TRUYỀN GIÁO
JB. Trần Hữu
Hạnh, fsf
MỤC LỤC
Bài 1: Nền tảng
Kinh thánh của sứ vụ
Bài 2: Nền tảng Thần
học của sứ vụ
Bài 3: Người giáo
dân thừa sai
Bài 4: Đối thoại
và Hội nhập văn hóa trong bối cảnh VN
CHỮ VIẾT TẮT
AA
Sắc lệnh về Tông
đồ Giáo dân
AG Sắc lệnh về
Truyền giáo
CD Sắc lệnh về
Chức vụ Giám mục
CL
Tông
huấn Christifideles Laici
DP
Văn kiện Đối
thoại và Rao truyền
DV
Hiến chế Tín lư về
Mạc khải của Thiên Chúa
EA
Tông huấn Giáo hội tại
Á Châu
EN
Tông huấn Loan báo Tin mừng
ES
Thông điệp Ecclesiam
Suam
GS
Hiến chế mục vụ
về Giáo hội trong thế giới hôm nay
LG Hiến chế Tín lư về
Hội thánh
NA
Tuyên ngôn về liên lạc của
GH với các tôn giáo ngoài Kitô giáo
RM Thông điệp Sứ
vụ Đấng Cứu Chuộc
VC Tông huấn về
Đời sống Thánh hiến
Bài 1
I.
CỰU ƯỚC
Để
cứu độ các dân tộc, trước tiên, Thiên Chúa chọn
dân tộc Israel làm dân riêng của Ngài, một dân được
thánh hiến cho Thiên Chúa (x. Xh 19, 3-6; Đnl 7, 6. Nhưng sự
chọn lựa này đă làm cho
Do
đó, trong Cựu ước, dân
Cũng
có những ngụ ư về sứ mệnh truyền giáo xuyên
qua văn hóa trong kinh nguyện của
Những
ám chỉ về ơn cứu độ hoàn vũ cũng
được t́m thấy trong sách Khôn ngoan: “Quân vô đạo
đáng phải thiếu ánh sáng, đáng bị giam cầm
trong cảnh tối tăm bởi chúng từng giam hăm con cái
Chúa, những người Chúa dùng mà ban cho thế gian ánh sáng
không hề tắt của lề luật.” (Kn 18, 4). Giao
ước của Thiên Chúa với Noê (x. St 8, 20 – 9, 17) là một
biểu tượng của giao ước của Thiên Chúa
đối với tất cả các quốc gia: “Đây Ta lập
giao ước của Ta với các ngươi, với ḍng
dơi các ngươi sau này.” (St 9, 9). Cầu vồng sẽ là
“dấu của giao ước Ta đă lập giữa Ta với
mọi xác phàm ở trên mặt đất.” (St 9, 17).[3]
Một
cái nh́n thoáng qua về ơn cứu độ hoàn vũ trong
thời cánh chung, thường nối kết với sự
quang lâm của Đấng Mêsia. Dân ngoại sẽ trẩy
đến nhà của Thiên Chúa để lắng nghe huấn
lệnh của Người: “Nước nước dập
d́u kéo nhau đi. Rằng: “Đến đây, ta cùng lên núi
Đức Chúa, lên nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để
Người dạy ta biết lối của Người,
và để ta bước theo đường Người
chỉ vẽ. V́ từ Xion, thánh luật ban xuống, từ
Giêrusalem, lời Đức Chúa phán truyền.” (Is 2, 3)
Nhưng những bản văn này c̣n tập trung vào
Chỉ
có ḿnh ngôn sứ Giona được sai đến Ninivê, một
thành phố của một quốc gia khác. Nhưng vị
ngôn sứ không loan báo ơn cứu độ cho dân ngoại,
mà lại loan báo về sự phán xét và trừng phạt. Kết
quả là mọi người trong thành phố đó đă ăn
năn hối cải và trở về với Thiên Chúa,
nhưng Giona lại phẫn uất về kết quả
đó (x. Gn 1—4). Do đó, đây không phải là ơn gọi
để mở ra hoạt động truyền giáo.[5]
Nhưng
Israel không phải là một dân thuần chủng, mà sống
xen lẫn với những người nô lệ Ai Cập,
những người hầu nghèo khổ của các tiểu
vương Canaan, những người nhập cư từ
phương đông, và trong sách Dân số 11, 4 c̣n nói về
“đám dân ô hợp” sống giữa Israel. Bởi vậy,
trong khi thần học hay tôn giáo có khuynh hướng tách ĺa
hay chống lại những người bên ngoài, hành động
cứu độ của Thiên Chúa đối với “đám
dân ô hợp” và pha trộn, hướng Israel đến chỗ
mở rộng và hoàn vũ.[6]
Khi chọn
Israel, Thiên Chúa có ư định đến với tất cả
các dân tộc, nhưng Israel không nhận ra rằng Ngài chọn
họ để đóng một vai tṛ quan trọng trong việc
dẫn dắt mọi dân tộc đến với Ngài. Tuy
vậy, có thể nói rằng lịch sử Israel là lịch
sử cứu độ và Israel trở thành biểu tượng
của công cuộc cứu độ hoàn vũ của Thiên
Chúa, v́ nó đă biểu lộ t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với tất cả các dân tộc.
Tóm lại,
trong Cựu ước, không có một lệnh truyền rơ
ràng về việc đem ơn cứu độ của
Thiên Chúa đến tận cùng trái đất. Nếu dân ngoại
có đến với Thiên Chúa, đó là v́ chính Thiên Chúa đă
đem họ đến với Ngài. Nhưng những ǵ mà Cựu
ước nói về hành động của Thiên Chúa, lời
hứa và giáo huấn của Ngài và về các dân tộc khác,
đă ảnh hưởng đến khái niệm về sứ
mệnh truyền giáo trong Tân ước.[7]
II.
TÂN ƯỚC
Tân
ước là một cuốn sách về sứ mệnh truyền
giáo. Loan báo Tin mừng, một định nghĩa của sứ
mệnh truyền giáo, thường được nói đến
trong rất nhiều bản văn của Tân ước: Lc
4, 18; Mc 16, 15; 13, 10; 14, 9; Rm 1, 1; 1, 16; 1Cr 1, 17, v.v. Chính ư
muốn cứu độ hoàn vũ của Thiên Chúa đă
thúc đẩy sứ mệnh này. Những dấu hiệu,
ngụ ư hay ám chỉ về ơn cứu độ hoàn vũ
trong Cựu ước, đă trở thành mối quan tâm rơ
ràng và ưu tiên hàng đầu của tất cả các cộng
đoàn trong Tân ước.[8]
1. Sứ
vụ của Chúa Giêsu
Chúa
Giêsu đă nhận được sứ mệnh từ Chúa
Cha khi Ngài đến trong thế gian (x. Ga 17, 18). Ngài là vị
trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người (x.
1Tm 2, 5). Cả khi bắt đầu sứ vụ công khai
(x. Mt 3, 16- 17) và khi bắt đầu cuộc khổ nạn
của Ngài (x. Mt 26, 42), Chúa Giêsu khẳng định dâng hiến
đời Ngài để thi hành sứ mệnh mà Chúa Cha trao
phó cho Ngài.[9]
a. Sứ
vụ của Chúa Giêsu: đến với tất cả con
cái nhà Israel
Chúa
Giêsu cảm thấy ḿnh đặc biệt được
gởi đến cho dân
Sứ
điệp của Ngài gắn liền với ư tưởng
về triều đại nước Thiên Chúa, một
vương quốc của t́nh yêu, hoà b́nh và công chính.
Được thánh hiến bởi Thần khí, Ngài đă thực
hiện những dấu lạ để tiêu diệt triều
đại của Satan. Ngài không định nghĩa về
triều đại nước Thiên Chúa, nhưng mô tả
nó trong những dụ ngôn và ẩn dụ (x. Mt 13; Mc 4).
Nước Thiên Chúa đang hiện diện nơi Ngài (Lc
17, 21; Cv 8, 12; 28, 31; Ep 5, 5; 2Pr 1, 11) và đang đợi chờ
tới ngày viên măn. Thật vậy, nước Thiên Chúa
đă đến và đang đến qua con người, lời
nói và hành động của Ngài. Ngài đă làm cho nước
Thiên Chúa hiện diện bằng cách biểu lộ Thiên Chúa
như là Cha qua lời nói và hành động của Ngài và bằng
cách mang lại sự giải thoát và ơn cứu độ
cho tất cả mọi người. Lời đáp trả
của Ngài đối với các môn đệ của Gioan tẩy
giả, liên quan đến việc quang lâm của Đấng
Mêsia và sự thiết lập triều đại nước
Thiên Chúa, đă “vang dội lại viễn tượng về
triều đại nước Thiên Chúa trong các Thánh vịnh
và các Ngôn sứ xưa: ‘Các anh cứ về thuật lại
cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe:
Người mù xem thấy, kẻ què được đi,
người cùi được sạch, kẻ điếc
được nghe, người chết sống lại, kẻ
nghèo được nghe Tin Mừng’ (Mt 11, 4- 5). Những dấu
hiệu này đă minh chứng rằng nước Thiên Chúa
đang hiện diện.”[11]
b. Sứ
vụ của Chúa Giêsu c̣n bao trùm tất cả các dân tộc[12]
Chúa
Giêsu không chỉ đến với những con chiên lạc
nhà
Thật
vậy, Chúa Giêsu đă đến với nhiều người
dân ngoại như người đàn bà gốc Phênixi xứ
Xyri (x. Mc 7, 24-30), ông đại đội trưởng ngoại
giáo (x. Mt 8, 5-13), người đàn bà Canaan (x. Mt 15, 21- 28),
người đàn bà Samari (x. Ga 4, 5- 42), một số
người Hy Lạp (x. Ga 12, 20- 36). Ngài cũng đến
phía bắc Palestin, bao gồm miền đất của dân
Ghêrasa (x. Mc 5 và Lc 8, 26- 56). Những phép lạ Ngài làm cho dân
ngoại đă chỉ ra rằng triều đại nước
Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động bên
ngoài dân được chọn.[14]
Thần
học Kinh thánh quan tâm một cách đặc biệt đến
sự “tập họp”. Tất cả các dân tộc
được tập họp vào ngày phán xét (x. Lc 11, 31-32). Kế
hoạch cứu độ của Thiên Chúa bắt nguồn
từ việc tạo dựng, được hoàn thành trong
mầu nhiệm vượt qua và đạt tới tầm
vóc viên măn vào ngày cánh chung khi tất cả nhân loại tập
họp cùng nhau (x. Mt 25). Chúa Giêsu loan báo một cách rơ ràng việc
dân ngoại bước vào nước Thiên Chúa: “Từ
phương đông, phương tây, nhiều người
sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ
Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái
Nước Trời th́ sẽ bị quăng ra chỗ tối
tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải
khóc lóc nghiến răng.” (Mt 8, 11-12; x. Lc 13, 18- 29; 11, 20- 24)
Những ai sẵn sàng đáp lại lời mời đều
sẽ được vào dự tiệc trong nước
Thiên Chúa (x. Lc 14, 21-24). Điều này cho thấy dân ngoại
được coi như ngang hàng với dân Israel và họ
chia sẻ trọn vẹn niềm vui trong nước Thiên
Chúa.[15]
Bên cạnh
đó, Chúa Giêsu thường quan tâm đặc biệt đến
dân ngoại. Ngài nh́n nhận những điều tốt
đẹp nơi họ. Ngài thường nghĩ về họ,
nói về họ và so sánh họ một cách ưu ái với
người Do thái (x. Mt 21,43; 8,10; 15, 21- 28; Mc 7, 24- 30). Chúa
Giêsu cũng đưa ra những điều kiện để
được vào nước Thiên Chúa: hăy sám hối và tin
vào Tin mừng (x. Mc 1, 15). Sứ điệp này không chỉ
dành riêng cho dân Israel.[16]
Thật
vậy, thánh Matthêu đă xác nhận rằng Chúa Giêsu đă
hoàn tất những ǵ mà tiên tri Isaia 42, 1-4 đă nói:
“Đây là người Tôi Trung Ta đă tuyển chọn,
đây là người Ta yêu dấu: Ta hài ḷng về Người.
Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ
loan báo công lư trước muôn dân. Người sẽ không căi
vă, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng
giữa phố phường. Cây lau bị giập, Người
không đành bẻ găy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt
đi, cho đến khi Người đưa công lư đến
toàn thắng, và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi
danh Người.” (Mt 12, 18-21)
Tin mừng
Gioan nói về vinh quang Thiên Chúa như là mục đích sau
cùng của sứ mệnh của Chúa Kitô. Cha và Con liên kết
trong việc biểu lộ vinh quang. Vinh quang Thiên Chúa chính là
nền tảng của sứ mệnh. Cái chết của
Chúa Giêsu không chỉ biểu lộ vinh quang Thiên Chúa, mà c̣n biểu
lộ một cách rơ ràng nhất t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với nhân loại. Sứ mệnh của Chúa Giêsu là cứu
độ thế giới và ban sự sống đời
đời cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài.
Trung tâm của sứ mệnh này là t́nh yêu của Thiên Chúa
dành cho nhân loại. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi
ban chính Con Một của Ngài (x. Ga 3, 16). Thật vậy,
Chúa Giêsu kêu gọi tất cả nhân loại (x. Mt 11, 28),
Ngài chết cho tất cả nhân loại (x. 2Cr 5, 15) và thánh
giá của Ngài lôi kéo tất cả nhân loại (x. Ga 12, 32).
Cuộc thương khó và cái chết của Ngài đă đạt
đến đỉnh điểm của việc tự hiến
cho nhân loại.[17]
Chúa
Giêsu đă hiểu rơ ràng sứ mệnh của Ngài trên trái
đất. Lúc lên mười hai tuổi, Ngài đă nói: “Con
phải làm công việc của Cha con” (Lc 2, 49); và lúc hấp
hối trên thập giá, Ngài đă thốt lên: “Mọi sự
đă hoàn tất.” (Ga 19, 30) Chúa Giêsu đă hoàn thành sứ mệnh
Chúa Cha trao phó.
Tân
ước đă minh chứng Chúa Giêsu là Đấng cứu
độ trần gian. Ngài là kiểu mẫu của sứ
mệnh truyền giáo. Sứ mệnh của Chúa Giêsu bao trùm
toàn bộ Tân ước và qua đó nối kết tất cả
những sách trong Tân ước lại với nhau. Tách khỏi
sự hướng dẫn này, chúng ta không thể hiểu
được toàn bộ Tân ước hay bất cứ một
cuốn sách nào của nó.[18]
2. Sứ
mệnh truyền giáo của cộng đoàn Kitô hữu tiên
khởi
Chúa
Giêsu gọi các môn đệ để ở với Ngài và
chia sẻ sứ mệnh của Ngài. Bởi đó, bước
theo Chúa Giêsu và chia sẻ sứ mệnh của Ngài luôn gắn
liền với nhau. Sứ mệnh của Giáo hội
được nối kết với sứ mệnh của
Chúa Giêsu: “Như Cha đă sai con đến thế gian, th́
con cũng sai họ đến thế gian.” (Ga 17, 18) Và
“như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20,
21).
Chúa
Giêsu đă thiết lập Giáo hội và ủy thác cho Giáo hội
nhiệm vụ loan báo Tin mừng (x. Mt 28, 19-20; Mc 16, 15-
16; Lc 24, 46-48; Ga 17,18; 20, 21; Cv 1, 8).
Mệnh lệnh này đă trở thành sứ mệnh chính yếu
của Giáo hội. Giáo hội không hiện hữu v́ ḿnh,
nhưng hiện hữu cho nhân loại và với nhân loại.
Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, trong sự vâng lời
Chúa Giêsu và dưới sự hướng dẫn của
Thánh Thần, đă nhiệt tâm rao giảng Tin mừng và sẵn
sàng hy sinh mạng sống ḿnh, để làm chứng cho
ơn cứu độ mà Chúa Giêsu đă thực hiện qua
cái chết và sự phục sinh của Ngài (x. Cv 2, 37-40; 1Cr
9, 16). V́ thế, sứ mệnh của các tông đồ có
cùng một đặc tính như sứ mệnh của Chúa
Kitô.[19]
Đối
với cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, kinh nghiệm
phục sinh là trung tâm của sứ mệnh của họ.
Tin mừng được viết ra từ kinh nghiệm
này. Biến cố phục sinh và hiện xuống đă biểu
lộ cho cộng đoàn tiên khởi căn tính của Chúa
Giêsu như là Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Mêsia, Chúa tể
hoàn vũ. Toàn bộ lệnh truyền của Chúa Giêsu về
sứ mệnh truyền giáo được ghi lại trong
những bản văn sau biến cố phục sinh:
Mt 28, 18-20; Mc 16, 15-18; Lc 24, 46-49; Cv 1, 8; Ga 17, 18; 20, 21- 23. Sứ
mệnh truyền giáo của các môn đệ chủ yếu
bắt đầu vào ngày lễ Hiện xuống, khi thánh
Phêrô làm chứng cho sự phục sinh của Chúa Kitô (x. Cv
2, 17- 34). Chúa Thánh Thần đă khai ḷng, mở trí cho họ
và thúc đẩy họ trở thành những nhân chứng
cho Chúa Kitô phục sinh (x. Cv 1, 8).
Đời
sống, lời giảng dạy, hành động, cái chết
và sự phục sinh của Chúa Kitô trở thành chất xúc
tác cho mọi hoạt động truyền giáo của cộng
đoàn tiên khởi và cấu tạo nên sứ điệp
căn bản của nó. Chúa Kitô đă xây dựng nền tảng
của sứ mệnh truyền giáo cho dân ngoại. Ngài là
vinh quang của Israel và là ánh sáng chiếu soi muôn dân.
Sau khi
Chúa về trời, các Kitô hữu không đi ra khỏi
Giêrusalem. Giêrusalem được xem như là trung tâm của
cộng đoàn mới. Các Kitô hữu vẫn lui tới
đền thờ theo thông lệ. Cộng đoàn tụ họp
ở Giêrusalem để được Chúa Kitô phục sinh
tiếp tục dạy dỗ về nước Thiên Chúa và
chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống (x. Cv 1,
3-5). Sách Công vụ Tông đồ đă mô tả các hoạt
động sống động của cộng đoàn này.
Nó gồm ba phần: phần thứ nhất nói về sự
phát triển của Giáo hội tại Giêrusalem và việc
đón nhận quyền lực từ Thánh Thần; phần
thứ hai tŕnh bày việc mở rộng Giáo hội tới
Samari, các vùng ven biển và Antiôkia; phần thứ ba cho thấy
hoạt động truyền giáo được mở rộng
ra nhiều hướng, đặc biệt là các cuộc
hành tŕnh của thánh Phaolô.
Thật
vậy, vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các Kitô hữu
đang tụ họp ở Giêrusalem, Thánh Thần đă
đổ tràn ơn xuống trên họ. Được
hướng dẫn bởi Thần khí, Hội thánh lan tỏa
tới Giuđêa và Samari (x. Cv 8, 4—9, 31), tới các dân ngoại
và công đồng Giêrusalem (x. Cv 9, 32 — 15, 35), cuộc hành
tŕnh thứ hai và thứ ba của thánh Phaolô (x. Cv 15, 36—21,
14) và cuộc hành tŕnh của thánh Phaolô tới Rôma (x. Cv 27, 1
— 28, 31). Sứ mệnh của họ mang tính hoàn vũ,
hướng đến tất cả các dân tộc (x. Mt 28,
18) và tới tận cùng trái đất (x. Cv 1, 8). Tận cùng
trái đất, hiểu theo các tông đồ là Rôma, v́ nó
được coi là trung tâm thế giới lúc đó.
Thánh
Phaolô đă nhận ra sứ mệnh đặc biệt của
ngài. Ngài được kêu gọi để trở thành vị
tông đồ của dân ngoại: “Nhờ Người,
chúng tôi đă nhận được đặc ân và chức
vụ Tông Đồ, làm cho hết thảy các dân ngoại
vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được
rạng rỡ.” (Rm 1, 5; x. Gl 1, 15-16; 2, 7-8)
Nước
Thiên Chúa cũng là nội dung sứ điệp của các
tông đồ (x. Cv 1, 3). Nhận được quyền
năng của Thánh Thần, các tông đồ đă mạnh
dạn làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh. Đó là quyền
lực để chữa lành hoặc thực hiện các
điềm thiêng dấu lạ (x. Lc 5, 17; 6, 9; 8, 46; Cv
3, 12; 4, 7; 6, 8), đề loan báo Lời với niềm xác
tín (x. Cv 4, 8. 29. 31). Làm chứng là căn tính và là chức
năng của sứ mệnh của họ.
Cộng
đoàn Kitô hữu tiên khởi bị thúc bách phải thi hành
sứ mệnh, như Chúa Giêsu đă nói: “Chúng ta phải thực
hiện công tŕnh của Đấng đă sai Thầy, khi trời
c̣n sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc
được.” (Ga 9, 4). Thánh Phaolô đă ư thức sâu xa
được điều đó khi ngài nói: “Nhưng mạng
sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá ǵ, miễn sao
tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức
vụ tôi đă nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng
cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.” (Cv 20, 24)
Lệnh
truyền đem ơn cứu độ đến cho tất
cả các dân tộc chỉ được t́m thấy trong
Tân ước. Chúa Giêsu và sứ mệnh của Ngài là
nơi qui chiếu và quyết định cho tính cách cũng
như tính cấp bách của sứ mệnh của cộng
đoàn Kitô hữu tiên khởi. Các tông đồ đă nói:
“Phần chúng tôi, những ǵ tai đă nghe, mắt đă thấy,
chúng tôi không thể không nói ra.” (Cv 4, 20) Đối với
thánh Phaolô: “T́nh yêu Chúa Kitô thôi thúc chúng tôi.” (2Cr 5, 14) Thật
vậy, đối với những người yêu mến
Chúa Kitô, việc nói về Ngài là một niềm vui và là một
đặc ân. Đó là một kinh nghiệm hết sức
phấn chấn.[20]
Các tông đồ luôn ư thức về việc rao giảng của
họ, bởi v́: “Tất cả những ai kêu cầu danh
Đức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế
nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin?
Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe?
Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng,
nếu không được sai đi?” (Rm 10, 13-15) Thánh Phaolô
gọi chúng ta là những cộng tác viên của Chúa (x. 2Cr 6,
1), là sứ giả thay mặt Chúa Kitô, những người
nói thay chính Chúa Giêsu (x. 2Cr 5, 20).
III.
NGUỒN GỐC BA NGÔI CỦA SỨ VỤ
Sứ
mệnh truyền giáo là công tŕnh của chính Thiên Chúa Ba Ngôi (missio
Dei). Đó là t́nh yêu mà Thiên Chúa Cha biểu lộ cho nhân loại.
V́ yêu, ngôi Cha đă tạo dựng nhân loại; rồi khi
nhân loại sa ngă, ngôi Con đă ra tay cứu chuộc và ngôi
Ba đă thánh hoá nhân loại. Do đó, sứ mệnh truyền
giáo của Giáo hội bắt nguồn từ sứ mệnh
của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ư định của
Thiên Chúa Cha (x. AG 2). Đó là sự tham gia và tiếp tục
sứ mệnh của Chúa Giêsu cho đến ngày tận thế.
1. Ư
định cứu độ của Chúa Cha
Thiên
Chúa là Cha đầy ḷng xót thương, đă tạo dựng
nên chúng ta và mời gọi chúng ta chia sẻ sự sống
và vinh quang với Ngài. Ngài c̣n không ngừng đổ tràn
ḷng nhân từ xuống trên chúng ta đến độ trở
nên “mọi sự trong mọi người” (1Cr 15, 28), để
làm vinh danh Ngài và mưu cầu hạnh phúc cho chúng ta (x. AG
2). Thật vậy, sứ mệnh bắt nguồn từ
Thiên Chúa Cha và hành động đầu tiên của sứ mệnh
này là chính sự tạo dựng. Chúa Con và Chúa Thánh Thần
được sai đến thế gian để làm chứng
cho t́nh yêu cứu độ của Chúa Cha: Lời và Thần
khí đă hiện diện ngay khi sáng tạo để diễn
tả kế hoạch của Thiên Chúa, nhằm mục
đích ḥa giải và hợp nhất muôn loài. Nếu Thiên
Chúa đă phán dạy con người bằng nhiều lần
nhiều cách qua các ngôn sứ (x. Dt 1, 1), th́ đó chính là một
phần kế hoạch của Ngài cho nhân loại. Do đó,
toàn bộ lịch sử của nhân loại trở thành lịch
sử cứu độ.[21]
Thiên
Chúa Cha đứng tại trung tâm của sứ mệnh.
Ngài là Thiên Chúa của sứ mệnh. Sứ mệnh là một
nguồn suối từ Thiên Chúa chảy đến nhân loại.
Sứ mệnh này mang tính hoàn vũ. Nó bao trùm tất cả.
Tất cả đều được Thiên Chúa yêu
thương, quan pḥng. Hoạt động truyền giáo
chính là biểu lộ ư muốn của Thiên Chúa. Ngài là nguồn
suối t́nh yêu và ư muốn của Ngài là cứu độ tất
cả nhân loại.[22]
Ngài là Thiên Chúa của dân Israel và của dân ngoại (x. Rm 3,
29).
Chúa Cha
đă sai Con Một của Ngài đến thế gian làm
Đấng cứu độ (x. 1Ga 4, 14) và ban tặng cho thế
gian chính Con Một của Ngài. Ngài nắm trong tay mọi quyền
lực và quyết định công việc và sứ điệp
của Người được sai đi.[23]
Việc thâu tóm mọi sự trong Chúa Kitô là ư định tối
hậu của Thiên Chúa Cha (x. Ep 1, 10).
2.
Chúa Giêsu, Sứ giả của Chúa Cha
Ư định
cứu độ trong Chúa Kitô đă có trước khi tạo
dựng vũ trụ (x. Ep 1, 3- 10). Chúa Giêsu là Lời từ
nguyên thủy (x. Ga 1,1), là A-đam mới (x. 1Cr 15, 22, 45-49),
là “ánh sáng đă đến trong thế gian, ánh sáng thật
chiếu soi mọi người” (Ga 1, 9), là Đấng trung
gian cứu độ duy nhất giữa Thiên Chúa và loài
người (x. 1Tm 2, 5). “Ngoài Ngài ra, không ai đem lại
ơn cứu độ; v́ dưới gầm trời này,
không có một danh nào khác đă được ban cho nhân loại,
để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được
cứu độ.” (Cv 4, 12) Bởi đó, không ai đến
được với Chúa Cha mà không qua Ngài (x. Ga 14, 6). Trong
Chúa Giêsu, “muôn vật được tạo thành trên trời
cùng dưới đất, hữu h́nh với vô h́nh. Dẫu
là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền
năng thượng giới, tất cả đều do
Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.”
(Cl 1, 16). Ngài đă được Chúa Cha đặt “đứng
hàng đầu trong mọi sự.” (Cl 1, 18) Ngài là “ánh sáng soi
đường cho dân ngoại.” (Lc 2, 32)
Thiên
Chúa bước vào lịch sử nhân loại qua việc Nhập
thể của Chúa Giêsu. Trong Chúa Giêsu, “Thiên Chúa đă muốn
làm cho tất cả sự viên măn hiện diện ở
nơi Người.” (Cl 1, 19). Chúa Giêsu chính là Tin mừng của
Thiên Chúa (x. Mc 1, 1; Rm 1, 1-3), là sứ giả đầu
tiên và vĩ đại nhất của Tin mừng (x. EN 7).
Ngài là trung tâm của kế hoạch cứu độ của
Chúa Cha. Ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ, Ngài
đă khẳng định sứ mệnh của Ngài là loan
báo Tin mừng theo lệnh truyền của Chúa Cha: “Thần
Khí Chúa ngự trên tôi, v́ Chúa đă xức dầu tấn
phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đă sai tôi đi công bố cho kẻ bị
giam cầm biết họ được tha, cho người
mù biết họ được sáng mắt, trả lại
tự do cho người bị áp bức, công bố một
năm hồng ân của Chúa.” (Lc 4, 18; x. Is 61, 1)
Chúa
Giêsu luôn sống trong mối quan hệ mật thiết với
Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngài được sai đi bởi
Chúa Cha. Đây là nền tảng cho các đề tài liên hệ
tới sứ mệnh trong Tin mừng Gioan. Ngài được
sai đi bởi Chúa Cha để thực hiện kế hoạch
cứu độ thế giới (x. Ga 3, 17; 5, 30; 8, 16), nhận
được quyền năng từ Chúa Cha để hoàn
thành sứ mệnh của Ngài (x. Ga 5, 20-21; Mt 28, 18). Ngài
đến từ Chúa Cha, ở lại trong Chúa Cha (x. Ga 10,
38; 16, 32) và sau cùng trở về với Chúa Cha (x. Ga 16, 5; 7,
33; 13, 36).
Chúa
Giêsu đă khẳng định những ǵ Ngài nói và những
ǵ Ngài giảng dạy đều xuất phát từ Chúa Cha,
Đấng sai Ngài (x. Ga 12, 49; 7, 16). Ngài luôn thực thi ư muốn
của Đấng đă sai Ngài (x. Ga 6, 38). Chúa Giêsu đến
để biểu lộ t́nh yêu của Chúa Cha cho chúng ta và
biểu lộ t́nh yêu của Ngài đối với Chúa Cha.
Thánh Gioan đă tŕnh bày mục đích của sứ mệnh
này: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế
gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là
để thế gian, nhờ Con của Người, mà
được cứu độ.” (Ga 3, 17) Thật vậy,
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một,
để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải
chết, nhưng được sống muôn đời.”
(Ga 3, 16)
Công việc
cứu độ thế giới của Thiên Chúa đă
được hoàn tất nơi Chúa Giêsu qua cái chết và sự
phục sinh của Ngài. Nhờ Ngài mà muôn vật được
tha thứ và hoà giải với Thiên Chúa. “Nhờ máu Người
đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đă đem lại
b́nh an cho mọi loài dưới đất và muôn vật
trên trời.” (Cl 1, 20) Cái chết của Ngài là để
“quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về
một mối” (Ga 11, 53), và “một khi được
giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo
mọi người lên với tôi.” (Ga 12, 32) Chúa Giêsu đă
hoàn thành kế hoạch cứu độ của Chúa Cha trên
thập giá, khi Ngài tuyên bố: “Mọi sự đă hoàn tất.”
(Ga 19, 30)
Trong
Chúa Kitô phục sinh, con người khám phá ra ư nghĩa đời
sống của ḿnh và mục đích của việc tạo
dựng. Thật vậy, Chúa Giêsu là sự diễn tả
sau cùng và hoàn hảo nhất t́nh yêu của Chúa Cha đối
với nhân loại và sứ mệnh của Ngài chính là sự
biểu lộ t́nh yêu đó. Ngài luôn sống trong sự hiện
diện của Chúa Cha và hiến trọn đời Ngài cho
sứ mệnh mà Chúa Cha đă trao phó (x. Lc 2, 49). Toàn bộ
đời sống Ngài là sự loan báo. Trong mọi việc,
Ngài luôn trung thành với ư muốn của Chúa Cha. Về
cơ bản, sứ mệnh của Chúa Giêsu là sứ mệnh
được thi hành trong ánh sáng của Chúa Ba Ngôi, trong sự
hiện diện mầu nhiệm và hoạt động cùng
nhau giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.[24]
3.
Sứ vụ của Chúa Thánh Thần
Tính phổ
quát của hoạt động cứu độ của
Chúa Giêsu sẽ không thể nào hiểu được nếu
không có hoạt động phổ quát của Chúa Thánh Thần.
Trong Cựu ước, hoạt động phổ quát của
Chúa Thánh Thần đă tỏ ra ngay khi tạo dựng (St 1,
2). “Thần khí của Đức Chúa ngập tràn cơi đất,
bảo toàn mối hiệp nhất giữa muôn vật muôn
loài, thấu hiểu hết mọi lời mọi tiếng.”
(Kn 1, 7) Các vua, thẩm phán, ngôn sứ đều nhận
được sự trợ giúp của Thần khí để
thi hành công việc của họ. Họ hoàn thành sứ mệnh
Thiên Chúa trao ban trong quyền năng của Thánh Thần.
Chúng ta có thể t́m thấy hoạt động của Thần
khí trong St 41, 38-39; Đn 4, 15; Is 32, 15; 44, 3; ngôn sứ:
Đnl 18, 15-19; Ds 11, 24-25; 1Sm 19, 20tt; Am 3, 8; Gr 20, 7-19; quyền
năng và sự khôn ngoan: Tl 6, 33-35; 11, 28-29; 13, 24-25; 1V 5,
9-10; Isaia nói về đặc sủng của đấng
Mê-si-a: 11, 1-2; 42, 1; 61, 1-3 và Ge 3, 12; những ân huệ
được hứa ban cho thời đại của
đấng Mê-si-a: Đnl 28, 49; Is 28, 11tt; Ge 3, 1.
Trong Tân
ước, Chúa Thánh Thần ban đặc sủng cho mỗi
người v́ lợi ích chung. Ơn của Thần Khí hết
sức quan trọng trong đời sống tâm linh của
người Kitô hữu, bởi v́ “không ai có thể nói Chúa
Giêsu là Chúa mà không ở trong Thần Khí” (1Cor 12, 3). Giao ước
mới là Giao ước của Thánh Thần (x. 2Cr 3, 6).
Chính Chúa Giêsu đă nhận Thần khí để bắt
đầu sứ vụ công khai của Ngài (x. Lc 4, 18-19; Is
61, 1- 2). Việc Nhập thể của Chúa Giêsu cũng là do
tác động của Chúa Thánh Thần trong ḷng Trinh nữ
Maria (x. Lc 1, 35). Sự phục sinh của Ngài cũng do sự
can thiệp của Chúa Thánh Thần (x. Rm 1, 4; 8, 11). Chúa Giêsu
lại ban Thần khí cho các môn đệ để họ
làm chứng cho Ngài (x. Cv 1, 8).
Chúa
Giêsu nói về mối liên hệ của Chúa Thánh Thần với
Ngài và với Chúa Cha: “Thầy c̣n nhiều điều phải
nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu
nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người
sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.
Người sẽ không tự ḿnh nói điều ǵ,
nhưng tất cả những ǵ Người nghe, Người
sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều
sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy,
v́ Người sẽ lấy những ǵ của Thầy mà
loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của
Thầy. V́ thế, Thầy đă nói: Người lấy những
ǵ của Thầy mà loan báo cho anh em.” (Ga 16, 12-15) Thật vậy,
Chúa Thánh Thần không tự ḿnh nói ra điều ǵ, nhưng
truyền lại và cắt nghĩa cho chúng ta những ǵ Chúa
Giêsu đă dạy.
Khi sai
các môn đệ, Chúa Giêsu đă nói: “Như Chúa Cha đă sai
Thầy, th́ Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi
Thần khí vào họ (x. Ga 20, 21-22), khiến họ và Thần
khí trở thành như một để cùng làm chứng cho
Chúa Kitô (x. Ga 15, 26- 27; Cv 1, 8). Chúa Thánh Thần, Đấng
được sai đến bởi Chúa Cha và Chúa Con, để
thực hiện công cuộc cứu độ thế giới
cho tới khi hoàn tất, luôn hiện diện trong mỗi
người. Ngài thâu tóm tất cả chúng ta lại trong
Chúa Kitô.
Tóm tại,
sứ vụ là công việc của Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa
đang hoạt động trong thế giới và Ngài muốn
chúng ta tham gia với Ngài. Sứ vụ của Giáo hội bắt
nguồn từ sứ vụ của Chúa Con và của Chúa
Thánh Thần, theo kế hoạch cứu độ của
Chúa Cha (x. AG 2). Sứ vụ của Giáo hội là cộng
tác và tiếp tục sứ vụ ấy, theo mẫu
gương của Chúa Kitô, Đấng đă hiến ḿnh
làm giá cứu chuộc cho muôn người.
Bài 2
Sứ
mệnh mà Chúa Giêsu đă thể hiện nơi trần gian
cũng là sứ mệnh của mỗi người chúng ta,
v́ chúng ta là Thân Thể của Ngài. Những ǵ Ngài đă thể
hiện trong thân xác Ngài, ngày nay chúng ta tiếp nối như
Thân Thể linh thiêng của Ngài là Giáo hội. Ngài muốn cứu
độ con người thoát ách tội lỗi và ḥa giải
họ với Thiên Chúa. Ngài đă biến đổi chúng ta
từ thù nghịch, trở thành bạn hữu của Ngài
và giao cho chúng ta nhiệm vụ đem tất cả mọi
người cũng trở thành bạn hữu của Ngài
(x. 2Cr 5, 18).
I. SỨ
VỤ CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC VATICAN II
Nói
chung, trước công đồng Vatican II, sứ mệnh
truyền giáo của Giáo hội được xem như là
việc rao giảng Tin mừng cho những người
chưa biết Chúa để cứu họ và “vun trồng”
Giáo hội. Sự thành công của sứ mệnh được
đo lường bằng con số của những người
trở lại đạo, v́ chỉ như vậy họ mới
được rỗi linh hồn và Giáo hội mới
được mở rộng. Do đó, thần học về
sứ mệnh đă được xây dựng dựa trên
châm ngôn: “Ngoài Giáo hội, không có ơn cứu độ.”[25]
Toàn bộ
thế giới được phân chia thành hai nhóm: những
người nắm được các phương tiện
cứu độ và những người không có những
phương tiện đó. Hay nói cách khác, những người
ở trong Giáo hội và những người ngoài Giáo hội.
Giáo hội đối nghịch lại với thế giới
như là sự thánh thiêng đối với thế tục.
Giáo hội có khuynh hướng đồng hóa ḿnh với
nước Thiên Chúa. Tất cả những điều này
đă dẫn đến hậu quả là thái độ
khinh thường các tôn giáo, các lễ nghi và các nền
văn hóa khác.[26]
Đối với giai đoạn trước công đồng
Vatican II, nhiều người đă nhận xét rằng Chúa
Giêsu loan báo về triều đại nước Thiên Chúa,
Giáo hội nguyên thủy rao giảng về Chúa Kitô; nhưng
sau đó, Giáo hội loan báo về chính ḿnh.
Mặc
dù đă có những nỗ lực chống lại việc
áp đặt văn minh tây phương lên các xứ truyền
giáo, các nhà truyền giáo tây phương đă cứ cố
lấy các giá trị của văn minh nước họ mà
thay thế các giá trị của những nền văn hóa bản
địa. Và điều tất yếu đă xảy ra là
phong trào truyền giáo từ đông sang tây, từ bắc tới
nam được tiến hành song song với các phong trào xâm
chiếm thuộc địa. Họ đă “vun trồng” Giáo
hội theo “nền văn minh Kitô giáo” trong tất cả các
lănh vực tôn giáo, văn hóa và xă hội. V́ vậy, ngày nay,
nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia ở Châu Á,
coi Giáo hội như là một sự nhắc nhớ tới
chủ nghĩa thực dân trong quá khứ.[27]
Nói lên
những điều này không phải là để chối bỏ
những thành tựu to lớn mà biết bao nhà truyền
giáo nhiệt thành, thậm chí có nhiều người đă
hy sinh cả tính mạng ḿnh cho sứ vụ loan báo Tin mừng,
nhưng là để chúng ta thấy được những
thách đố mà Giáo hội đang gặp phải cũng
như rút ra được những bài học qúi báu cho công
việc truyền giáo trong thiên niên kỷ mới này.
II. SỨ
VỤ CỦA GIÁO HỘI TỪ VATICAN II
1.
Vatican II
Từ
công đồng Vatican II, Giáo hội đă thoát ra khỏi cái
nghĩa hạn hẹp về sứ mệnh truyền giáo.
Sứ mệnh của Giáo hội được hiểu
theo nghĩa là sự tham gia và tiếp nối sứ vụ
của Ba Ngôi. Nó đâm rễ sâu vào tận trong Thiên Chúa Ba
Ngôi: “Tự chính bản chất của ḿnh, Giáo hội lữ
hành là truyền giáo; v́ theo kế hoạch cứu độ
của Thiên Chúa Cha, Giáo hội bắt nguồn từ sứ
vụ của Chúa Con và của Chúa Thánh Linh.” (AG 2) T́nh yêu của
Chúa Cha, sứ vụ của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần
h́nh thành, hướng dẫn và thúc đẩy tất cả
các hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Vậy
th́, tác giả và tác nhân chính của sứ mệnh truyền
giáo không phải là Giáo hội, nhưng là chính Thiên Chúa Ba Ngôi
(Missio Dei); sứ vụ không thể quan niệm chỉ
như là một hoạt động thuần túy của Giáo
hội, do Giáo hội và cho Giáo hội, nhưng trước
tiên là hành động của chính Thiên Chúa Ba Ngôi. Sứ vụ
của Giáo hội không chỉ đơn thuần bắt
nguồn từ lệnh truyền của Đức Giêsu, mà
hơn nữa, là từ Missio Dei. Qua đó, Thiên Chúa Cha
sai Con Ḿnh và Thần khí đến trong thế gian hầu
làm cho nhân loại được tham dự vào trong sự sống
của Ba Ngôi. Một khi đă ư thức như thế, th́
không c̣n có thể chỉ coi sứ vụ như là hoạt
động nhằm làm cho con số thành viên của Giáo hội
tăng thêm, và bứng chuyển những cơ cấu giáo hội
sẵn có để đem đặt vào các vùng đất
của dân ngoại, hoặc là đồng hóa sứ mạng
truyền giáo với sứ mạng văn minh hóa; nhưng
là phải đi theo mẫu gương của sứ giả
Tin Mừng đầu tiên, tức Đức Kitô và Thần Khí
của Người.
Nếu
sứ mệnh của Giáo hội đă được khai
sinh từ sứ vụ của Ba Ngôi, th́ toàn thể Giáo hội
phải là truyền giáo, và như thế là do tự bản
chất. Không truyền giáo, Giáo hội không c̣n ư nghĩa. Do
đó, mọi Kitô hữu đều có bổn phận phải
truyền giáo tùy theo khả năng của ḿnh (x. LG 17). AG số
10-18 mô tả hoạt động truyền giáo của Giáo hội
như là làm chứng, loan báo, tập họp dân Thiên Chúa và
xây dựng cộng đoàn Kitô hữu. Sứ mệnh của
Giáo hội là rao truyền và thiết lập giữa các dân
tộc triều đại nước Thiên Chúa, và Giáo hội
là hạt giống, là sự khởi đầu của triều
đại ấy trên trần gian, là dấu chỉ và khí cụ
của sự kết hợp mật thiết với Thiên
Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.
Công đồng cũng phân biệt triều đại
nước Thiên Chúa trong lịch sử và sự viên măn của
nó vào thời cánh chung (x. LG 1, 5, 9). Thật vậy, triều
đại nước Thiên Chúa tuy đă bắt đầu
trong lịch sử, nhưng vẫn c̣n trong giai đoạn
h́nh thành để đi tới viên măn (x. Mt 26, 29; Mc 14, 25;
Lc 11, 20; 22, 19). Giáo hội vừa là h́nh ảnh, vừa là
phương tiện để h́nh thành nó. Do đó, Giáo hội
không hiện hữu v́ ḿnh, mà v́ nhân loại và cho nhân loại.
Giáo hội chia sẻ cùng một định mệnh với
thế giới.
Công
đồng cũng nh́n nhận vai tṛ tích cực của các
tôn giáo và các nền văn hóa trong kế hoạch cứu
độ của Thiên Chúa. Ơn cứu độ có thể
đến với những ai không thuộc về Giáo hội
theo h́nh thức thấy được bên ngoài (x. LG 16; GS
22). Thật vậy, Lời và Thần khí không chỉ hoạt
động trong trái tim con người, mà c̣n trong các tôn giáo
và các truyền thống văn hóa nữa.[28]
Công đồng đă thấy nơi chúng những điều
chân thiện; những chân lư và ân sủng; những hạt
giống Lời Chúa; những truyền thống khổ hạnh
và chiêm niệm; những phương thức hành động
và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết,
tuy có nhiều điểm khác với Giáo hội, cũng
thường đem lại ánh sáng của chân lư. Giáo hội
bảo tồn các yếu tố tôn giáo và nhân bản qúi giá
trong các truyền thống riêng. Những ǵ là thiện hảo
trong tâm hồn và tư tưởng của loài người,
hoặc trong nghi lễ và văn hóa riêng của các dân tộc,
hoạt động của Giáo hội không nhằm tiêu diệt
chúng, nhưng lành mạnh hóa, nâng cao và hoàn thành chúng, tháp nhập
chúng vào Thân thể Chúa Kitô, để Thiên Chúa được
tôn vinh, ma qủi bị xấu hổ và con người
được hạnh phúc (x. LG 16, 17; GS 92; AG 9, 11, 15, 18; NA
2). Những nh́n nhận này cho thấy rằng Giáo hội phải
không ngừng đối thoại với các tôn giáo, với
những truyền thống văn hóa. Giáo hội được
kêu gọi để khám phá ra những hạt giống của
Lời đang ẩn tàng nơi họ. Đối thoại
phải là mối quan tâm chính của Giáo hội, nhờ
đó Giáo hội nhận thức sâu xa hơn về sự
hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần
nơi những truyền thống văn hóa và những
người tin của các tôn giáo khác. Bởi v́ Chúa Thánh Thần
hoạt động nơi trần gian trước khi Chúa
Kitô được vinh quang (x. AG 4). Sau khi đă nh́n nhận
trong các tôn giáo khác có tia sáng của chân lư chiếu soi mọi
người, công đồng khẳng định sự cần
thiết phải loan báo Chúa Kitô: “Tuy nhiên Giáo hội rao giảng
và có bổn phận phải rao giảng Chúa Kitô, Đấng
‘là đường, là sự thật và là sự sống’
(Ga 14, 6), nơi Người, con người t́m được
sự viên măn của đời sống tôn giáo và nhờ
Người, Thiên Chúa giao hoà mọi sự với ḿnh.” (NA
2)
Chúa Kitô
và Thần khí của Ngài đều đang hoạt động
nơi trần thế: “Tất cả những ai có thiện
chí được ơn thánh hoạt động một
cách vô h́nh trong tâm hồn. Thật vậy, v́ Chúa Kitô đă chết
cho mọi người và v́ ơn gọi cuối cùng của
con người thực ra là duy nhất, nghĩa là do Thiên
Chúa, cho nên ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban
cho mọi người khả năng tham dự vào mầu
nhiệm phục sinh ấy, cách nào đó chỉ có Chúa mới
biết thôi.” (GS 22) Chính Chúa Thánh Thần kêu gọi mọi
người đến với Chúa Kitô và thúc đẩy tâm
hồn họ vâng phục đức tin nhờ hạt giống
Lời Chúa và việc rao giảng Tin mừng (x. AG 15).
Công
đồng đă xây dựng một nền thần học
về Chúa Thánh Thần mà từ lâu Giáo hội hầu
như đă lăng quên. LG 4, 19, 48; GS 22; AG 4, 15; DV 11; v.v. đă
nói lên vai tṛ của Chúa Thánh Thần trong đời sống
cũng như tất cả các hoạt động của
Giáo hội.
Nếu
Giáo hội coi các tôn giáo khác là xấu xa, tội lỗi, sai
lầm th́ hoạt động của Giáo hội sẽ là
chinh phục, loại trừ và thống trị. Nhưng nếu
Giáo hội nh́n nhận nơi các tôn giáo và các nền văn
hóa là chân thiện, dù chưa đạt được trọn
vẹn, th́ hoạt động của Giáo hội là đối
thoại, t́m cách để bổ sung và thăng tiến. Nếu
Giáo hội nhận thức sâu xa về sự hiện diện
và hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các dân
tộc, sự phân chia giữa thánh thiêng và thế tục
không c̣n nữa. Và nhờ đó, một nhận thức mới
về sứ mệnh đang thấm vào tất cả mọi
lănh vực của đời sống Giáo hội.[29]
Ngày nay,
truyền giáo được hiểu theo một nghĩa rộng
lớn, đó là Phúc âm hóa: đem các giá trị Tin mừng
vào trong các thực tại trần thế. Hiểu như thế,
chúng ta thấy ngay nhu cầu phải trở về nguồn
của sứ vụ là chính Chúa Giêsu Kitô và Tin mừng của
Người, để thông hiệp với Người và
tiếp tục sứ vụ của Người.
2. Các
Đức Giáo hoàng
a.
Đức Phaolô VI
-
Thông điệp Ecclesiam Suam (ES): được ban hành giữa kỳ họp thứ
hai và thứ ba của công đồng. Đức Phaolô VI
đă đánh dấu sự xuất hiện của từ
“đối thoại” trong xu thế đổi mới của
công đồng. Ngài tŕnh bày rằng Thiên Chúa không ngừng
đối thoại với nhân loại và vai tṛ của Giáo
hội là kéo dài sự đối thoại đó. Giáo hội
phải đối thoại với thế giới, với
các Giáo hội Kitô khác, với các tôn giáo khác và đối thoại
ngay chính trong Giáo hội. Giáo hội đối thoại với
thế giới v́ Giáo hội có điều ǵ đó để
nói, có một sứ điệp để rao truyền. Ngài
coi đối thoại như một phương pháp truyền
giáo. Muốn có đối thoại, Giáo hội phải có
thái độ kính trọng và lắng nghe. Giáo hội cần
nh́n nhận và tôn trọng những giá trị luân lư và tinh thần
nơi các tôn giáo khác. Đối thoại với các tôn giáo
khác để hợp tác với họ trong việc mưu
ích cho con người và đẩy lùi bóng tối của sự
dữ. Không chỉ lắng nghe tiếng nói của con
người, mà c̣n lắng nghe tiếng nói phát xuất từ
trái tim của họ. Tinh thần của đối thoại
là t́nh hữu nghị; và c̣n cần phải đi xa hơn nữa,
đó là tinh thần phục vụ (x. ES 65, 81, 87, 97-
116).
-
Tông huấn Loan báo Tin mừng (EN):
Đức
Giáo hoàng đă đưa ra một cái nh́n có tính cách đổi
mới về sứ mệnh truyền giáo: “Phúc âm hóa có nghĩa
là đem Tin mừng vào mọi lănh vực trong đời sống
nhân loại để nhờ đó, làm biến đổi
nhân loại từ bên trong.” (EN 18)
Sẽ
không có loan báo Tin mừng nếu không có tác động của
Thần khí, linh hồn của Giáo hội. Ngài là tác nhân chính
của sứ mệnh truyền giáo. Chính Ngài thúc đẩy
mỗi người loan báo Tin mừng (x. EN 75).
Toàn bộ
Giáo hội nhận được sứ mệnh để
loan báo và hoạt động của mỗi người
đều quan trọng đối với toàn thể. Giáo hội
hoàn thành sứ mệnh của ḿnh qua các hoạt động
khác nhau. Đức Giáo hoàng đưa ra những
phương kế để loan báo Tin mừng như là làm
chứng bằng đời sống, rao giảng, phụng
vụ Lời Chúa, dạy giáo lư, sử dụng các
phương tiện truyền thông, tiếp xúc cá nhân, thực
hành các bí tích, định hướng ḷng đạo đức
b́nh dân (x. EN 15, 40- 48).
Loan báo
Tin mừng là sứ mệnh chính của Giáo hội, là ân huệ
và ơn gọi đặc biệt của Giáo hội và là
căn tính sâu xa nhất của Giáo hội. Giáo hội hiện
hữu là để loan báo Tin mừng, nghĩa là để
rao giảng và dạy dỗ, để giao ḥa những
người tội lỗi với Thiên Chúa, làm cho cuộc
hiến tế của Chúa Kitô tồn tại măi trong thánh lễ,
nơi tưởng niện cái chết và sự phục sinh
vinh quang của Ngài. Nội dung chính yếu của Tin mừng
là t́nh thương của Thiên Chúa Cha. Trung tâm của sứ
điệp là ơn cứu độ trong Chúa Giêsu Kitô. Giáo
hội phải loan báo rơ ràng rằng nước Thiên Chúa
được thiết lập trên trái đất nơi
chính Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, qua đời
sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Ơn
cứu độ được ban cho tất cả mọi
người như tặng phẩm của ân sủng và ḷng
nhân từ của Thiên Chúa (x. EN 14, 27).
Tin mừng
có thể thấm vào tất cả các nền văn hóa,
nhưng không lệ thuộc bất cứ nền văn hóa
nào. “Triều đại nước Thiên Chúa mà Tin mừng
loan báo được sống bởi những con người
gắn liền với một nền văn hóa, và việc
xây dựng nước ấy không thể không vay mượn
những yếu tố thuộc văn hóa loài người.”
(EN 20) V́ thế, Phúc âm phải thấm nhập, ăn sâu vào
trong văn hóa và trong toàn bộ nếp sống của con
người: “Giáo hội phải thấm sâu vào và biến
đổi bởi sức mạnh của Tin mừng những
tiêu chuẩn phán đoán, những giá trị, những mối
bận tâm, những trào lưu tư tưởng, những
động cơ đi ngược lại với Tin mừng
và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.” (EN 19)
“Giáo hội t́m cách hoán cải lương tâm cá nhân cũng
như tập thể, những hoạt động, đời
sống và hoàn cảnh cụ thể của con người.”
(EN 18)
Giáo hội
kính trọng các tôn giáo khác, v́ “chúng biểu hiện sống
động cho tâm hồn của biết bao người.
Chúng mang trong ḿnh dư âm hàng ngàn năm t́m kiếm Thiên Chúa,
tuy chưa đầy đủ nhưng thường là với
tấm ḷng chân thật và ngay thẳng… Các tôn giáo ấy mang
trong ḿnh những hạt giống của Lời để
chuẩn bị cho việc đón nhận Tin mừng.” (EN
53)
Việc
loan báo Tin mừng sẽ không trọn vẹn nếu không
quan tâm đến mối quan hệ giữa Tin mừng và cuộc
sống: cá nhân và xă hội của con người, công lư,
hoà b́nh, phát triển và việc giải phóng con người
thoát khỏi nghèo đói, bệnh tật và những bất
công (x. EN 29- 38). Thật vậy, ơn cứu độ trọn
vẹn bao trùm toàn bộ con người với hết mọi
chiều kích cuộc sống. Nhưng “không bao giờ Giáo hội
đồng nhất hóa việc giải phóng con người
với ơn cứu rỗi trong Đức Giêsu Kitô... Giáo hội
biết rơ rằng cảnh thành tựu của giải phóng,
đà phát triển của thịnh đạt và tiến bộ,
tự chúng, không đủ để đảm bảo cho
việc thành tựu của công tŕnh xây dựng Nước
Thiên Chúa.” (EN 35)
b.
Đức Gioan Phaolô II
-
Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc
(RM)
Thông
điệp đă tóm tắt sứ mệnh của Giáo hội
vào ba con đường chính: rao giảng, đối thoại
và thăng tiến con người.
Rao giảng
về Chúa Giêsu Kitô phải là mối ưu tiên thường
xuyên của Giáo hội. Mọi h́nh thức hoạt động
truyền giáo đều hướng về đó. Truyền
giáo là bổn phận của mọi Kitô hữu, không có bất
cứ một ngoại lệ nào (x. RM 2, 3, 44).
Đức
Giáo hoàng cũng khẳng định rơ rệt hơn nữa
hoạt động của Chúa Thánh Thần mà Vatican II
đă tŕnh bày: “Sự hiện diện và hoạt động
của Chúa Thánh Thần không chỉ tác động trên mỗi
cá nhân, nhưng c̣n trên xă hội, lịch sử, các dân tộc,
các nền văn hóa và các tôn giáo nữa.” (RM 28) Ngày nay, Chúa
Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong tâm hồn
con người, trong lịch sử các dân tộc, trong các nền
văn hóa và trong các tôn giáo. Hoạt động này được
hiểu trong sự qui chiếu về Chúa Kitô (x. RM 29). Bởi
đó, Giáo hội phải đối thoại với các tôn
giáo khác và với các nền văn
hóa.
Công
đồng Vaticanô II đă nh́n nhận các giá trị tích cực
trong các tôn giáo khác, như vậy việc rao giảng Tin mừng
có c̣n cần thiết không hay được thay thế bằng
công cuộc đối thoại liên tôn? Để trả lời
cho câu hỏi này, Đức Gioan Phaolô II đă khẳng định
rằng: “Công cuộc đối thoại liên tôn là một
phần trong sứ mạng truyền giáo của Giáo hội.
Được hiểu như là một phương pháp và
phương tiện giúp cho đôi bên hiểu biết lẫn
nhau và làm cho nhau thêm phong phú, đối thoại không đi
ngược lại với sứ mạng truyền giáo ad
gentes. Thật vậy, công cuộc đối thoại có
những liên hệ đặc biệt với sứ mạng
truyền giáo và là một trong những cách thức biểu
đạt của sứ mạng ấy... Đối thoại
có thể được khai mở và tiến hành với niềm
thâm tín xác quyết rằng Giáo hội là công cụ thường
cách (ordinary means) của ơn cứu độ, và chỉ một
ḿnh Giáo hội mới có đầy đủ những
phương cách cần thiết để mang lại
ơn cứu độ.” (RM 55)[30]
Về
đối thoại với các nền văn hóa, ngài khẳng
định: “Qua công tác hội nhập văn hóa, Giáo hội
làm cho Phúc âm nhập thể vào trong các nền văn hóa khác
nhau, và đồng thời, đưa dẫn các dân tộc
cùng với các nền văn hóa của họ đi vào trong
cộng đoàn của ḿnh. Giáo hội chuyển thông qua cho
họ những giá trị của ḿnh, và cùng lúc, thu nhận
những yếu tố hay đẹp sẵn có ở nơi
các nền văn hóa ấy để đổi mới
chúng từ bên trong. Qua công tác hội nhập văn hóa, về
phía ḿnh, Giáo hội sẽ trở thành dấu chứng dễ
nhận ra hơn của chính bản chất ḿnh, cũng
như sẽ trở thành hữu hiệu hơn trong công việc
truyền giáo. Nhờ việc tiến hành công tác hội nhập
như thế tại các Giáo hội địa
phương, chính Giáo hội hoàn vũ cũng được
nên phong phú hơn, bởi các lănh vực khác nhau trong đời
sống Kitô, - như là các lănh vực Phúc âm hóa, phụng tự,
thần học, - và các hoạt động từ thiện...
sẽ có thêm nhiều dạng thức biểu đạt và
nhiều giá trị dồi dào hơn.” (RM 52)
Giáo hội
góp phần vào sự phát triển nhân loại qua việc sống
chứng tá và qua các hoạt động như đối
thoại, thăng tiến con người, dấn thân cho một
nền ḥa b́nh và công bằng, giáo dục, chăm sóc bệnh
nhân, trợ giúp người nghèo và trẻ em (x. RM 20). Rao giảng
Tin mừng tự nó bao hàm một động lực cho giải
phóng và phát triển: “Sứ điệp của Tin mừng tạo
ra một sức mạnh giải phóng mà nó thực sự
thăng tiến sự phát triển, v́ nó dẫn tới sự
hoán cải của tâm hồn và tư tưởng, nuôi dưỡng
nhận thức về phẩm giá của mỗi con người,
khuyến khích t́nh liên đới, hiến thân và phục vụ
người thân cận, và ban tặng cho mỗi người
một nơi trong kế hoạch của Thiên Chúa, là kế
hoạch xây dựng một nước Thiên Chúa b́nh an và công
chính đă bắt đầu ngay trên trần thế này… Sự
phát triển con người bắt nguồn từ Thiên
Chúa, từ kiểu mẫu của Chúa Giêsu- Thiên Chúa làm
người, và nó phải dẫn về với Thiên Chúa.
Đó là lư do tại sao có một sự nối kết chặt
chẽ giữa loan báo Tin mừng và thăng tiến con
người.” (RM 59)
- Tông
huấn Giáo hội tại Á Châu (EA)
Trong
tông huấn này, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến
sứ vụ yêu thương và phục vụ trong bối cảnh
Á Châu.
Châu Á là
cái nôi của các tôn giáo và các nền văn hóa lớn. Nó cũng
là nơi sinh của Chúa Giêsu và Giáo hội. Nhưng sau 2000
năm, phần lớn dân ở lục địa này lại
không biết Chúa Giêsu và coi Ngài như là người
phương tây (x. EA 1, 2). Nhiều người Châu Á c̣n coi
Kitô giáo là một tôn giáo “ngoại lai” và thường gắn
Giáo hội với những quyền lực thực dân (x.
EA 9). Do đó, Giáo hội tại đây cần làm sáng tỏ
nguồn gốc Châu Á của Chúa Giêsu và chính ḿnh. Giáo hội
đă lănh nhận quà tặng từ Thiên Chúa là Chúa Giêsu và
Giáo hội phải chia sẻ quà tặng qúi giá này cho Châu Á.
Ngài là Đấng cứu độ duy nhất, là cội
nguồn mọi loài mọi vật và tất cả chỉ
đạt tới viên măn nơi Ngài. V́ vậy, Ngài có thể
thỏa măn mọi khát vọng sâu xa nhất của tất
cả mọi người, mọi dân tộc Châu Á (x. EA 4,
10, 14).
V́ vậy,
Chúa Giêsu Kitô phải là trung tâm của sứ điệp của
Giáo hội. Con người của Ngài, gương mặt
Châu Á của Ngài, cần phải được giới thiệu
cho người Châu Á. Sứ mệnh của Giáo hội không
chỉ là mang Chúa Giêsu đến lục địa này,
nhưng mà c̣n phải khám phá ra sự hiện diện của
Ngài nơi chính quê hương Châu Á của Ngài. Lư do làm cho
người Châu Á khó gần gũi với Đức Giêsu là v́
chúng ta đă nhào nặn Chúa Giêsu thành con người tây
phương, tức là con người của suy luận,
lư trí. Nhưng Đức Giêsu tiên vàn là con người của
ḷng thương xót, con người của mọi người
và đặc biệt là của người nghèo.
Trong
bối cảnh Á Châu, việc phục hồi gương mặt
Châu Á của Chúa Giêsu và việc loan báo Chúa Kitô là Đấng
Cứu Độ duy nhất như thế nào? Tông huấn
khẳng định rằng “không thể có Phúc âm hóa thật
sự nếu không công khai loan báo Chúa Giêsu là Chúa” (EA 19).
Nhưng tông huấn cũng nh́n nhận rằng sự loan
báo ấy “đă đụng phải những khó khăn về
triết học, văn hóa và thần học, nhất là nh́n
từ những niềm tin có trong các tôn giáo lớn của
Châu Á, vốn quyện rất chặt với các nền
văn hóa và các thế giới quan riêng biệt” (EA 20). Bởi
vậy, chúng ta phải từng bước giới thiệu
Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, Thiên-Chúa-ở-với-chúng-ta.
Tông huấn đề cao phương pháp kể truyện
v́ nó quen thuộc với văn hoá Á Châu hơn là suy luận
theo kiểu tây phương. Phải rao giảng về Chúa
Giêsu theo các mô h́nh văn hóa và theo các cách tư duy của các
dân tộc ấy. Làm sao để giới thiệu Chúa Giêsu
là Đấng đáp ứng những khát vọng sâu thẳm
của con người Á Châu biểu lộ trong văn hóa
dân gian, chuyện cổ tích, sự tích, thần thoại,
truyền thuyết, trong các huyền thoại. Sau đó, nên
dùng lối sư phạm gợi mở, vận dụng các
câu truyện, dụ ngôn, thần thoại, biểu tượng
để đưa họ đến với Chúa Giêsu,
Đấng đang chờ đón họ, thỏa măn những
khát vọng sâu thẳm của họ. Phải dùng
phương pháp rất quen thuộc ở Châu Á là thuật
chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu; dùng những
h́nh ảnh, câu chuyện, dụ ngôn để tŕnh bày giáo lư
như Chúa đă dùng. Cần tŕnh bày Chúa Giêsu như là thầy
dạy và ngôn sứ, vị lương y, người
Samari nhân hậu, nhà lănh đạo tinh thần, vị mục
tử nhân lành, người bạn đầy ḷng trắc ẩn
của người nghèo, Đấng giải phóng và ban sự
sống (x. EA 20). Những h́nh ảnh này có sức hấp dẫn
và lôi cuốn các dân tộc ở Châu Á đang sống trong
nghèo đói, áp bức, bất công và bạo lực lan tràn,
giúp họ trong cuộc đấu tranh nhằm tới công
lư và ḥa hợp, tức là đối với cuộc
đấu tranh cho sự sống mà chúng ta đang tiến
hành. Khi họ khám phá ra rằng Chúa Giêsu là con đường
giúp họ đạt tới Thiên Chúa, một Thiên Chúa của
t́nh yêu, b́nh an và hạnh phúc, th́ lúc đó với kinh nghiệm
cá nhân của ḿnh, họ sẽ xác tín rằng Chúa Giêsu là
Đấng Cứu Độ duy nhất của họ.
Người
Á Châu có một cái nh́n tổng hợp và hài ḥa về mọi
thực tại. Họ yêu thích sự ḥa điệu giữa
các tương phản, v́ sự ḥa điệu ấy vừa
rất huyền nhiệm, vừa rất gần gũi với
con người: ḥa điệu giữa trời/ đất,
thần linh/ con người, hữu hạn/ vô hạn,
hữu h́nh/ vô h́nh, thánh thiện/ tội lỗi, có/ không, sống/
chết, hạnh phúc/ đau khổ, động/ tĩnh,
âm/ dương,... Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người,
Thiên Chúa vô h́nh mặc lấy thân xác con người, nối
kết trời và đất, trung gian giữa Thiên Chúa và con
người, vừa là Chúa thật vừa và người thật,
sống yêu thương và kết bạn với những
người tội lỗi, Đấng đầy quyền
năng nhưng đă hủy ḿnh ra không, đă chết và
đă sống lại là nơi hội tụ tuyệt vời
của các tương phản ấy.[31]
Ngày nay,
người dân Á Châu đang khao khát Đấng Tuyệt
Đối, khao khát Thiên Chúa. Có sự đói khát không thể
chối căi được, đặc biệt là nơi những
người trẻ, đối với việc cầu nguyện
và chiêm niệm. Chắc chắn đây là sự khơi dậy
của Thánh Thần. Do đó, Giáo hội phải biết lắng
nghe Thánh Thần đang hiện diện và hoạt động
trong các cộng đoàn tín đồ khác, trong sự hài ḥa của
sự hiệp thông Châu Á, để đồng hành với
họ trong cuộc hành tŕnh chung kiếm t́m một cách không
mỏi mệt Đấng Tuyệt Đối. Tại Châu
Á, Chúa Thánh Thần đă hoạt động ngay từ thời
các tổ phụ, qua các ngôn sứ và hoạt động mạnh
mẽ thời Chúa Giêsu và Giáo hội sơ khai. Và ngày nay,
Ngài đang hoạt động giữa các Kitô hữu Á Châu,
củng cố đời sống chứng tá, đời sống
đức tin của họ giữa các dân tộc, các nền
văn hóa và các tôn giáo của lục địa này. Sự
hiện diện và hoạt động của Ngài không thể
tách rời sứ vụ cứu độ hoàn vũ của
Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần đă khơi dậy trong các nền
văn hóa và các tôn giáo ở lục địa này một sự
khao khát “nước hằng sống” (Ga 4, 10- 15), mà chỉ
có Chúa Giêsu mới có thể hoàn toàn thỏa măn được
(x. EA 18). Thật vậy, Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của
đối thoại và hội nhập văn hóa ở Châu Á
(x. EA 21).
V́ vậy,
đối thoại phải là kiểu mẫu đặc
trưng của Giáo hội tại Châu Á (x. EA 29). Nó không
đơn giản là một chiến lược chung sống
ḥa b́nh giữa các dân tộc, nhưng là một phần bản
chất của sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội,
một ơn gọi thực sự cho Giáo hội. Bởi
v́ nó bắt nguồn từ cuộc đối thoại cứu
độ yêu thương của Chúa Cha với nhân loại,
qua việc Nhập thể của Chúa Con, trong quyền
năng Thánh Thần (x. EA 3, 29). Tông huấn nhấn mạnh
đến sự cần thiết phải đối thoại
bằng cuộc sống và bằng con tim. Đối thoại bằng
cuộc sống đ̣i hỏi phải có những cuộc gặp
gỡ thân thiện, kính trọng, yêu thương và hợp
tác với nhau. Đối thoại bằng con tim đ̣i hỏi
phải có tấm ḷng hiền lành và khiêm nhường của
Chúa Giêsu (x. EA 31 ).
Trong tiến
tŕnh gặp gỡ giữa Tin mừng và văn hóa ở Châu
Á, Giáo hội rao giảng Tin mừng trong một bối cảnh
văn hóa để người nghe dễ dàng hiểu và chấp
nhận. Giáo hội phải hiểu được tâm trí
và tâm hồn của người nghe, những giá trị, tập
quán, những khó khăn, hy vọng và ước mơ của
họ (x. EA 21).
Hiệp
thông và truyền giáo không thể tách rời nhau (x. EA 24). Do
đó, thiếu sự hiệp thông, Giáo hội không thể
chu toàn sứ mạng của ḿnh. Trong nền văn hóa và
tôn giáo của sự hài ḥa ở Châu Á, Giáo hội cần
xây dựng và cổ xúy tinh thần ḥa hợp. Giáo hội
được kêu gọi đóng giữ vai tṛ làm bí
tích, tức là dấu chỉ và khí cụ, của mối
kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của
mối hiệp nhất toàn thể nhân loại (x. LG 1, EA
24). Sứ mệnh của Giáo hội phải được
biểu lộ trong sự làm chứng và hành động hợp
nhất của tất cả mọi thành viên. Do đó, bản
chất và sứ mệnh của Giáo hội là sự tham
gia. Sự sống bên trong của Giáo hội chính là Thần
khí của hiệp thông: trong bản chất, Giáo hội là cộng
đoàn hiệp thông, bén rễ sâu trong sự sống của
Chúa Ba Ngôi. Đó là một cộng đoàn mà trong đó mọi
người đều nh́n nhận và coi nhau như anh em, chị
em một nhà, cùng tham gia và đồng trách nhiệm, thực
hành lắng nghe, đối thoại, cùng nhau phân định
trong Thánh Thần, cùng nhau làm chứng và cùng nhau hoạt
động cộng tác với nhau. Đó là nơi các đặc
sủng của mỗi thành viên được chấp nhận
và thi hành trong các thừa tác vụ khác nhau. Sự hiệp
thông vừa là nguồn suối, vừa là hoa trái của việc
truyền giáo và truyền giáo hoàn thành trong hiệp thông (x. EA
24). Ba Ngôi chính là nền tảng của hiệp thông và đối
thoại, là cùng đích và là mẫu mực tuyệt hảo
của hiệp thông đối thoại.
Mọi
người phải rao giảng bằng đời sống
chứng tá của ḿnh. Nghĩa là đời sống của
họ phải đi đôi với lời họ rao giảng.
Tại Châu Á, một người có ḷng đạo đức
thật sự sẽ được kính trọng và noi theo.
Bởi v́, “con người thời nay tin ở những chứng
nhân hơn là tin ở thày dạy, tin ở kinh nghiệm
hơn là ở sách vở, tin ở lối sống và hành
động hơn là ở lư thuyết.” Do vậy, công việc
loan báo Tin mừng phải được nuôi dưỡng bằng
đời sống cầu nguyện và chiêm niệm, nghĩa
là trong sự kết hợp mật thiết với Chúa, nguồn
suối của hoạt động truyền giáo. Nếu ở
Châu Á người ta tôn kính những người có địa
vị cao thế nào, th́ những người có trách nhiệm
trong Giáo hội càng phải nêu cao đời sống
gương mẫu để xứng đáng với ḷng
kính trọng đó (x. EA 23, 42, 43).
Việc
phục vụ xă hội qua giáo dục, chăm sóc bệnh
nhân, người tàn tật, người di trú, người
dân tộc thiểu số, đấu tranh cho sự công bằng
và các quyền của con người là một minh chứng
mạnh mẽ cho sứ điệp của Tin mừng (x.
EA 42).
3. Liên
Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC)
Những
thành quả của FABC được Đức Gioan Phaolô
II đúc kết trong tông huấn Giáo hội tại Châu Á
(EA), năm 1998, đă tŕnh bày ở trên. Ở đây chỉ
phác họa thêm một số đặc điểm của
FABC
Từ
khi thành lập (1972) đến nay, FABC đă có một quá
tŕnh trên 30 năm suy tư, nghiên cứu và áp dụng những
giáo huấn của Công đồng Vatican II vào thực tại
Châu Á. FABC phản ánh và đào sâu về đời sống
và sứ mệnh của Giáo hội ở Châu Á. FABC giúp Giáo
hội ở Châu Á t́m ra một cách hiện diện mới
mẻ, những định hướng mục vụ, nhiệm
vụ loan báo Tin mừng, hội nhập văn hóa, đối
thoại liên tôn, thăng tiến con người, liên đới
qua việc xây dựng công bằng và ḥa b́nh trong ánh sáng của
những thực tại phức tạp ở Châu Á, để
tiếp tục sứ mệnh của ḿnh trong khi đồng
hành với các dân tộc ở lục địa này. Thật
vậy, truyền giáo chính là hiện diện với mọi
người, đáp ứng những nhu cầu của họ
với sự nhạy cảm về sự hiện diện
của Thiên Chúa trong các truyền thống văn hóa và tôn
giáo. Do đó, sứ mệnh của Giáo hội tại Châu Á
được thực hiện qua ba cuộc đối thoại:
đối thoại với các tôn giáo, với các nền
văn hóa và với người nghèo (x. FABC I).
Giáo hội
được kêu gọi trở thành cộng đoàn đối
thoại. Tại Châu Á, những giá trị của các tôn giáo
và tín ngưỡng đă trở thành linh hồn của văn
hóa. Tôn giáo và văn hóa có ảnh hưởng lẫn nhau và gắn
bó khăng khít với nhau, không thể tách rời được.
Những giá trị của tôn giáo và văn hóa đan quyện
vào nhau và tạo nên cách sống, cách suy tư của con
người. Do vậy, đối thoại với các tôn
giáo và hội nhập văn hóa là hai tiến tŕnh bổ túc
và gắn liền với nhau. Giáo hội đối thoại
với người nghèo v́ đại đa số dân ở
lục địa này là những người nghèo.
Giáo hội
phải lấy triều đại nước Thiên Chúa làm
trung tâm đời sống ḿnh, thay v́ coi Giáo hội là trung
tâm như từ trước đến nay. Sứ mệnh
của Giáo hội là loan báo và thiết lập triều
đại nước Thiên Chúa giữa các dân tộc. Giáo hội
trở nên dấu chỉ và dụng cụ hữu hiệu của
sự hiện diện cứu độ của triều
đại này, triều đại của công lư, hoà b́nh và
t́nh thương mà Giáo hội là hạt giống. “Triều
đại nước Thiên Chúa là lư do hiện hữu của
Giáo hội. Giáo hội hiện hữu trong và v́ triều
đại ấy… Nơi nào Thiên Chúa được đón
nhận, Tin mừng được sống, con người
được tôn trọng…Ở đó, triều đại
nước Thiên Chúa hiện diện.”[32]
V́ thế, Giáo hội không có lựa chọn nào khác là đối
thoại với các truyền thống tôn giáo và văn hóa
để hợp tác với tất cả những người
thiện chí trong việc thăng tiến công b́nh, b́nh an, t́nh
yêu và t́nh hữu nghị giữa các dân tộc.[33]
Giáo hội đối thoại với mọi người
trong tinh thần b́nh đẳng, tôn trọng, làm phong phú lẫn
nhau để cùng cộng tác trong việc xây dựng thế
giới, thiết lập triều đại nước
Thiên Chúa trong mọi lănh vực của cuộc sống.
Trong cuộc
đối thoại với người nghèo, Giáo hội cần
phải có t́nh yêu ưu tiên dành cho người nghèo. Liên kết
với người nghèo, người bị áp bức,
người bị bỏ rơi là đáp lại những
đ̣i hỏi của Tin mừng về triều đại
nước Thiên Chúa trong thế giới hôm nay: bằng cách
trở thành Giáo hội của người nghèo và cho người
nghèo, Giáo hội ở Châu Á trở thành khí cụ và bí tích của
triều đại nước Thiên Chúa.[34]
4. Hội
đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN)
Biến
cố 1975 đă giúp Giáo hội Việt Nam nh́n lại chính
ḿnh và đồng thời ư thức hơn về sứ mệnh
loan báo Tin mừng trong hoàn cảnh mới. Khi Giáo hội
không c̣n nắm trong tay các phương tiện loan báo Tin mừng,
khi Giáo hội bị tước hết mọi đặc
quyền đặc lợi, Giáo hội thực sự trở
thành Giáo hội của Chúa Giêsu: khiêm hạ và phục vụ.
Như người tôi tớ khiêm nhu của triều đại
nước Thiên Chúa, Giáo hội trở nên gần gũi với
người nghèo, với truyền thống tôn giáo và văn
hóa của dân tộc và với những thực tế xă hội
của đất nước.
Trong bản
góp ư của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội đồng
Giám mục Châu Á[35],
các Giám mục Việt
Giáo hội
phải “đồng hành với dân tộc, đồng cảm,
chia sẻ hy vọng và lo âu của dân tộc trong tiến
tŕnh phát triển xă hội và thăng tiến con người.”
(Thư chung 2001, số 9)
Theo tinh
thần của FABC, các Giám mục Việt Nam cũng đặc
biệt chú tâm đến ba cuộc đối thoại: với
các tôn giáo, với các nền văn hóa và với người
nghèo.
Thư
chung của HĐGMVN năm 1980 đă định hướng
cho việc hội nhập văn hóa: “Xây dựng trong Hội
thánh một nếp sống và một lối diễn tả
Đức Tin phù hợp với truyền thống dân tộc”
(số 11). Và được khẳng định lại
trong Thư chung 1992: “Xây dựng một nếp sống và một
lối diễn tả Đức Tin có bản sắc dân tộc
hơn” (số 9). Hội nhập văn hóa “là t́m ra những
điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân tộc,
để xây dựng một nếp sống và một lối
diễn tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với
nền văn hóa dân tộc.” (Thư chung 1998, số 13) Các
Giám mục Việt Nam đă giải thích rơ hơn về mối
quan hệ giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam và khuyến
khích người Công giáo Việt Nam đem những giá trị
của Tin mừng làm phong phú và thăng tiến những giá
trị của văn hóa Việt Nam: “Yêu thương và hiệp
nhất là đặc điểm của Tin mừng Chúa
Giêsu Kitô và cũng là điểm gặp gỡ sâu xa nhất
giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam, một nền
văn hóa vốn lấy nghĩa đồng bào và đạo
hiếu trung làm nền tảng cho đạo đức xă
hội.” (Thư chung 1998, số 5)
Giáo hội
phải là một cộng đoàn đối thoại: “Cuộc
đối thoại phải khởi đi từ trong ḷng Hội
thánh, giữa các thành phần dân Chúa, bằng khiêm tốn lắng
nghe, bằng trao đổi yêu thương để trở
thành một tiếng nói hy vọng khơi nguồn cho cuộc
đối thoại với mọi anh chị em ở những
môi trường khác biệt.” (Thư chung 2001, số 10) Ở
Việt Nam, “đa số đồng bào là người có
tín ngưỡng và tôn giáo,” nên “tôn giáo phải là nền tảng
cho người ta xích lại gần nhau.”
“Đối
thoại với người nghèo, không chỉ là nghèo về
của cải vật chất mà c̣n nghèo về phẩm giá,
về kiến thức, về niềm hy vọng… Không nên
coi người nghèo như đối tượng của
‘việc từ thiện’ nhưng như những con người
đáng được tôn trọng và cần được
lắng nghe.” Đối với đồng bào các dân tộc
thiểu số, “cần đối thoại để hiểu
biết, yêu mến, tôn trọng và liên đới, nhằm bảo
vệ phẩm giá, quyền lợi của họ.” (Thư
chung 2001, số 11)
Các
Giám mục Việt Nam cũng khuyến khích những người
Công giáo can đảm đến với những miền
đất mới, nơi những nhà truyền giáo chưa
đặt chân tới và đến với tất cả mọi
môi trường trong đời sống xă hội, v́ chúng cần
“sự hiện diện của Chúa Kitô, chứng tá của Hội
thánh và ánh sáng của Tin mừng.” (Thư chung 2003, số 8)
Tóm lại,
từ cái nh́n rộng mở của công đồng Vatican
II, Giáo hội đă hiểu truyền giáo là công việc bao
trùm tất cả mọi hoạt động của con
người: Phúc âm hóa toàn diện (integral evangelization). Nó bao
gồm mọi lănh vực, vật chất cũng như
tinh thần: “Ngày nay việc Phúc âm hoá là một thực tại,
vừa súc tích vừa năng động. Nó gồm có nhiều
khía cạnh và yếu tố: chứng tá, đối thoại,
rao giảng, dạy giáo lư, hoán cải, bí tích Rửa tội,
gia nhập vào cộng đoàn Giáo hội, thiết lập
Giáo hội, hội nhập văn hoá và thăng tiến toàn
diện con người. Một số yếu tố liên kết
với nhau, đang khi một số khác là những bước
hay những giai đoạn kế tiếp nhau của toàn thể
quá tŕnh Phúc âm hoá.” (EA 23) Thư chung 1980 xác nhận: “Không có
sinh hoạt nào của con người lại xa lạ đối
với sứ mạng của Hội thánh, và ngược lại
không có sinh hoạt nào của Hội thánh không liên quan tới
tất cả cuộc sống con người.” Giáo hội
ngày càng ư thức hơn về vai tṛ dụng cụ và dấu
chỉ của sự hiệp nhất, về sự dấn
thân để đem lại ḥa b́nh và phát triển con người.
Bài 3
Chúa
Giêsu đă truyền cho các môn đệ của Ngài: “Hăy
đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” (Mt 28, 19) Do
đó, sứ mệnh nền tảng của Giáo hội luôn
luôn là, và măi măi sẽ là, loan báo Tin mừng cho những
người chưa từng được nghe. Không một
Kitô hữu nào, không một tổ chức nào của Giáo hội
có thể tránh né nhiệm vụ trên hết này: loan báo Chúa
Kitô cho tất cả mọi người (x. RM 3).
Truyền
giáo là bổn phận của mọi Kitô hữu (linh mục,
tu sĩ và giáo dân), v́ ơn gọi làm Kitô hữu tự bản
chất cũng là ơn gọi làm tông đồ (AA 2). Trong
Giáo Hội, có nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhưng
đều cùng chung một sứ mệnh. Tuy nhiên, người
giáo dân thường không nhận ra ơn gọi và sứ vụ
của họ. Họ nghĩ rằng việc truyền giáo
là của linh mục và tu sĩ, nên đa số họ rất
thờ ơ với việc loan báo Tin mừng.
1.
Ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân
Tông Huấn
“Christifideles laici” (Kitô hữu giáo dân) nói về nền
tảng của ơn gọi và sứ mệnh của
người tín hữu: qua Phép rửa, người tín hữu
được thông dự vào mầu nhiệm của Giáo hội.
Họ trở thành con của Chúa (số 11), chi thể của
Chúa Kitô (số 12), được thánh hiến làm Đền
thờ của Thánh Thần (số 13). Là chi thể của
Đức Kitô, họ được thông dự vào ba chức
vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả (số
14). Là Đền thờ của Thánh Thần, họ
được thúc đẩy nên thánh qua việc phát triển
các hoa trái của Thánh Thần (số 16).
Thật
vậy, người giáo dân có những nhiệm vụ khác
nhau và họ cũng được kêu gọi nên thánh trong bậc
sống của họ. Mỗi Kitô hữu nhận được
một ân sủng của Thánh Thần v́ lợi ích chung (x.
1Cr 12, 7). Giáo dân có ơn gọi và sứ vụ riêng, đó
là sứ vụ giữa đời. Họ hiện diện
khắp nơi, nhất là những nơi mà hàng giáo sĩ và
tu sĩ không thể hiện diện được. Công
đồng Vatican II cũng tŕnh bày một cách rơ ràng về
ơn gọi và sứ vụ của người giáo dân: “Những
Kitô hữu được tháp nhập vào Thân thể Chúa
Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đă trở nên dân Thiên Chúa và
tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và
vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ…
V́ ơn gọi riêng, giáo dân có bổn phận t́m kiếm
nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế
và xếp đặt chúng theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa
trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như
từng công việc và bổn phận của trần thế,
giữa những cảnh sống thường ngày trong gia
đ́nh và ngoài xă hội; tất cả những điều
đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó
là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự
hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ
bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi
hành những nhiệm vụ của ḿnh; và như thế, với
ḷng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng
chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho
kẻ khác, v́ thế, họ có nhiệm vụ đặc biệt
soi sáng và xếp đặt những thực tại trần
gian có liên hệ mật thiết với họ, để
chúng không ngừng phát triển và bành trướng theo Thánh Ư
Chúa Kitô, hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu
Độ.” (LG 31; x. Can 204)
Trong
Giáo Hội, mọi người đều có phẩm giá
ngang nhau, dù chức năng có khác nhau: “Chỉ có một Thiên
Chúa, một đức tin, một Phép Rửa, một dân
riêng của Thiên Chúa, cùng chung một phẩm giá của những
chi thể đă được tái sinh trong Đức Kitô,
cùng có một ân huệ làm con cái Thiên chúa, một ơn gọi
nên trọn lành , một ơn cứu độ và một niềm
hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia .
V́ thế trong Đức Kitô và trong Giáo hội không có sự
hơn kém về nguồn gốc hay dân tộc, v́ địa
vị xă hội hoặc v́ nam nữ.” (LG 32).
Công
đồng c̣n đề cao vai tṛ của người giáo
dân trong sứ mệnh loan báo Tin mừng: “Người giáo
dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo hội
hiện diện và hoạt động nơi và trong những
hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo hội sẽ không
trở thành muối của thế gian. Như thế, v́ những
ân huệ đă lănh nhận, mọi giáo dân vừa là chứng
nhân vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ
mệnh của Giáo hội.” (LG 33) Người giáo dân sống
và làm việc với những người tin của các tôn
giáo khác trong mọi lănh vực của cuộc sống. Do
đó, “nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm
cho ư định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng
lan tới tất cả mọi người ở mọi
nơi và mọi thời đại. V́ thế, khắp
nơi phải mở đường cho họ tích cực
tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo hội,
tùy sức lực họ và tùy nhu cầu của thời
đại.” (LG 33) Các kitô hữu giáo dân giữ một phần
cá biệt và thiết yếu trong sứ mệnh của Giáo
Hội (AA 1). Bộ Giáo luật cũng nói lên tầm quan trọng
của họ: “Xét v́ các giáo dân, cũng như mọi tín hữu
khác, được Thiên Chúa ủy thác làm việc tông đồ,
do Phép Rửa Tội và Phép Thêm Sức, nên họ có nghĩa
vụ tổng quát và có quyền lợi xét như từng cá
nhân hoặc kết hợp thành hiệp hội, phải làm
sao để sứ điệp cứu rỗi của Thiên
Chúa được mọi người khắp thế giới
biết đến và đón nhận. Nghĩa vụ này lại
càng thôi thúc hơn trong những hoàn cảnh mà chỉ có thể
nhờ các giáo dân, người ta mới có thể nghe Phúc âm
và biết Đức Kitô.” (Can 225 §1)
Trong
Tông huấn Kitô hữu giáo dân, Đức Gioan Phaolô II cũng nhấn
mạnh đến vai tṛ của người giáo dân trong
Giáo hội và trong thế giới hôm nay: “Cả các anh nữa,
hăy đi vào vườn nho!” Lời mời gọi này không
chỉ là việc của các mục tử, các giáo sĩ và
tu sĩ. Đó là lời mời gọi mọi tín hữu: hết
mọi giáo dân cũng đều được Chúa mời
gọi và sai đi làm việc ở trong vườn nho của
Đức Kitô tức Giáo Hội và ở giữa thế gian”
(CL 2). Ngài nhận định tiếp: “Trong hoàn cảnh hiện
tại, các giáo dân có khả năng để hoạt động
trong nhiều công tác và nhiều lănh vực; v́ thế, họ
phải tận lực hoạt động cho giáo xứ
để củng cố niềm hiệp thông trung thực
và đánh thức ḷng nhiệt thành truyền giáo cho
lương dân, cũng như ḷng tin của các tín hữu
đă bỏ đạo hoặc sống đạo thờ
ơ” (CL 27).
Tông huấn
Giáo hội tại Á Châu cũng khẳng định:
“Hơn ai hết, họ chính là những người
được mời gọi biến đổi xă hội,
cộng tác với các Giám mục, linh mục và tu sĩ, bằng
cách đưa ‘tinh thần của Chúa Kitô’ vào trong năo trạng,
tập quán, luật lệ và cơ chế của thế giới
mà trong đó họ đang sống.” (EA 22). “Do ân sủng
và tiếng gọi của bí tích Rửa Tội và Thêm sức,
tất cả các giáo dân đều là thừa sai; và môi
trường hoạt động tông đồ của họ
là những lănh vực mênh mông và phức tạp, từ chính
trị, kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục, truyền
thông, khoa học, cho đến kỹ thuật và thể
thao.” (EA 45)
Các
văn kiện của Liên hiệp các Hội đồng
Giám mục Châu Á (FABC) đều lưu tâm đến vai tṛ
của giáo dân. Người giáo dân là thừa sai số một
trong lănh vực văn hóa và trong toàn bộ cơ cấu
đời sống xă hội (FABC 5 -Bandung, 17-27 tháng 7, 1990,
5.1).
Bởi
đó, “Thánh Công đồng nhân danh Thiên Chúa tha thiết
khuyên nhủ tất cả giáo dân, hưởng ứng sự
thúc đẩy của Thánh Thần, hăy mau mắn, quảng
đại và hy sinh đáp lại tiếng gọi của
Đức Kitô giờ đây đang tha thiết kêu mời
họ… Quả thật, chính Chúa một lần nữa nhờ
Thánh Công Đồng này, mời gọi tất cả các giáo
dân hăy kết hiệp với Người ngày một mật
thiết hơn và nhận thức được những
ǵ của Người cũng là của chính ḿnh ( Pl 2,5), họ
hăy tham gia vào sứ mạng cứu rỗi của chính
Người và một lần nữa Người sai họ
đi tới các thành và những nơi Người sẽ
đến” (AA 33).
Tóm lại,
nhờ lănh nhận bí tích Rửa tội và Thêm sức, mỗi
tín hữu được trở thành con cái Chúa, trở
thành chi thể trong Thân thể Chúa Kitô, được Chúa
sai làm tông đồ. Thêm vào đó, các bí tích, nhất là bí
tích Thánh thể- linh hồn của mọi hoạt động
tông đồ, thông ban và nuôi dưỡng trong họ đức
ái đối với Thiên Chúa và đối với loài
người.
2.
Đào tạo cho sứ mệnh của người giáo dân
“Giáo
hội chưa được thiết lập thực sự,
chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu
chỉ tuyệt hảo của Chúa Ki-tô giữa loài người
nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu
hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo phẩm.
Thật vậy, Phúc âm không thể đi sâu vào tinh thần,
đời sống và sinh hoạt của một dân tộc
nếu không có sự hiện diện linh hoạt của
giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo hội phải
hết sức chú tâm đến việc đào tạo một
hàng giáo dân Kitô giáo trưởng thành.” (AG 21).
V́ thế,
người giáo dân cần được học hỏi
giáo huấn của Giáo hội về xă hội liên quan đến
các vấn đề như ơn gọi, phẩm giá và sứ
vụ của người Kitô hữu; đời sống
nhân loại; gia đ́nh; xă hội. Giáo hội cần quan tâm
vào việc đào tạo những người giáo dân
trưởng thành và dấn thân, biết làm men làm muối,
bênh vực công lư, xây dựng ḥa b́nh, ḥa giải. Giúp họ
thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng trong các môi
trường xă hội, nhất là trong một số môi
trường mà chỉ có họ mới có thể hiện diện.
Việc
đào tạo về Kinh thánh phải được xem
như là một phương tiện thiết yếu để
giáo dục họ trong đức tin và trang bị cho công việc
loan báo Tin mừng của họ (x. EA 22). Do đó, việc
đào tạo giúp người giáo dân theo một “tiến
tŕnh trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức
tin và là một tiến tŕnh nên giống Đức Kitô, theo
ư muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn
của Chúa Thánh Thần” (CL 57). Kế đó, việc đào
tạo giúp họ trở thành người giáo dân đích thực
và trưởng thành; nghĩa là giúp họ khám phá ra ơn gọi
và sứ vụ của họ, tích cực sống ơn gọi
và chu toàn sứ vụ ấy (x. CL 58). Đó là hàng giáo dân có
khả năng và điều kiện để cùng làm việc,
cộng tác và đồng trách nhiệm (chứ không phải
chỉ là những người thừa hành) với các chủ
chăn để thực thi sứ mạng mà Chúa Giêsu trao
phó cho toàn Giáo hội.
Được
Thánh Thần ban sức mạnh và nhờ các bí tích cũng cố,
người giáo dân sẽ dấn thân vào trong cuộc sống
và sứ mệnh của Giáo Hội, đem Tin mừng của
Chúa Giêsu áp dụng vào trong mọi môi trường sống của
ḿnh. “Các kitô hữu đă được đào tạo
đầy đủ sẽ thành thừa sai đối với
bạn đồng cảnh của ḿnh: thanh niên th́ phúc âm hóa
thanh niên, công nhân th́ phúc âm hóa công nhân, chuyên nghiệp th́ phúc
âm hóa các bạn đồng nghiệp, công chức th́ phúc âm
hóa công chức, gia đ́nh th́ phúc âm hóa gia đ́nh; và như
thế, tất cả sẽ trở thành men để biến
đổi xă hội Châu Á” (FABC 5 -Bandung, 17-27 tháng 7, 1990,
5.2).
Tông huấn
Giáo hội tại Á Châu khuyến khích thành lập và đào
tạo những Cộng đoàn Giáo hội cơ bản
(Basic Ecclesial Community: BEC). Đây là cách thể hiện mới
của Giáo hội. Nó cung cấp cho người giáo dân cảm
giác thuộc về Giáo hội, khuyến khích họ tham gia
vào các hoạt động của Giáo hội, giúp họ nhận
ra sự hoạt động của Chúa Thánh Thần trong
đời sống hằng ngày của họ. Họ tập
họp cùng nhau trong những nhóm nhỏ, cử hành Lời
Chúa và Thánh Thể để họ có thể nuôi dưỡng
ư thức về cộng đoàn và tông đồ. Đó chính
là chất men làm biến đổi thế giới của
chúng ta.[36]
“Các Cộng đoàn Giáo hội Cơ Bản như một
phương thế hữu hiệu đẩy mạnh sự
hiệp thông và cộng tác trong các giáo xứ và giáo phận,
và như một lực lượng thực sự cho công
cuộc Phúc âm hóa. Những tập thể nhỏ bé này sẽ
giúp các tín hữu sống thành những Cộng đoàn Đức
Tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu
đầu tiên (x. Cv 2, 44-47; 4, 32-35). Các Cộng đoàn này
c̣n giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu
thương huynh đệ và phục vụ, từ đó
trở thành khởi điểm vững chắc cho một
xă hội mới, biểu hiện một nền văn minh
t́nh thương. Cùng với Thượng Hội Đồng,
tôi khuyến khích Giáo hội tại Á châu, chỗ nào có thể
được, hăy coi các Cộng đoàn cơ bản ấy
như một nét tích cực trong công tác Phúc âm hóa của Giáo
hội.” (EA 25).
Trong thời
đại chúng ta, người giáo dân đóng vai tṛ chủ
đạo trong sứ mệnh loan báo Tin mừng và tân Phúc âm
hóa. Qua các đặc sủng của họ, họ tích cực
loan báo Tin mừng cho toàn thế giới qua con đường
đối thoại bằng đời sống, mang sứ
điệp của Tin mừng đến khắp mọi
nơi. Giáo hội tại Á Châu phải là Giáo hội tham gia
(Participatory Church) mà trong đó không ai cảm thấy bị
loại trừ (x. EA 45). Toàn bộ Giáo hội được
sai đi để loan báo và phục vụ nước Thiên
Chúa. Tất cả các thành viên của Giáo hội đều
có trách nhiệm xây dựng Giáo hội và chia sẻ toàn bộ
sứ vụ của Chúa Kitô. Thật vậy, chúng ta là Giáo hội.
Đó là cộng đoàn con cái Thiên Chúa, cùng là môn đệ của
Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần. V́ vậy, sự hiệp
thông trong cộng đoàn và sứ vụ phải liên kết
và thúc đẩy lẫn nhau. Trong Châu Á ngày nay, Chúa Thánh Thần
đang thúc giục những môn đệ của Chúa Kitô sống
và làm chứng về sự hiệp nhất trong Giáo hội
địa phương, đặc biệt là tại lănh vực
giáo xứ, xây dựng một Giáo hội tham gia mà trong
đó các Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân cùng hiệp
thông, chia sẻ, hợp tác và đồng trách nhiệm trong
sứ vụ loan báo Tin mừng.[37]
Bài 4
TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HÔM NAY
Ngày nay,
để cho việc truyền giáo đạt kết quả
tốt đẹp, Giáo Hội quan tâm đến việc t́m
hiểu, tôn trọng các tôn giáo, các tín ngưỡng và các nền
văn hóa bản xứ. Tiến tŕnh hội nhập văn
hóa và đối thoại liên tôn cũng nằm trong khuôn khổ
hoạt động truyền giáo. Một trong những lư do
thần học sâu xa thúc đẩy chúng ta dấn thân vào
trong công cuộc đối thoại là trong đối thoại,
chúng ta nhận thức sâu xa hơn về sự hiện diện
và hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các dân
tộc, các tôn giáo và các nền văn hóa.[38]
a. Hội
nhập văn hóa
Thiên
Chúa rất gần gũi với con người. Con Thiên
Chúa đă trở thành người phàm để con mắt
chúng ta có thể thấy được. Lời đă trở
thành xác phàm và bén rễ sâu trong một nền văn hóa:
“Chúa Kitô đă nhờ việc Nhập thể mà liên kết
ḿnh với những hoàn cảnh nhất định về
xă hội và văn hóa của những người mà Ngài
cùng chung sống.” (AG 10) Chúa Giêsu đă hoàn toàn trút bỏ vinh
quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm
nhân và sống như người trần thế (x. Pl 2, 7).
Điều này biểu lộ sự liên đới của
Thiên Chúa và sự đồng hóa, cảm thông của Chúa
Giêsu với điều kiện sống của con người:
“Chúng ta cần sự tha thứ, Ngài sẵn sàng tha thứ.
Chúng ta khao khát tự do, Ngài là Đấng giải thoát. Chúng
ta ṃ mẫm để t́m kiếm Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa mạc
khải. Chúng ta mất ư thức về Thiên Chúa và người
thân cận, Ngài là Thiên Chúa mặc lấy xác phàm.”[39]
Công đồng Vatican II đă tuyên bố:
“Những ǵ tốt đẹp trong tâm hồn và tư tưởng
của loài người hoặc trong nghi lễ và văn hóa
riêng của các dân tộc, hoạt động của Hội
thánh không nhằm tiêu diệt, nhưng làm cho lành mạnh,
nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu
hạnh phúc cho con người.” (LG 17, 1) “Muốn thế, một
đàng chúng ta phải đào sâu Thánh kinh và Thần học
để nắm vững những điều cốt yếu
của Đức tin, đàng khác phải đào sâu nếp
sống của từng dân tộc trong nước, để
khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc.
Rồi từ đó, chúng ta tận dụng những cái hay
trong một kho tàng văn hóa mà xây dựng một nếp sống
và một lối diễn tả Đức tin phù hợp
hơn với truyền thống của mỗi dân tộc
đang cùng chung sống trên Quê hương và trong cộng
đồng Hội thánh này.”
(Thư chung 1980, số 11)
Trong bối
cảnh Việt Nam, qua bản góp ư của HĐGMVN gởi
cho Thượng Hội đồng Giám mục Châu Á, các Giám
mục Việt Nam đă nhận định: “Với những
đức tính như ḷng hiếu thảo đối với
ông bà cha mẹ, kính trên nhường dưới trong gia
đ́nh, với một tâm hồn yêu thích tĩnh mịch và
chiêm niệm, người Việt Nam là một mảnh
đất tốt để đón nhận những giá trị
thiêng liêng hàm chứa trong Tin mừng… Đạo lư Đông
phương vốn trọng chữ Trung, chữ Hiếu và
chữ Nhân rất gần với tinh thần của Kitô
giáo: trung với Chúa, hiếu thảo với ông bà cha mẹ
tổ tiên và nhân ái với mọi người.”
- Hội
nhập văn hóa trong phụng vụ
“Phụng
Vụ là nguồn gốc và là tuyệt đỉnh của tất
cả đời sống Kitô hữu và truyền giáo. Phụng
Vụ là một phương tiện quyết định của
việc rao giảng Tin Mừng, nhất là tại Á Châu,
nơi mà những người theo đạo khác nhau rất
ưa thích việc tế tự, những lễ hội tôn
giáo và những việc đạo đức b́nh dân. Phụng
Vụ của các Giáo Hội Phương Đông phần lớn
đă được hội nhập văn hoá có kết quả
sau bao thế kỷ tương tác với nền văn hoá
xung quanh, nhưng những Giáo Hội được thành lập
mới đây cần làm sao để phụng vụ trở
nên nguồn mạch nuôi dưỡng hơn cho dân chúng, qua việc
sử dụng khôn ngoan và hiệu năng các yếu tố
rút ra từ các nền văn hoá địa phương.
Nhưng sự hội nhập Phụng vụ đ̣i hỏi
nhiều điều hơn là việc chú tâm vào những giá
trị văn hoá truyền thống, những biểu tượng
và những nghi thức. Cũng cần lưu ư đến
những thay đổi trong ư thức và thái độ gây ra
do sự xuất hiện của các nền văn hoá trần
tục và hưởng thụ đang ảnh hưởng
đến cảm thức phụng tự và cầu nguyện
của người Á Châu. Cũng không được bỏ
qua những nhu cầu riêng biệt của người
nghèo, người di dân, người tị nạn, giới
trẻ và phụ nữ trong bất cứ việc hội
nhập phụng vụ chân chính nào tại Á Châu.” (EA 22)
Trong bản
góp ư của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội đồng
Giám mục Châu Á, các Giám mục Việt Nam đă nêu lên những
khó khăn trong lănh vực này như sau: “Trong phụng vụ,
việc hội nhập văn hóa tuy đă có vài sáng tác
(như các ngày Tết dân tộc, lễ Trung Thu), nhưng cho
đến nay mới c̣n ở mặt ngoài. Ở đôi
nơi, mặt ngoài này lại không thích hợp; những cảnh
dâng hoa rườm rà, dù lọng… nhắc nhớ những lễ
nghi thời phong kiến hơn là đưa vào thái độ
phụng thờ thẳm sâu. Sống theo chiều hướng
này, người dạy đạo dần dần xa cách lớp
người học đạo, và làm cho những người
này có cảm tưởng Kitô giáo chỉ là một tôn giáo ngoại
lai.”
Đây
thực sự là vấn đề cần sự nghiên cứu
và đóng góp của mọi người, đặc biệt
là những nhà chuyên môn. HĐGMVN đă đưa ra những
hướng dẫn sau: “Hội nhập văn hóa không phải
là chạy theo ‘mốt thời đại,’ cũng không phải
là hoài cổ, nhưng là t́m ra những điểm gặp gỡ
giữa Tin mừng và hồn dân tộc, để xây dựng
một nếp sống và một lối diễn tả
đức tin ngày càng phù hợp hơn với nền
văn hóa dân tộc.” (Thư chung 1998, số 13)
- Hội
nhập văn hóa trong việc giảng dạy
Điểm
cốt lơi cho phương pháp giảng dạy của chúng
ta là làm thế nào để tŕnh bày Chúa Kitô- được
sinh ra trong phần đất Á Châu, cho người Á Châu có
thể hiểu được. Bởi đó, vấn đề
của chúng ta ngày nay là phải xác định lại
căn tính Á Châu của Chúa Giêsu. Ngài là người Á Châu và
cách sống, suy nghĩ và hành động của Ngài đều
mang đậm màu sắc văn hóa Á Châu. Bên cạnh đó,
chúng ta cần thay đổi phương pháp giảng dạy:
“Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ư thức
rơ về nhu cầu khẩn khiết của Giáo Hội tại
Á Châu, muốn tŕnh bày mầu nhiệm Chúa Kitô cho các dân tộc
ḿnh, theo những kiểu mẫu văn hoá và cách suy nghĩ
của họ. Các Ngài chỉ rơ rằng việc hội nhập
đức tin như thế trên lục địa các Ngài, gồm
có việc tái khám phá khuôn mặt Á Châu của Chúa Giêsu và việc
t́m ra những phương cách để các nền văn
hoá Á Châu có thể nắm bắt ư nghĩa cứu độ
phổ quát của mầu nhiệm Chúa Giêsu và Giáo hội
Người.” (EA 20)
Tông huấn
đă đề ra phương pháp giảng dạy như
sau: “Nói chung, phương pháp kể truyện, quen thuộc
với văn hoá Á Châu, th́ đáng được dùng ưu
tiên. Quả thực, việc rao giảng Chúa Giêsu Kitô có thể
có hiệu quả nhất bằng cách kể lại câu chuyện
về Người, như sách Phúc âm làm. Các khái niệm hữu
thể học có liên quan, mà phải luôn luôn được
hàm ư và diễn tả khi đang tŕnh bày về Chúa Giêsu, có thể
được bổ sung nhờ những viễn tượng
có tính cách tương quan, lịch sử và cả đến
tính vũ trụ. Các Nghị Phụ lưu ư, Giáo hội phải
cởi mở với những phương cách mới và gây
ngạc nhiên, nhờ vậy mà gương mặt Chúa Giêsu
có thể được tŕnh bày tại Á Châu. Thượng
Hội Đồng khuyến cáo rằng việc dạy giáo
lư tiếp sau đó, phải theo ‘một khoa sư phạm
có tính gợi ư, sử dụng những câu truyện, những
dụ ngôn và những biểu tượng rất đặc
trưng của phương pháp giảng dạy Á Châu’. Sứ
vụ của chính Chúa Giêsu cho thấy rơ giá trị của
việc tiếp xúc cá nhân, điều này đ̣i hỏi nhà
truyền giáo phải lưu tâm đến hoàn cảnh
người nghe, để có thể cống hiến một
sự loan báo tương xứng với tŕnh độ
trưởng thành của người nghe, qua một h́nh thức
và ngôn ngữ xứng hợp.” (EA 20).
Trong kho
tàng văn hóa Việt Nam, có rất nhiều chuyện kể,
truyền thuyết, thần thoại, ngụ ngôn, biểu
tượng,… mà chúng ta cần sử dụng để giới
thiệu gương mặt Châu Á của Chúa Kitô. Chúng ta cần
học hỏi nơi những anh em Phật giáo nhiều, v́
họ đă tạo ra được một h́nh ảnh ông
Bụt sống động, từ bi, xả kỷ…
- Tôn
kính ông bà tổ tiên
Đối
với người Việt Nam chúng ta, việc tôn kính ông bà
tổ tiên rất được đề cao. Đề
cao đến độ mà việc tôn kính đă trở thành
đạo: đạo ông bà, đạo hiếu,
đạo thờ cúng tổ tiên.
Để
đánh giá một người nào, người Việt chúng
ta thường dựa vào cách đối xử của
người đó với ông bà, cha mẹ. Thậm chí
người ta c̣n coi việc báo hiếu trọng hơn
việc đi tu:
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cho kính mẹ ấy là chân tu.
Người
Việt Nam tôn kính tổ tiên v́ 2 lư do chính:
-Đạo
lư uống nước nhớ nguồn: Chim có tổ, suối có nguồn,
cây có cội, con người cũng có tổ tiên. Chúng ta
biết ơn đấng sinh thành và dưỡng dục
chúng ta.
- V́
huyết thống, xin tổ tiên phù trợ chúng ta: Đối với người
Việt Nam, chết không phải là hết, nhưng
người chết vẫn c̣n quanh quẩn bên
người sống để che chở cho con cháu.
Bởi đó, người Việt Nam thường khấn
xin tổ tiên ông bà phù hộ cho con cháu. Và khi chết
người Việt Nam lại về với ông
bà, tổ tiên.
Chúng ta
nhớ ơn các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ v́ các ngài
đă sinh ra, dưỡng nuôi và giáo dục chúng ta nên
người. Đối với người Việt Nam
chúng ta, đây là công ơn lớn lao nhất mà chúng ta không
thể nào quên được, v́:
Ai mà phụ nghĩa quên công,
Th́ đeo trăm cánh hoa hồng chẳng
thơm.
Trong
lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, có một
người đă hỏi một nhà truyền giáo rằng:
cha mẹ tôi đă chết và trước đây họ không
theo đạo; như vậy, họ có được vào
thiên đàng không? Nhà truyền giáo trả lời là không
được (vì trước đây, Giáo hội
chúng ta quan niệm rằng chỉ những ai rửa
tội mới được vào thiên đàng).
Người này đã nói với
nhà truyền giáo rằng vậy tôi cũng không
thể vào đạo được, vì
nếu vào đạo tôi sẽ được
hưởng hạnh phúc ở trên thiên
đàng, còn cha mẹ tôi lại phải chịu
đày đọa trong hỏa ngục. Như vậy,
làm sao tôi có thể hưởng hạnh
phúc trong khi cha mẹ thì phải đau khổ
trầm luân…
Việc
tôn kính tổ tiên vừa có tính cách gia đ́nh, vừa có tính
cách xă hội. Trong các gia đ́nh, việc tôn kính tổ tiên
được thực hành vào những dịp lễ
như đám tang, lễ giỗ, lễ cưới, Tết
Nguyên đán, và trong những dịp lễ khác. Trong
những dịp lễ này, người trưởng trong
gia đ́nh thường đốt nhang để báo cáo
với tổ tiên và xin tổ tiên phù hộ. Nhất là trong
dịp Tết Nguyên đán, khi tất cả con cháu tụ
họp về đông đủ. Sau khi cúng trời
đất là nghi thức dâng hoa, dâng qủa, dâng nhang đèn
cho tổ tiên, ông bà đă khuất và chúc thọ cho ông bà cha
mẹ c̣n sống. Việc tôn kính này c̣n mở rộng ra
ngoài xă hội: nhớ ơn những người có công
dựng nước và giữ nước.
Việc
tôn kính tổ tiên sẽ giúp cho con cái luôn sống thảo
hiếu với cha mẹ, tạo ra được sự
liên kết trong gia đ́nh. Đối với xă hội, Tôn kính tổ tiên là cách tốt
nhất để tạo sự ḥa hợp dân tộc,
củng cố ḷng yêu nước thương ṇi, v́ nó
nhắc nhở mọi người về một nguồn
gốc chung, cùng một giống ṇi, dù khác biệt về
tôn giáo, chính kiến hay vị trí xă hội.
Một
số nhà truyền giáo trước đây không hiểu
rơ việc thờ cúng này, coi đây như là một
h́nh thức của ḷng tin tôn giáo, nên đã tạo ra
sự cấm đoán. Hậu qủa là công việc
truyền giáo ở Việt Nam đă không phát triển
mạnh được. Và ngày nay, nó c̣n là một khó khăn
rất lớn trong mục vụ và là một thách
đố thực sự trong việc loan báo Tin mừng.
Việc
cấm thờ cúng Tổ Tiên đă làm cho người Công
giáo bị coi như những kẻ xa lạ trong chính
đất nước của ḿnh và đây cũng là lư do
chính để các Vua Chúa thời Nguyễn bách hại
đạo chúng ta. Ngày nay, c̣n rất nhiều người
ngoài Công giáo vẫn cho rằng người Công giáo bỏ
ông bà, tổ tiên, không khói hương, không nhang đèn:
Lấy người Công giáo làm chi?
Chết th́ ai cúng? Giỗ th́ ai lo?
Lấy ai săn sóc mả mồ?
Lấy ai lo lắng bàn thờ Tổ
Tiên?
Cũng
v́ nghĩ như vậy mà nhiều người không
muốn theo đạo. Chúng ta phải làm sao để xua
tan đi sự hiểu lầm này?
Như
đă tŕnh bày, người Á Châu có một cái nh́n tổng
hợp và hài ḥa về mọi thực tại. Nếu
một tôn giáo nào không thích hợp với sự hài ḥa này, nó
sẽ bị tẩy chay. Tam giáo được chấp
nhận ở Việt Nam v́ họ đă biết tùy duyên hóa
độ. Đặc biệt họ đă tiếp nhận
việc tôn kính tổ tiên- tín ngưỡng nền tảng
của dân tộc, rồi làm vững mạnh và phong phú nó.
Do đó, những điều tốt đẹp của các
tôn giáo này đă thấm nhuần vào nền văn hóa
Việt Nam, trở thành hồn dân tộc.
Xét cho
cùng, việc tôn kính ông bà tổ tiên chỉ có tính cách văn
hóa và luân lư trong đời sống xă hội và gia đ́nh,
chứ không có tính cách tôn giáo. Trong việc hội nhập
văn hóa, chúng ta cần chú trọng đến yếu
tố văn hóa hết sức nền tảng này,
vì nó ảnh
hưởng rất lớn đến việc loan báo Tin
mừng.
Thực
ra người Công giáo vẫn kính nhớ ông bà tổ tiên,
nhưng với cách thức khác người ngoài Công giáo.
Giáo hội Công giáo có những ngày dành riêng để kính
nhớ ông bà tổ tiên cũng như những người
đă ly trần, và dành trọn tháng 11 để cầu
nguyện cho những người đă qua đời. Trong
các thánh lễ an táng, lễ giỗ, lễ các đẳng,
v.v., có các lời nguyện đặc biệt chỉ cho
người qua đời. Người Công giáo biểu
lộ niềm tin vào Đức Kitô, Đấng đă phục sinh
từ cơi chết, Đấng sẽ cho ông bà tổ tiên và
những người đă qua đời cũng
được phục sinh như Người và
được hưởng hạnh phúc muôn đời.
Chúng ta cũng nhớ đến các bậc tổ tiên, ông
bà, cha mẹ, v́ các ngài đă có công đón nhận
đức tin, sống đức tin một cách mănh
liệt và truyền lại cho ta. Các ngài đă đi mở
đường rồi khai phá và xây dựng vùng đất
này để ngày nay chúng ta có được nơi sinh
sống, làm ăn và thờ phượng Chúa. Người
tín hữu c̣n biết ơn biết bao vị thánh đă ra
đi trước, đă làm đẹp ḷng Chúa và đă
được tôn vinh trên bàn thờ, trên trời.
Dĩ
nhiên, việc thờ cúng tổ tiên có một số điều
không phù hợp với đức tin Công giáo, như dâng cúng
đồ ăn, tiền, đồ dùng cho người qúa
cố. Đây cũng là cách báo hiếu, v́ nghĩ rằng người
chết vẫn c̣n ăn uống và sử dụng
đồ đạc như người sống. Nhưng
người Công giáo tin rằng người chết th́ không
c̣n ăn uống được nữa. Từ năm 1964,
HĐGMVN đă cho phép thi hành một số h́nh thức tôn
kính dành riêng cho ông bà tổ tiên, vừa loại bỏ
điều ǵ xem ra như là mê tín dị đoan. Theo đó,
nguời Công giáo có thể có những bàn thờ tổ tiên
trong gia đ́nh; và trên bàn thờ này người ta có thể
trưng những h́nh ảnh hay bài vị của tổ tiên;
và trước những h́nh ảnh và bài vị nầy,
người ta có thể dâng hương và cúi ḿnh tôn kính.
Nhưng ngày nay, nhiều người Công giáo vẫn coi
việc tôn tính tổ tiên như một điều cấm
kỵ hoặc chỉ tôn kính cho có h́nh thức.
Việc
tôn kính tổ tiên không chỉ là bổn phận tự nhiên,
mà c̣n là đ̣i hỏi của Thiên Chúa. Thiên Chúa đ̣i
buộc chúng ta: “Phải thảo kính cha mẹ”, và
trong sách Xuất hành, Thiên Chúa còn ban
luật rõ: “Kẻ nào đánh đập
hoặc nguyền rủa cha mẹ mình, kẻ
ấy tất phải chết” (Xh 21.15,17). “Hăy tôn kính cha
mẹ để ngươi được hạnh phúcvà
hưởng thọ trên mặt đất này.”
Công
đồng Vatican II đă tuyên bố: “Những ǵ tốt
đẹp trong tâm hồn và tư tưởng của loài
người hoặc trong nghi lễ và văn hóa riêng của
các dân tộc, hoạt động của Hội thánh không
nhằm tiêu diệt, nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và
kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu
hạnh phúc cho con người.” (LG 17, 1) Thư chung của
HĐGMVN đã định nghĩa Hội nhập
văn hóa “là t́m ra những điểm gặp gỡ
giữa Tin mừng và hồn dân tộc, để xây
dựng một nếp sống và một lối diễn
tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với
nền văn hóa dân tộc.” (Thư chung 1998, số 13) Các
Giám mục Việt Nam đă giải thích rơ hơn về
mối quan hệ giữa Tin mừng và văn hóa Việt
Nam và khuyến khích người Công giáo Việt Nam đem
những giá trị của Tin mừng làm phong phú và thăng
tiến những giá trị của văn hóa Việt Nam:
“Yêu thương và hiệp nhất là đặc
điểm của Tin mừng Chúa Giêsu Kitô và cũng là
điểm gặp gỡ sâu xa nhất giữa Tin mừng
và văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa vốn
lấy nghĩa đồng bào và đạo hiếu trung làm
nền tảng cho đạo đức xă hội.” (Thư
chung 1998, số 5). Qua bản góp ư của HĐGMVN gởi
cho Thượng Hội đồng Giám mục Châu Á, các Giám
mục Việt Nam đă nhận định: “Với
những đức tính như ḷng hiếu thảo
đối với ông bà cha mẹ, kính trên nhường
dưới trong gia đ́nh, với một tâm hồn yêu
thích tĩnh mịch và chiêm niệm, người Việt Nam
là một mảnh đất tốt để đón
nhận những giá trị thiêng liêng hàm chứa trong Tin
mừng… Đạo lư Đông phương vốn trọng
chữ Trung, chữ Hiếu và chữ Nhân rất gần
với tinh thần của Kitô giáo: trung với Chúa, hiếu
thảo với ông bà cha mẹ tổ tiên và nhân ái với
mọi người.” “Muốn thế, một đàng chúng
ta phải đào sâu Thánh kinh và Thần học để
nắm vững những điều cốt yếu của
Đức tin, đàng khác phải đào sâu nếp sống
của từng dân tộc trong nước, để khám
phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc.
Rồi từ đó, chúng ta tận dụng những cái hay
trong một kho tàng văn hóa mà xây dựng một nếp
sống và một lối diễn tả Đức tin phù
hợp hơn với truyền thống của mỗi dân
tộc đang cùng chung sống trên Quê hương và trong
cộng đồng Hội thánh này.” (Thư chung 1980, số
11)
Có
một sự liên kết chặt chẽ giữa việc
tôn kính tổ tiên và đức tin Công giáo. Có nhiều
điểm rất gần gũi và rất phù hợp
với đức tin Công giáo như mối liên hệ
giữa người sống và người chết, linh
hồn bất tử, tin ở đời sau, đạo
hiếu, đạo lư uống nước nhớ nguồn,
cùng chung một nguồn gốc. Đây là những
điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân
tộc, giúp chúng ta xây dựng một nếp sống và
một lối diễn tả đức tin ngày càng phù
hợp hơn với nền văn hóa dân tộc:
- Chúng
ta có thể nói về Thiên Chúa từ chính ông bà tổ tiên
chúng ta:
Thật
vậy, chúng ta có thể rao giảng về một Thiên Chúa,
là chính Tổ Tiên của cả nhân loại, nguồn
mọi t́nh phụ tử, “nguồn gốc mọi gia
tộc trên trời dưới đất” (Ep 3, 14). Thiên
Chúa đă sinh ra con người, ngài là Cha đầy ḷng nhân
ái, Ngài yêu thương, quan pḥng và dưỡng nuôi chúng ta:
“Cho dù người mẹ có quên con ḿnh, th́ Ta, Ta sẽ
chẳng bao giờ quên ngươi” (Is 49, 15). Điều này đă
được công đồng Vatican II quả quyết:
“Mọi dân tộc đều thuộc về một
cộng đoàn cùng chung một nguồn gốc, v́ Thiên Chúa
đă cho toàn thể nhân loại sinh sống trên mặt
địa cầu (x. Cv 17,26). Thiên Chúa muốn tập
họp nhân loại vào một gia đ́nh chung, trong đó
mọi người đối xử với nhau như anh
chị em. Do đó, mọi người cũng phải có
bổn phận hiếu thảo với Cha trên trời. Trong
bản góp ư của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội
đồng Giám mục Châu Á, các Giám mục Việt Nam
đă đề nghị giới thiệu Giáo hội như
một gia đ́nh của Thiên Chúa, trong đó Thiên Chúa là Cha,
Chúa Giêsu là Trưởng Tử, mọi người là anh
chị em với nhau nhờ được liên kết
với Người: ai thi hành ư muốn của Chúa Cha,
người ấy là anh chị em của Chúa Kitô (x. Mt 12,
50). Chúa Giêsu cũng khẳng định mọi
người chỉ có một Cha trên trời (x. Mt 23, 9). Và
Người nói với các môn đệ: “Thầy lên cùng Cha
của Thầy, cũng là Cha của anh em.” (Ga 20, 17) Người
đă vâng lời Cha trên trời cho đến chết và
hiếu thảo với cha mẹ trần thế, hằng
vâng phục các ngài (x. Lc 2, 51). Cũng chính v́ thế, một
khuôn mặt Chúa Kitô hiền hậu và khiêm nhường (x.
Mt 11, 29), phản ánh một người Cha nhân hậu (x. Lc
6, 36), Đấng muốn qui tụ mọi người
trong đại gia đ́nh nhân loại mới, trong đó
mọi người hiếu với Cha, yêu thương ḥa
hợp với anh em, dễ thu hút tâm hồn Châu Á.
-
Về việc hiếu thảo với cha mẹ:
Người
Công giáo còn phải hiếu thảo với cha mẹ v́
Thiên Chúa là Cha chúng ta đă dậy như thế (giới
răn thứ 4). Trong nền văn hóa toàn cầu ngày nay, nền
tảng gia đ́nh đang bị lung lay, Giáo hội cần
đặc biệt bảo vệ và phát triển đạo
hiếu, v́ đó là một trong những yếu tố
củng cố nền móng gia đ́nh một cách hữu
hiệu.
-
Về mối liên hệ giữa người sống và
người chết, sự sống ở kiếp sau, linh
hồn bất tử:
Người
Việt Nam tin rằng chết không phải là
hết, mà sinh thì (sống thật), sinh ký
tử qui, người chết vẫn còn
lảng vảng bên con cháu. Dựa vào niềm
tin này, chúng ta có thể nói cho người ngoại
giáo về tín điều các thánh thông công, sự sống
đời đời…
Đó
chính là những “hạt giống của Lời,” ánh sáng chân
lư, được Thiên Chúa chuẩn bị cho người
Việt Nam để đón nhận Tin mừng. Do đó,
chúng ta cần lành mạnh hóa những điều
tốt đẹp trong nghi lễ Tôn kính Tổ tiên
này, nâng cao và kiện toàn chúng, hầu làm vinh danh
Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người. Nhờ đó, Tin Mừng mới
dễ dàng đi vào ḷng người hơn.
Chúng ta
cần khuyến khích và cổ vũ cho việc tôn kính
tổ tiên để có cùng một tâm t́nh với
đồng bào của chúng ta và để tạo ra sự
gần gũi, ruột thịt như nền văn hóa
Việt Nam đă nhắc nhở chúng ta cùng chung một bào
thai (đồng bào). Chúng ta cần gạn đục
khơi trong, bài trừ những ǵ là mê tín dị đoan và
thăng tiến những cái tốt, cái hay, cái đẹp
trong nền văn hóa Việt Nam.
Việc
tôn kính tổ tiên theo văn hóa Việt Nam được
thực hành trong các gia đ́nh vào những dịp lễ
như đám tang, lễ giỗ, lễ cưới, Tết
Nguyên đán, … V́ vậy, mỗi gia đ́nh Công giáo nên có
một bàn thờ tổ tiên, được đặt bên
dưới bàn thờ Chúa, để nhắc nhở con cháu
về đạo lư làm người, con cái thảo hiếu
với cha mẹ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Trong
những dịp lễ giỗ, những người Công giáo
nên mời bạn bè, láng giềng, những người
thuộc các tôn giáo khác đến để cùng cầu
nguyện cho ông bà tổ tiên và chia sẻ bữa cơm thân
mật. Việc hội nhập văn hóa liên quan
đến thờ cúng tổ tiên trong những dịp
lễ như Tết Nguyên Đán, giỗ tổ Hùng
Vương, lễ cưới, lễ an táng, lễ
giỗ, … cần được nghiên cứu và áp dụng
trong gia đ́nh và trong cả nhà thờ,
để tạo ra sự gần gũi hơn với những
người ngoài Công giáo. Đây cũng là những dịp
tốt để người Công giáo loan báo Tin mừng, v́
trong những dịp lễ này những người ngoài
Công giáo thường đến chia sẻ với chúng ta
niềm vui cũng như nỗi buồn.
Việc
tôn kính tổ tiên vừa là bổn phận của chúng ta,
vừa là cách để chúng ta giới thiệu về
đạo chúng ta cho những người ngoại. V́
việc tôn kính tổ tiên sẽ giúp chúng ta dễ gần
gũi, dễ ḥa đồng với những người
bên lương và qua đó, chúng ta có thể giới
thiệu với họ một vị Thiên Chúa là Cha,
đầy ḷng thương xót, là tổ tiên của cả
nhân loại.
b.
Đối thoại liên tôn
Có 4 h́nh
thức đối thoại liên tôn:
- Đối
thoại bằng cuộc sống: Mọi Kitô hữu đều
được mời gọi đem tinh thần Tin Mừng
vào trong môi trường sống và làm việc của ḿnh: sống
trong tinh thần cởi mở và thân thiện láng giềng;
cùng nhau chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, những khó
khăn cũng như những lo toan của con người
trong cuộc sống.
- Đối
thoại bằng hành động: Các Kitô hữu và những
người khác cộng tác với nhau trong việc giải
phóng và phát triển con người.
- Đối
thoại bằng cách trao đổi về mặt thần học
(c̣n gọi là đối thoại giữa các chuyên gia):
Các chuyên viên đào sâu hơn sự hiểu biết của
họ về các di sản của các tôn giáo và đánh giá
đúng về những giá trị tinh thần của mỗi
tôn giáo.
- Đối
thoại bằng con đường kinh nghiệm tôn giáo:
Các tín đồ của các tôn giáo có thể chia sẻ cho
nhau những điều tốt đẹp trong tôn giáo của
ḿnh. Chẳng hạn chia sẻ kinh nghiệm về cầu
nguyện, chiêm niệm, đức tin, bổn phận, cách
diễn tả Tuyệt Đối hay phương cách t́m kiếm
Tuyệt Đối, nhất là những cảm nghiệm về
Tuyệt Đối. Đây là kiểu đối thoại
làm phong phú đời sống tâm linh của nhau, thăng tiến
và duy tŕ những giá trị cao cả nhất và những lư
tưởng tâm linh (x. DP 42).
“Mỗi
thành viên và tất cả cộng đồng Kitô hữu
được mời gọi để tham gia đối thoại,
dù không luôn luôn ở cùng một tŕnh độ hoặc cùng một
phương thức. Sự đóng góp của họ thực
sự cần thiết trong lănh vực này, bởi v́ họ
có thể cải thiện các mối quan hệ giữa các
tín đồ của các tôn giáo khác nhau, qua gương sáng của
họ trong những hoàn cảnh họ sống và trong những
hoạt động của họ. Một số người
trong họ cũng có thể đóng góp qua việc t́m ṭi
nghiên cứu.” (RM 57). Tông huấn Giáo hội tại Á Châu nhấn
mạnh đến sự cần thiết phải đối
thoại bằng cuộc sống và bằng con tim. Đối
thoại bằng cuộc sống đ̣i hỏi phải có
những cuộc gặp gỡ thân thiện, kính trọng,
yêu thương và hợp tác với nhau. Đối thoại bằng
con tim đ̣i hỏi phải có tấm ḷng hiền lành và
khiêm nhường của Chúa Giêsu (x. EA 31 ). Đối thoại
giúp làm cho nhau phong phú về mặt tâm linh, về sự cảm
nghiệm thiêng liêng, về kiến thức tôn giáo, giúp xua
tan những hiểu lầm và thành kiến. Đối thoại
phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn
nhau, kính trọng nhau và hợp tác với nhau trong các lănh vực
xă hội, luân lư và giáo dục, để xây dựng cuộc
sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn.[40]
Khi
đối thoại với các tín đồ các tôn giáo khác,
người Kitô hữu cần yêu thương, tôn trọng,
lắng nghe và cố gắng thấu hiểu những ǵ mà
họ muốn thông truyền cho ḿnh, coi đó là những món
quà Thiên Chúa ban cho để đem lại lợi ích thiêng
liêng cho ḿnh. Người Kitô hữu phải luôn sẵn sàng
để được “thanh tẩy” và cả được
“biến đổi” qua các cuộc gặp gỡ đó.[41]
Bởi v́, chân lư vẹn toàn nơi Chúa Kitô không bảo đảm
cho người Kitô hữu rằng họ đă nắm
được chân lư đó trọn vẹn. Trong khi giữ
vững căn tính của ḿnh, người Kitô hữu cần
được chuẩn bị để học hỏi và
đón nhận từ những người khác những giá
trị tích cực của các truyền thống của họ
(x. DP 49). Đối thoại dẫn đến việc hoán
cải nội tâm (hoán cải đối với Thiên Chúa) của
cả hai phía trong đối thoại (x. RM 56). Bởi vậy,
một cuộc đối thoại chân thành và đích thực
không nhắm đến việc lôi kéo người khác theo
đạo, v́ sự hoán cải hoàn toàn tuỳ thuộc vào
lời mời gọi bên trong của Thiên Chúa và sự tự
do đáp trả của con người.[42]
Nhưng đối thoại phải mở ra con đường
để loan báo Tin mừng. Chúng ta không đối thoại
để loan báo; tuy nhiên, đối thoại là công việc
của Chúa Thánh Thần. Chính Ngài quyết định chúng
ta phải loan báo hay không, phải loan báo khi nào, ở đâu
và loan báo như thế nào, như Ngài đă hướng dẫn
các tông đồ xưa trong sách Công vụ tông đồ.[43]
Trong bối
cảnh Việt Nam, người ta thích đối thoại
qua chứng tá sống động hơn là tranh luận về
giáo lư, và người ta quan tâm nhiều đến những
giá trị luân lư hơn là những khác biệt giữa các
tôn giáo. FABC cũng chỉ ra rằng một trong những
cách hiệu quả nhất của đối thoại liên
tôn là đối thoại bằng cuộc sống, và cách tốt
nhất của nó là sự thăng tiến con người.[44]
Bởi đó, đối thoại bằng cuộc sống
và bằng hành động với những người thuộc
các tôn giáo khác cùng sống và làm việc trong một môi
trường, rất dễ thực hiện và có hiệu quả
nhất. Qua đó, người ta có thể “làm chứng
trước người khác trong cuộc sống hằng
ngày về những giá trị tinh thần và nhân bản của
chính họ và giúp người khác sống theo những giá trị
này, để xây dựng một xă hội ngày càng công bằng
và huynh đệ hơn.” (RM 57) Hơn nữa, những
người có tín ngưỡng và những người thuộc
các tôn giáo khác nhau sống gần gũi với nhau trong bầu
khí ḥa b́nh và tôn trọng lẫn nhau, nên đối thoại
bằng đời sống và bằng hành động rất
dễ thực hiện trong bối cảnh Việt Nam. Nó có
thể “diễn ra ngay trong cuộc sống hằng ngày giữa
các tín đồ cùng sống trong một thôn xóm, khu phố,
qua cách giao tiếp, làm ăn, buôn bán với nhau cũng
như chia cơm sẻ áo cho nhau.” Người Công giáo có thể
thăm viếng những người thuộc các tôn giáo
khác, chúc mừng họ khi họ gặp vui, an ủi khi buồn
và nâng đỡ khi họ gặp hoạn nạn. Đó là
những trang Phúc âm sống động giúp anh chị em
ngoài Công giáo nhận ra chân dung Chúa Giêsu và hiểu biết
đạo Chúa cách chính xác hơn. Đối thoại để
hiểu biết, xóa bỏ những thành kiến, chấp nhận
nhau, tôn trọng, yêu thương nhau và hợp tác với
nhau trong việc phục vụ hạnh phúc của đồng
bào (x. Thư chung 2001, số 13; Thư chung 2003, số 11).
Đức
Thánh Cha hướng dẫn cho người công giáo Việt
Nam qua sứ điệp chào mừng hàng giáo phẩm năm
2002: “Để chu toàn không ngừng sứ mạng yêu
thương và phục vụ, Giáo Hội công giáo cũng
được mời gọi chia sẻ niềm hy vọng
của ḿnh bằng đường lối đối thoại,
một lối đối thoại phát sinh và triển nở
trong cuộc đối thoại cứu độ do t́nh yêu
thương của Cha đối với nhân loại, nhờ
Chúa Con và trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Một
lối đối thoại chân thành và xây dựng giữa tất
cả các nhân tố của xă hội dân sự là đường
lối duy nhất mang lại niềm hy vọng mới cho
toàn dân Việt Nam.”
Chúng ta
cần được đào tạo để trở thành
người biết lắng nghe, chấp nhận những
khác biệt, khiêm tốn học hỏi, yêu thương và
tôn trọng mọi người, cùng nhau hợp tác v́ lợi
ích chung.
Tại
Châu Á, những giá trị của các tôn giáo và tín ngưỡng
đă trở thành linh hồn của văn hóa. Tôn giáo và
văn hóa có ảnh hưởng lẫn nhau và gắn bó
khăng khít với nhau, không thể tách rời được.
Những giá trị của tôn giáo và văn hóa đan quyện
vào nhau và tạo nên cách sống, cách suy tư của con
người. Do vậy, đối thoại với các tôn
giáo và hội nhập văn hóa là hai tiến tŕnh bổ túc
và gắn liền với nhau.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Alejandro Cussianovich. Religious Life and the Poor: Liberation Theology
Perspectives. New York: Orbis Books, 1979.
- Bernard
Haring. Evangelization Today. New York: The Crossroad Publishing
Company, 1991.
- Charles
Van Engen, Dean S. Gilliland and Paul Pierson. eds. The Good News of the
Kingdom: Mission Theology for the Third Millennium. New York: Orbis Book,
1993.
- Charles Van Engen. Mission on the Way, Issues in
Mission Theology. USA: Baker Book , 1996.
- David J. Bosch. Transforming
Mission: Paradigm Shifts in Theology of Mission. New York: Orbis Books,
1991.
- Donald
Dorr. Mission in Today’s World. New York: Orbis Books, 2000.
- Donald
Senior and Carrol Stuhlmueller. The Biblical Foundations for Missions.
Mary Knoll, New York: Orbis Books, 1989.
- George
Vanchipurackal. Why the Missions? - A Study on the Necessity of
Evangelization. Bangalore, India: Claretian Publications, 1989.
- G.
Rosales and C.G. Arevalo, eds. For All the Peoples of Asia,
Vol 1, 3. Quezon City: Claretian Publications, 1992.
- Jacques
Dupuis, SJ. Jesus Christ at the Encounter of World Religions. New York:
Orbis Book, 1991.
-______________.
Toward a Christian Theology of Religious Pluralism. New York: Orbis
Book,1997.
- James
A. Scherer and Stephen B. Bevans. New Direction in the Mission and
Evangelization 1. New York: Orbis Book, 1992.
- James
A. Scherer. New Direction in the Mission and Evangelization 2. New York:
Orbis Book, 1994.
- J.
Andrew Kirk. What is Mission? Theological
Explorations. London: Darton, Longman & Todd, 1999.
- James
H. Kroeger, M.M., ed. Telling God’s Story, Episcopal Commission on Mission-
Catholic Bishops’ Conference of the Philippines. Quezon city: Claretian
Publications, 2001.
- Jesus
Alvarez Gomez. New Evangelization for the Third Millennium. Quezon City:
Claretian Publications, 1997.
-
John Driver. Images of the Church in Mission. Canada: Herald
Press, 1997.
- Joseph Mattam and Sebastian Kim, eds. Mission
Trends Today: Historical and Theological Perspectives. India: St Paul
Press, 1997.
- Juan Esquerda
Bifet. Spirituality for Missionary Church. Roma: Urbaniana University
Press, 1994.
- J.
Verkuyl. Contemporary Missiology- An Introduction.
Michigan: Wm. B. Eerdmans Publishing Company Co., 1987.
- L.
Legrand. Unity and Plurality- Mission in the Bible. New York:
Orbis Book, 1990.
- Lode
Wostyn. Believing Unto Discipleship:Jesus of Nazareth. Philippines:
Claretian Publications, 2003.
- Mario
Saturnino Dias. Evangelisation and Inculturation. Bombay: Daughters of
St. Paul, 2001.
-
Michael, S.J. Amaladoss. Mission Today- Reflections from an Ignatian
Perspective. India: Gujarat Sahitya Prakash, 1989.
- Müller, K.; Theo
Sundermeier; Stephen B. Bevans; Richard H. Bliese, eds. Dictionary of Mission. New York:
Orbis Book, 1997.
- Robert
J. Schreiter, ed. Mission in the Third Millennium. New York: Orbis Book,
2001.
-
Sebastian Karoremprel. Following Christ in Mission- A Foundational Course in
Missiology. Pasig City: Paulines Publications, 1996.
- Stephen
B. Bevans, SVD, ed. Models of Contextual Theology. New York: Orbis
Books, 2002.
- Thomas C.
Fox. Pentecost in Asia- A New Way of Being Church. Philippines:
Claretian Publications, 2001.
- Thomas
Menamparampil. Thoughts on Evangelization. Bombay: St. Paul Press, 1997.
- William
J. Larkin Jr. and Joel F Williams. Mission in The New Testament- An
Evangelical Approach. New York: Orbis Books, 1999.
- William
R. Burrows, ed. Redemption and Dialogue- Reading Redemptoris Missio and
Dialogue and Proclamation. New York: Orbis Book, 1993.
- Peter
Phan. “The Mission of God: Its Challenges and Demands in Today's World.” East
Asian Pastoral Review (39, 2002).
- Nguyệt
San Công giáo và Dân tộc, số 40, 4/1998
-
http://www.ucanews.com
[1] X. Donald Senior and Carrol Stuhlmueller, The
Biblical Foundations for Missions (Mary Knoll, New York: Orbis Books,
1989), tr. 100-101.
[2] X. Ibid., tr. 114-115.
[3] X. Jacques Dupuis, SJ, Jesus Christ at the
Encounter of World Religions (New York: Orbis Book, 1991), tr. 118.
[4] X. William J. Larkin Jr. and Joel F Williams, Mission
in The New Testament- An Evangelical Approach ( New York: Orbis
Books, 1999), tr. 23- 24; Jacques Dupuis, SJ, Jesus Christ at the Encounter
of World Religions, tr. 40.
[5] X. David J. Bosch, Transforming
[6] X. Donald Senior, The Biblical Foundations for
Missions, tr.134.
[7] X. David J. Bosch, Transforming
[8] X. Donald Senior, The Biblical Foundations for
Missions, tr. 141.
[9] X. William J. Larkin Jr.,
[10] X. Charles Van Engen, Dean S. Gilliland and Paul
Pierson. eds., The Good News of the Kingdom: Mission Theology for the Third
Millennium (New York: Orbis Book, 1993), tr. 72; Lode Wostyn, Believing
Unto Discipleship:Jesus of Nazareth (Philippines: Claretian Publications,
2003), tr. 90- 91; David J. Bosch, Transforming Mission, tr. 28.
[11] John Driver, Images of the Church in
[12] Có một số cách hiểu khác về sứ
vụ của Chúa Giêsu đối với dân ngoại: Có
khuynh hướng cho rằng Chúa Giêsu thực sự là một
nhà truyền giáo cho dân ngoại, v́ Ngài đă đến vùng
đất của dân ngoại, tiếp xúc với họ, chữa
bệnh cho họ, có cái nh́n thiện cảm đối với
họ và sau cùng đă sai các môn đệ khi rao giảng khắp
nơi. Khuynh hướng khác th́ cho rằng khi c̣n sống,
Chúa Giêsu không xúc tiến việc truyền giáo cho dân ngoại,
nhưng Ngài đă có ư định trong đầu và sau khi phục
sinh, Ngài đă sai các môn đệ thực hiện ư định
của Ngài. Một khuynh hướng khác cho rằng Chúa
Giêsu không đi truyền giáo cho dân ngoại, nhưng các môn
đệ, sau khi Chúa phục sinh, đă hiểu được
ư định của Chúa qua sứ điệp của Ngài. Một
khuynh hướng nữa cho rằng Chúa Giêsu không đi truyền
giáo cho dân ngoại (Mt 10, 5; 15, 24 c̣n cho thấy Chúa Giêsu
như là minh nhiên bác bỏ việc truyền giáo cho dân ngoại)
và các môn đệ cũng không suy diễn ra việc truyền
giáo này, nhưng biến cố phục sinh của Chúa đă
giúp họ ư thức rằng thời kỳ cứu độ
sau cùng đă đến: Nước nước dập d́u
kéo nhau cùng lên núi Đức Chúa, lên nhà Thiên Chúa của
Gia-cóp.
[13] Thánh Luca chú ư đặc biệt tới
ơn cứu độ phổ quát của Chúa Giêsu. Trong Tin
mừng Luca, không có lệnh truyền giống như “đừng
đi về phía dân ngoại” (Mt 10, 5), cũng không có những
lời nhận xét không tốt về dân ngoại như
trong Mt 5, 47; 6, 7. 32; 15, 26- 27,… Mt 1, 1- 16 nói gia phả của
Chúa Giêsu bắt nguồn từ ông Ap-ra-ham, tổ phụ dân
Do thái; c̣n Lc 3, 23- 38 th́ bắt đầu từ A-đam,
nguyên tổ của nhân loại. Cả ba Tin mừng Nhất
lăm đều trích Is 40, 3-5 (Mt 3, 3; Mc 1, 3; Lc 3, 4- 6), nhưng
chỉ có Lc mới nói tới “mọi người phàm” (Is
40, 5).
[14] X. Jacques Dupuis, S.J., Jesus Christ at the
Encounter of World Religions, tr. 132.
[15] X. J. Verkuyl, Contemporary Missiology- An
Introduction (Michigan: Wm. B. Eerdmans Publishing Company Co.,
1987), tr. 104; L. Legrand, Unity and Plurality- Mission in the Bible
(New York: Orbis Book, 1990), tr. 56-57; Robert J. Schreiter, ed., Mission
in the Third Millennium (New York: Orbis Book, 2001), tr. 31; Donald
Senior, The Biblical Foundations for Missions, tr. 153.
[16] X. Jacques Dupuis, Toward a Christian Theology of
Religious Pluralism (New York: Orbis Book,1997), tr. 46.
[17] X. William J. Larkin Jr., Mission in the New
Testament, tr. 214, 216; L. Legrand, Unity and Plurality, tr. 142;
Alejandro Cussianovich, Religious Life and the Poor: Liberation Theology
Perspectives (New York: Orbis Books, 1979), tr. 57.
[18] X. Jacques Dupuis, Jesus Christ at the Encounter
of World Religions, tr. 94.
[19] X. Juan Esquerda Bifet, Spirituality for
Missionary Church (Roma: Urbaniana University Press, 1994), tr. 18; David
J. Bosch, Transforming Mission, tr. 36-38.
[20] X. Thomas Menamparampil, Thoughts on
Evangelization (Bombay: St. Paul Press, 1997), tr. 10; Joe Kallarangatt, Understanding
of
[21] X. Michael Amaladoss, Delhi, The Trinity on
Mission at http://www.sedos.org/, accessed on August 29, 2003.
[22] X. James A. Scherer and Stephen B. Bevans, New
Direction in the Mission and Evangelization 1 (New York: Orbis Book, 1992),
tr. 136.
[23] X. William J. Larkin Jr.,
[24] X. James A. Scherer, New Direction in the Mission
and Evangelization 2 (New York: Orbis Book, 1994), tr. 29.
[25] X. Jacques Dupuis, Toward a Christian Theology of
Religious Pluralism, tr. 84-99; Joseph
Mattam and Sebastian Kim, eds. Mission Trends Today: Historical and
Theological Perspectives (India, Njarakkatt: St Paul Press, 1997), tr. 19; J.
Andrew Kirk, What is Mission? Theological
Explorations (London: Darton, Longman & Todd, 1999), tr. 23.
[26] X. Peter Phan, “The
[27] X. Michael, S.J. Amaladoss, Mission Today- Reflections
from an Ignatian Perspective (India: Gujarat Sahitya Prakash, 1989) tr.
10-11; Thomas Menamparampil, Thoughts on Evangelization, tr. 17.
[28] X. Jacques Dupuis, Jesus Christ at the Encounter
of World Religions, tr. 136- 140
[29] X. Gianni Colzani, Theology of Mission after
Vatican II at http://www.sedos.org/.
[30] Văn kiện Đối thoại và Rao
truyền có cái nh́n bổ túc giữa đối thoại và
loan báo Tin mừng: “Dù không nằm trong cùng một b́nh diện,
th́ cả công cuộc đối thoại liên tôn lẫn công
tác rao giảng đều là những thành tố chính thực
trong sứ mạng phúc âm hóa của Giáo hội. Cả hai
đều là chính đáng và cần thiết. Chúng liên hệ
mật thiết với nhau, nhưng không thể thay thế
cho nhau: một nỗ lực đối thoại liên tôn chân
chính về phía Kitô giáo tất phải hàm ngụ nỗi ḷng
mong muốn làm sao để Đức Giêsu Kitô được
biết đến rơ hơn, cùng được nh́n nhận
và yêu mến; việc rao giảng về Đức Giêsu Kitô cần
phải được tiến hành theo tinh thần đối
thoại của Phúc Âm. Là khác biệt nhau, nhưng như
kinh nghiệm đă cho thấy, cả hai hoạt động
ấy có thể được cùng lúc và cùng một Giáo hội
địa phương, cùng lúc và cùng một cá nhân, dấn
thân đảm nhận và tiến hành.” (DP 59)
[31] X. lnstrumentum Laboris ,số 30
[32] Thomas C. Fox, Pentecost in Asia- A New Way of
[33] X. FABC, Journeying Together Toward the Third
Millennium, Statement of the Fifth Plenary Assembly, Bandung, Indonesia, 27
July 1990, in G. Rosales, and C.G. Arevalo, eds, For
All the Peoples of Asia, Vol 1 (Quezon City: Claretian Publications, 1992),
số 1.7.
[34] X. FABC, BISA VI: Final Reflections of the Sixth
Bishops’ Institute for Social Action, Levalle, Kandy, Sri Lanka, 4-8
February 1983, in G. Rosales, and C.G. Arevalo, eds., For All
the People of Asia, Vol 1, số 8-19.
[35] Nguyệt san Công giáo và Dân tộc, số
40, 4/1998, tr. 22- 32.
[36] X. FABC, Franz-Josef Eilers, ed., For All
the People of Asia, Vol 3 (
[37] X. UCAN News, Ucan Commentary - The Role of Religious
amid the Asian Crisis, November 16, 1998 at
http://www.ucanews.com/html/uca/index.html.
[38] X. UCAN News, Ucan Document - Interreligious
Dialogue and the Synod for Asia, May 21, 1998 at http://www.ucanews.com/html/uca/
index.html.
[39] J. Verkuyl, Contemporary Missiology- An
Introduction (Michigan: Wm. B. Eerdmans Publishing Company Co., 1987), tr.
358.
[40] X. FABC, BIRA I: Statement and Recommendations of
the First Bishops’ Institute for Interreligious Affairs, Sampran, Bangkok,
Thailand, 18 October 1979, in G. Rosales, and C.G. Arevalo, eds., For
All the People of Asia, Vol 1 (Quezon City: Claretian Publications, 2002),
số 12.
[41] X. FABC, FIRA II, Second Formation Institute for
Inter-Religious Affairs, Final Statement, Redemptoris Center, Pattaya,
Thailand, 8-13 July, 1999, in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of
Asia: Federation of Asian Bishops’ Conferences, Vol 3, số 3.7.
[42] X. FABC, BIRA III: Statement and Recommendations
of the Third Bishops’ Institute for Interreligious Affairs, Madras, India,
20 November 1982, in G. Rosales, and C.G. Arevalo, eds., For All
the People of Asia, Vol 1, số 4.
[43] X. FABC, BIRA IV/7: Statement of the Seventh Bishops’
Institute for Interreligious Affairs on the Theology of Dialogue, Tagaytay
City, Philippines, 28 October-3 November 1988, in Gaudencio Rosales and C. G.
Arevalo, eds., For All the People of Asia, Vol. 1, số 13.
[44] X. James H. Kroeger, M.M., ed., Telling God’s
Story, Episcopal Commission on Mission- Catholic Bishops’ Conference of the
Philippines (Quezon city: Claretian Publications, 2001), tr. 83.