QUỚI CHỨC có mục
đích tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động mục vụ trong họ đạo. Từ
đó, có hai nhiệm vụ: xem xét và nghiên cứu những
ǵ liên quan đến mục vụ; đánh giá cùng đề
xuất những vấn đề cần thực hiện
(GL 511).” [11]
Quả thế, khi nh́n vào lịch sử truyền giáo tại
Việt Nam, Hội Đồng Mục Vụ tại các xứ
đạo vẫn luôn thực thi công tác này, nhất là những
nơi chưa có Linh mục quản xứ. Để thấy
rơ hơn khía cạnh này, chúng ta hăy đọc những ḍng
mà Lm. Đỗ Quang Chính đă viết về những công
tác mà các Hội Đồng Mục Vụ đă làm trong thế
kỷ thứ 19. Lm. Đỗ Quang Chính viết:
“Khi không có Linh mục, chính Ông Trùm là người có trách
nhiệm đầu tiên trong việc triệu tập bổn
đạo đến nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện.
Ông Trùm sẽ chủ tọa các buổi đọc kinh, ông cũng
có thể uỷ nhiệm cho các ông Câu, ông Biện thay phiên
nhau phụ trách. Ông Trùm phải lănh trách nhiệm báo cáo với
Cha Sở các sinh hoạt trong Họ, nếu không có Cha Sở
phải báo cáo với Bề Trên địa phận.
“Nhưng Ban Chức Việc không phải chỉ lo về những
việc tôn giáo thuần tuư, mà c̣n phải lo tới những
việc bên lề tôn giáo. Do đó Ông Trùm phải triệu tập
Ban Chức Việc để thảo luận mọi việc
trong Họ, từ vấn đề tổ chức lễ lạy
cho đến việc tu bổ hay xây cất nhà thờ, hoặc
việc quyên góp tiền của bổn đạo cho công việc
Họ và chăm sóc ruộng vườn của nhà thờ.
“Cả đến những nố tranh tụng giữa bổn
đạo với nhau, Ban Chức Việc cũng t́m mọi
cách giải hoà, giống như Hội đồng Kỳ Mục
làng xă. Tất cả những việc trên phải được
báo cáo cho Cha Sở và tuân theo quyết định tối hậu
của vị này. Tuy bổn đạo phải tôn trọng
Ban Chức Việc, nhưng nếu Ban Chức Việc làm
ǵ không hợp t́nh hợp lư, có thể phản ánh lên Cha Sở,
hoặc Cha Bề Trên địa phận hoặc Giám Mục.
“Cũng nhờ Ban Chức Việc được tổ chức
khắp các Họ trong Giáo Hội Việt Nam xưa, nên dầu
vắng Linh mục, dầu gặp nhiều hoàn cảnh khó
khăn, nhất là vào thế kỷ 19, đức tin của
bổn đạo khá vững mạnh. Đàng khác Ban Chức
Việc là những người hoàn toàn sống như mọi
bổn đạo, am hiểu tục lệ địa
phương, sống chết với Họ Nhà Thờ, nên
hiểu biết rơ ràng những ǵ ḿnh phải làm tuỳ theo
hoàn cảnh cụ thể. Càng thiếu Linh mục th́ tỷ
lệ hoạt động của Ban Chức Việc càng
cao, có Linh mục th́ bổn đạo lại dựa nhiều
vào Linh mục.” [12]
Ngày nay, công tác này vẫn c̣n gắn liền với các thành
viên trong các Hội Đồng Mục Vụ, nhưng có phần
nhẹ nhàng hơn, v́ hầu hết các xứ đạo hiện
nay đă có Linh mục. V́ thế ngày nay, Hội Đồng
Mục Vụ thường chỉ làm những công tác mang
tính chuẩn bị, thúc đẩy cho các hoạt động
mục vụ.
Ngoài ra, ngày nay, các Hội Đồng Mục Vụ c̣n nắm
bắt t́nh h́nh trong xứ đạo về mọi mặt,
nhất là đời sống đức tin và phong hóa, phân
tích các hiện tượng rồi đệ tŕnh lên Cha Sở
để ngài thảo ra chương tŕnh huấn luyện
và giải pháp cụ thể cho những vấn đề
đó. Đồng thời, họ c̣n có trách nhiệm đôn
đốc, yểm trợ và thực hiện chương
tŕnh ấy. Bên cạnh đó, họ cũng luôn phối hợp
sinh hoạt các giới và hội đoàn trong giáo xứ. Tóm
lại, nhiệm vụ của Hội Đồng Mục Vụ
là cộng tác với Cha sở trong công việc mục vụ.
III. Một Vài Nhận Định
Chúng ta nhận thấy vai tṛ của Hội Đồng Mục
Vụ là cộng tác với Cha Sở, nhằm quản trị,
điều hành giáo xứ, chuẩn bị, tổ chức
và thúc đẩy các hoạt động mục vụ. Chính
v́ thế mà đ̣i hỏi các thành viên trong Hội Đồng
này, ngoài những tiêu chuẩn về đạo đức
và uy tín, phải có một ít kiến thức căn bản,
hay ít ra cũng phải có đôi chút kinh nghiệm về quản
lư, đồng thời cũng đ̣i hỏi họ cần
phải có một tŕnh độ giáo lư nào đó để
có thể làm việc hiệu quả.
Thế nhưng vấn đề này ở Việt Nam hiện
nay chưa được lưu ư mấy. Hầu hết
các giáo xứ chỉ bầu chọn các thành viên vào Hội
Đồng Mục Vụ chủ yếu dựa vào uy tín cá
nhân của họ, mà chưa để ư đến khả
năng của họ. Để bổ khuyết cho vấn
đề này, có lẽ tại các giáo xứ, hay ít ra là liên
giáo xứ (giáo hạt) nên tổ chức những khoá huấn
luyện cơ bản cho các thành viên của Hội Đồng
Mục Vụ. Đây chính là trách nhiệm của các linh mục
quản xứ. Các ngài nên lưu ư để tuyển chọn,
huấn luyện và đào tạo, để các thành viên
trong Hội Đồng Mục Vụ của ḿnh trở
thành những tông đồ giáo dân đích thực có tâm huyết
và hiệu quả.
Thứ đến, theo nguyên tắc chung được giáo
luật qui định th́ Hội Đồng Mục Vụ
chỉ có quyền tư vấn, nghĩa là Cha Sở không bó
buộc nghe theo ư kiến của họ. Tuy nhiên, khi tất
cả các thành viên trong Hội Đồng đều nhất
trí về một vấn đề, Cha Sở không nên đi
ngược lại nếu không có một lư do thật quan
trọng để làm như thế. Không nên coi họ chỉ
là những người thừa hành, hay thậm chí chỉ
là những người để cho các Linh mục sai bảo.
Các ngài nên kính trọng, thăng tiến, cũng như nâng
đỡ, khuyến khích họ cộng tác vào đời sống
và hoạt động của Giáo Hội, coi họ như
anh chị em, như con cái, như những cộng sự viên
đích thực của ḿnh.
Hăy nên học hỏi từ tinh thần của Sắc lệnh
về Tông Đồ Giáo Dân, số 10: “Giáo xứ là một
h́nh thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu,
v́ đó là nơi qui tụ đủ mọi hạng người
thành một cộng đoàn và đem họ vào tinh thần
đại đồng của Giáo hội. Giáo dân nên tập
thói quen cộng tác chặt chẽ với các linh mục của
ḿnh để hoạt động trong giáo xứ. Họ cũng
nên có thói quen tŕnh bày với cộng đoàn Giáo hội những
vấn đề riêng của ḿnh hay của cả thế
giới hoặc những vấn đề liên quan tới
phần rỗi mọi người để cùng nhau góp ư
kiến, nghiên cứu và giải quyết.”
Cuối cùng là chính các thành viên trong Hội Đồng Mục
Vụ cũng cần ư thức trách nhiệm của ḿnh
đối với giáo xứ và anh chị em khác trong giáo xứ.
Các chức vụ trong Hội Đồng là để phục
vụ, chứ không phải là để t́m kiếm địa
vị hay tư lợi. Chính v́ thế mà họ cần phải
ư thức để không yêu sách, phê b́nh hay chỉ trích để
gây phiền hà cho các giáo dân khác.
Kết Luận
Không ai có thể phủ nhận vai tṛ đóng góp tích cực
của các Hội Đồng Mục Vụ trong những hoạt
động hoạch định, định hướng
và phát triển các giáo xứ tại Việt Nam. Có thể
nói đây là một điểm son trong quá tŕnh rao giảng
Tin mừng từ trước tới nay tại Việt
Nam. Hơn nữa các chức vụ trong Hội Đồng
này chỉ là phục vụ không địa vị, không
lương bổng hay lợi lộc. V́ thế đ̣i hỏi
những thành viên phải hy sinh rất nhiều về thời
gian và công sức để phục vụ cho sự phát triển
chung của giáo xứ. Đó chính là những đóng góp mang
tính tông đồ của những giáo dân nhiệt thành.
Ước mong sao tinh thần phục vụ đáng quí này của
các Hội Đồng Mục Vụ được duy tŕ
và phát huy luôn măi, để các xứ đạo tại Việt
Nam luôn sinh động và thấm nhuần tinh thần của
Tin Mừng.
Chú thích:
[1] Giáo luật điều 536
[2] Truy cập tại Website: giaophanvinhlong.net
[3] Truy cập tại: www.gpnt.net
[4] ibidem.
[5] Truy cập tại website: giaophanvinhlong.net
[6] Xem GL 512 khoản 3.
[7] Tit 1,6-9.
[8] Xem GL 513.
[9] Xem GL 532.
[10] Xem huấn từ của Đức Giám Mục giáo phận
Đà Lạt ngày 12.01.2006, truy cập tại website:
simonhoadalat.com
[11] Truy cập tại website: giaophanvinhlong.net
[12] Truy cập tại www.gpnt.net
Liên Đoàn CGVNHK