Mệnh lệnh cuối cùng của Đức Kitô
1. Giáo Hội luôn luôn coi việc dạy Giáo lư là một trong những công tác chính của ḿnh, bởi v́ trước khi lên cùng Cha Người sau khi phục sinh, Đức Kitô đă ban cho các Tông đồ một mệnh lệnh cuối cùng, là hăy làm cho muôn dân trở thành môn đệ, và dạy họ tuân giữ tất cả những ǵ Người đă truyền [1]. Như thế, Người trao phó cho các ông sứ vụ và quyền năng để công bố cho nhân loại những ǵ các ông đă nghe, những ǵ các ông đă thấy tận mắt, điều các ông đă chiêm ngưỡng và đụng chạm đến bằng tay, về Lời Hằng Sống [2]. Người cũng trao cho các ông sứ vụ và quyền giải thích cách chính thức những ǵ Người đă dạy các ông, các lời nói và việc làm của Người, các dấu lạ và các mệnh lệnh của Người. Và Người ban Chúa Thánh Thần cho các ông để chu toàn sứ vụ này.
Danh từ dạy Giáo lư được dùng rất sớm để chỉ toàn thể cố gắng trong Giáo Hội để làm cho người ta thành môn đệ, để giúp người ta tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, để nhờ tin mà họ có thể có sự sống nhờ Danh Người [3], và để dạy dỗ và giáo huấn họ ở đời này và như thế giúp xây dựng Nhiệm thể Đức Kitô. Giáo Hội không ngừng dốc hết tâm lực để thi hành công tác này.
Quan tâm của Đức Thánh Cha Phaolô VI
2. Các đức giáo hoàng gần đây đă dành cho việc dạy Giáo lư một chỗ quan trọng trong các quan tâm mục vụ của các ngài. Qua các cử chỉ, các bài giảng dạy, việc giải thích chính thức Công đồng Vatican II (mà ngài coi là cuốn Giáo lư vĩ đại của thời hiện đại), và qua suốt đời ngài, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Thánh Cha Phaolô VI đă phục vụ việc dạy Giáo lư của Giáo Hội một cách đặc biệt. Ngày 18-3-1971, ngài đă phê chuẩn Sách Hướng dẫn Chung vế Dạy Giáo lư được Bộ Giáo Sĩ soạn thảo, một sách chỉ nam vẫn c̣n là tài liệu căn bản cho việc khuyến khích và hướng dẫn việc canh tân Giáo lư trong toàn Giáo Hội. Ngài lập ra Hội nghị Quốc tế về Dạy Giáo lư vào năm 1975. Ngài định nghĩa cách khéo léo vai tṛ và tầm quan trọng của việc dạy Giáo lư trong đời sống Giáo Hội trong Đại hội Giáo lư Thế giới lần thứ nhất vào ngày 25-9-1971 [4]; ngài nhắc lại đề tài này cách đặc biệt trong Tông huấn Evangelii nuntiandi [5]. Ngài quyết định rằng việc dạy Giáo lư, nhất là cho trẻ em và giới trẻ, phải là đề tài thảo luận cho Đại hội lần thứ 4 của Thượng Hội đồng Giám mục [6], được tổ chức vào thánh 10-1977 mà chính tôi cũng được hân hạnh tham dự.
Một Thượng Hội Đồng có kết quả
3. Cuối Thượng Hội Đồng này, các Nghị phụ đă tŕnh lên Đức Thánh Cha một tài liệu rất phong phú, gồm nhiều bài góp ư trong các phiên họp, các kết luận của từng tiểu ban, sứ điệp của các ngài và Đức Thánh Cha sẽ được gửi cho dân Chúa [7], và nhất là liệt kê các đề nghị táo bạo trong đó các ngài tŕnh bày quan điểm của ḿnh về một số lớn chiều kích của việc dạy Giáo lư ngày nay.
Thượng Hội đồng đă làm việc trong một bầu không khí tạ ơn và hy vọng khác thường. Thượng Hội đồng nh́n thấy trong việc canh tân Giáo lư một món quà quư giá mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội hôm nay, một món quà mà tất cả mọi cộng đồng Kitô ở mọi tầng lớp trên toàn thế giới đă đáp lại với một ḷng đại lượng vô biên, và một sự tận tâm có sáng kiến mà ai cũng mến phục. Nhận thức cần thiết khi ấy đă được đưa ra thực hiện qua một thực tế sống động và có thể mang lại ích lợi nhờ việc Dân Thiên Chúa hết sức mở ḷng ra để đón nhận ân sủng của Chúa, và các chỉ thị từ Huấn Quyền.
4. Trong cùng một bầu khí Đức tin và hy vọng mà hôm nay tôi nói với anh em, là các chư huynh và các con cái thân yêu, về Tông huấn này. Đề tài về việc dạy Giáo lư thật bao la, nhưng Tông huấn này sẽ đề cập đến một vài khía cạnh có tính cách cục bộ và quyết định nhất của nó, như một nhấn mạnh đến những kết quả khả quan của Thượng Hội đồng. Thực ra, Tông huấn này tiếp nối những suy tư mà Đức Thánh Cha Phaolô VI đă soạn thảo, và dùng rất nhiều tài liệu mà Thượng Hội đồng để lại. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I, là người mà chúng tôi rất thán phục sự hăng say và tài năng của ngài về việc dạy Giáo lư, đă cầm những tài liệu này trên tay và đang sửa soạn ấn hành, khi ngài bất ngờ được Chúa gọi về. Ngài đă để lại cho tất cả chúng ta một gương dạy Giáo lư vừa phổ thông, vừa đặt trọng tâm vào những điều thiết yếu, một cách dạy Giáo lư gồm những lời nói và việc làm đơn sơ có thể chạm đến tâm hồn con người. Cho nên tôi được thừa hưởng cái gia tài của 2 Đức Thánh Cha để đáp lại lời yêu cầu mà các Đức Giám mục đă đề ra cuối Đại hội lần thứ 4 của Thượng Hội đồng Giám mục, và đă được Đức Thánh Cha Phaolô VI đón chào trong bài diễn từ bế mạc [8]. Tôi cũng làm như thế để chu toàn một trong những nhiệm vụ chính của sứ mạng tông đồ của tôi. Dạy Giáo lư luôn luôn là quan tâm hàng đầu trong thừa tác vụ của tôi như một linh mục và một giám mục.
Tôi tha thiết mong ước rằng đối với toàn thể Giáo Hội, Tông huấn này sẽ củng cố tinh thần hợp nhất trong Đức tin và đời sống Kitô hữu, làm cho tươi mát và sinh động những sáng kiến đang có sẵn, khuyến khích các sáng tạo mới - cùng với sự tỉnh thức cần thiết - và sẽ giúp cho niềm vui được mang mầu nhiệm Đức Kitô đến cho thế gian được lan tràn trong các cộng đoàn.
Đưa đến sự hiệp thông với Con Người Đức Kitô
5. Đại hội lần thứ 4 của Thượng Hội đồng Giám mục thường nhấn mạnh đến việc đặt Đức Kitô làm trọng tâm của tất cả các việc dạy Giáo lư chân chính. Ở đây, chúng ta có thể dùng chữ “đặt Đức Kitô làm trọng tâm” theo 2 ư nghĩa, không đối chọi nhau cũng không loại bỏ nhau, nhưng thay v́ thế, chúng cần nhau và bổ túc cho nhau.
Trước hết, cần phải nhấn mạnh rằng ở trung tâm của việc dạy Giáo lư chúng ta t́m thấy, trên thực chất, một Con Người, Con Người Chúa Giêsu thành Nazareth, “Con Một đến từ Đức Chúa Cha… đầy ân sủng và chân lư” [9], Đấng đă chịu nạn và chịu chết cho chúng ta, và giờ đây, sau khi đă sống lại, đang ở cùng chúng ta măi măi. Chính Chúa Giêsu, Đấng là “Đường, là Sự Thật, và Sự Sống” [10], và sống đời Kitô hữu là theo Đức Kitô, là nối gót Đức Kitô.
Mục đích chính và thiết yếu của việc dạy Giáo lư, theo cách diễn tả mà Thánh Phaolô, cũng như môn thần học hiện đại thích nhất, là “Mầu nhiệm Đức Kitô”. Dạy Giáo lư là một cách dẫn dắt một người để họ học tất cả các khía cạnh của mầu nhiệm này: “để làm cho mọi người thấy chương tŕnh mầu nhiệm… hiểu biết cùng với các thánh cái ǵ là chiều rộng, chiều dài, chiều cao cùng chiều sâu… biết rằng t́nh yêu của Đức Kitô vượt trên mọi kiến thức… (và được đổ đầy) bằng tất cả sự sung măn của Thiên Chúa” [11], chính là để mạc khải trong Con Người Đức Kitô toàn thể kế hoạch muôn đời của Thiên Chúa, là Đấng đă hoàn tất trong Con Người ấy, để t́m cách hiểu biết ư nghĩa của các việc làm, lời nói, và các dấu lạ Người làm, v́ các ư nghĩa này vừa tiềm ẩn vừa được tỏ lộ trong mầu nhiệm của Người. Theo nghĩa đó, mục đích tối hậu của việc dạy Giáo lư không những là đưa người ta đến tiếp xúc mà c̣n hiệp thông cách mật thiết với Đức Giêsu Kitô: chỉ ḿnh Người có thể đưa chúng ta đến t́nh yêu của Đức Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và cho chúng ta được chia sẻ đời sống của Chúa Ba Ngôi.
Truyền thụ Giáo huấn của Đức Kitô
6. Đặt trọng tâm vào Đức Kitô trong việc dạy Giáo lư cũng có nghĩa là không có ư dạy giáo huấn của ḿnh hoặc của bất cứ vị thầy nào khác, nhưng chỉ dạy giáo huấn của Đức Giêsu Kitô, là chân lư mà Người đă truyền lại, hay nói đúng hơn, Đấng là Chân lư [12]. V́ thế, chúng ta phải nói rằng trong việc dạy Giáo lư, chúng ta giảng dạy về chính Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể và Con Thiên Chúa - mọi điều khác đều được dạy quy chiếu về Người - và cũng chỉ có một ḿnh Đức Kitô là Đấng giảng dạy - người nào khác giảng dạy cũng chỉ v́ người ấy là phát ngôn viên của Đức Kitô, để Đức Kitô dùng môi miệng ḿnh mà giảng dạy. Dầu ở mức độ trách nhiệm nào đi nữa trong Giáo Hội, mọi Giáo lư viên phải luôn cố gắng truyền thụ bằng lời giảng dạy và cách sống của ḿnh giáo huấn và đời sống của Chúa Giêsu. Người ấy sẽ không t́m cách để học viên chú ư đến ḿnh, hay đồng ư với ḿnh và với ư kiến hoặc thái độ của ḿnh. Trên hết, người ấy sẽ không cố gắng ghi khắc vào đầu óc học viên những ư kiến hay sự chọn lựa riêng của ḿnh như là chúng diễn tả giáo huấn của Đức Kitô hay bài học rút ra từ đời sống của Người. Mọi Giáo lư viên phải áp dụng cho ḿnh những lời mầu nhiệm của Chúa Giêsu: “Giáo huấn của Tôi không phải của Tôi, nhưng của Đấng đă sai Tôi”[13]. Thánh Phaolô đă làm điều này khi ngài trả lời một câu hỏi tối quan trọng: “Tôi cũng truyền lại cho anh em những ǵ tôi nhận được từ Chúa” [14]. Để một Giáo lư viên có thể nói: “Những ǵ tôi dạy không phải của tôi”, người ấy phải chăm chỉ học Lời của Thiên Chúa truyền lại qua Huấn quyền Giáo Hội như thế nào, phải có sự liên hệ mật thiết với Đức Kitô và Đức Chúa Cha thế nào, phải có một tinh thần cầu nguyện thế nào, và phải từ bỏ chính ḿnh thế nào!
7. Giáo huấn này không phải là một mớ chân lư trừu tượng. Nó là sự truyền thông mầu nhiệm sống động của Thiên Chúa. Con Người dạy giáo huấn này trong Tin Mừng là Đấng hoàn toàn cao vời trong sự tuyệt hảo, hơn hẳn các vị “thầy” trong dân Israel, và bản chất của học thuyết của Người vượt trên các học thuyết của họ về mọi phương diện, bởi v́ sự liên hệ thuần nhất giữa những ǵ Người nói và làm với chính bản chất của Người. Tin Mừng nói rơ về những trường hợp mà Chúa Giêsu “giảng dạy”. “Người bắt đầu làm và giảng dạy”[15] - với 2 động từ này được đặt ngay trên đầu sách Công vụ Tông đồ, Thánh Luca vừa nối kết vừa phân biệt 2 khía cạnh của sứ vụ Đức Kitô.
Chúa Giêsu đă dạy. Chính những chứng từ mà Người làm cho chính ḿnh: “Hằng ngày tôi đă ngồi giảng dạy trong đền thờ”[16]. Chính sự quan sát đầy ngưỡng mộ của các Thánh sử, ngạc nhiên khi thấy Người dạy khắp nơi và mọi lúc, dạy bằng một cách thế và với một uy quyền mà chưa ai từng biết đến: “Đám đông lại tụ họp chung quanh Người, và như thường lệ, Người lại dạy dỗ họ”[17]; “và họ ngạc nhiên về giáo huấn của Người, v́ Người dạy họ như một Đấng có uy quyền”[18]. Ngay cả những kẻ thù ghét Người cũng có ư dùng việc này làm cớ để tố cáo và kết án Người: “Nó đă khích động dân chúng, bằng cách giảng dạy khắp vùng Giuđê, từ Galilê cho đến tận chỗ này”[19].
8. Đấng giảng dạy cách này đáng được tôn phong bằng một tước hiệu “Thầy” độc đáo. Trong toàn thể Tân Ước, nhất là trong các sách Tin Mừng, biết bao nhiêu lần người ta đă gọi Người là Thầy![20] Đương nhiên là Nhóm Mười Hai, các môn đệ khác, và các đám đông dân chúng nghe Người đều gọi Người là “Thầy” cách kính trọng, tin cậy và tế nhị[21]. Ngay cả những người Pharisiêu và Xa Đốc, các luật sĩ, các người Do Thái nói chung cũng không ngại gọi Người là: “Thưa Thầy, chúng tôi muốn xem một dấu lạ từ Thầy”[22]; “Thưa Thầy, tôi phải làm ǵ để được thừa hưởng sự sống đời đời?”[23] Nhưng trên hết, đặc biệt là chính Chúa Giêsu trong những giây phút long trọng và ư nghĩa nhất đă nhận ḿnh là Thầy: “Các con gọi Thầy là Thầy và là Chúa; và các con nói đúng, v́ Thầy chính là Thầy, là Chúa”[24]; và Người đă công bố tính duy nhất, tính độc nhất của đặc tính của Người như một vị Thầy: “Các con có một Thầy”[25] là Đấng Kitô. Chúng ta có thể hiểu tại sao trong 2.000 năm qua, dân chúng đủ loại, đủ chủng tộc và dân tộc bằng mọi ngôn ngữ trên thế giới đă gọi Người bằng danh hiệu này với ḷng tôn kính, bằng cách tự ḿnh nhắc lại lời của ông Nicôđêmô: “Chúng tôi biết Thầy là Vị Thầy đến từ Thiên Chúa”[26].
H́nh ảnh này của Đức Kitô là Thầy vừa uy phong vừa quen thuộc, vừa đáng phục vừa đáng tin cậy. H́nh ảnh ấy được diễn tả bởi ng̣i bút của các Thánh sử và thường được gợi lại sau đó bằng những h́nh ảnh được vẽ từ thời Kitô giáo sơ khai[27], là h́nh ảnh thật hấp dẫn. Đến lượt tôi được hân hạnh gợi lại h́nh ảnh này để bắt đầu những suy nghĩ về việc dạy Giáo lư trong thế giới hiện đại.
Giảng dạy qua toàn thể cuộc đời của Người
9. Khi làm như thế, tôi không quên rằng chỉ có thể giải thích được uy phong của Đức Kitô là Vị Thầy cùng sự kiên định độc đáo và tính thuyết phục của giáo huấn của Người bằng sự thật là Lời Người, các dụ ngôn của Người và các lư luận của Người không bao giờ khác biệt với đời sống của Người và bản thể của Người. Như thế, toàn thể đời sống của Đức Kitô là một giáo huấn liên tục: sự im lặng của Người, các phép lạ Người làm, các cử chỉ của Người, các lời cầu nguyện của Người, t́nh yêu mà Người dành cho dân chúng, ḷng quư mến đặc biệt của Người đối với những người bé nhỏ và người nghèo, việc Người chấp nhận hy sinh hoàn toàn trên Thánh giá để cứu chuộc nhân loại, và sự sống lại của Người là sự thể hiện Lời Người và làm tṛn mạc khải. V́ vậy, đối với Kitô hữu, Thánh giá là một trong những h́nh ảnh siêu phàm và phổ thông nhất của Đức Kitô là Thầy.
Tất cả những suy nghĩ này, là những suy nghĩ theo các truyền thống vĩ đại của Giáo Hội, và tất cả củng cố ḷng nhiệt thành của chúng ta đối với Đức Kitô, là Vị Thầy tỏ lộ Thiên Chúa cho loài người và con người cho chính họ, vị Thầy vừa cứu chữa, vừa thánh hoá và hướng dẫn, là Đấng vừa sống, vừa nói, vừa khích lệ, di chuyển, sửa sai, xét xử, tha thứ, và đồng hành với chúng ta mỗi ngày trên đường lịch sử, là Vị Thầy đang đến và sẽ đến trong vinh quang.
Chỉ nhờ kết hợp mật thiết với Người mà các Giáo lư viên có thể t́m thấy ánh sáng và sức mạnh cho một canh tân Giáo lư chính hiệu và đáng mong ước.
10. H́nh ảnh Đức Kitô là Thầy được đóng dấu vào tinh thần của Nhóm Mười Hai và các môn đệ đầu tiên, và mệnh lệnh “Hăy đi… và làm cho muôn dân thành môn đệ”[28] đă định hướng toàn thể cuộc đời các ngài. Thánh Gioan làm chứng điều này trong Tin Mừng của ngài khi ngài tường tŕnh lời Chúa Giêsu: “Thầy không c̣n gọi các con là đầy tớ, v́ đầy tớ không biết việc chủ ḿnh làm; nhưng Thầy gọi các con là bạn hữu, v́ tất cà những ǵ Thầy đă nghe từ Cha Thầy th́ Thầy đă cho các con biết”[29]. Không phải các ông chọn theo Chúa Giêsu, nhưng chính Chúa Giêsu đă chọn các ông, giữ các ông ở lại với Người, và chỉ định các ông ngay cả trước Lễ Vượt Qua của Người, để các ông ra đi và sinh hoa trái và hoa trái của các ông sẽ tồn tại[30]. V́ lư do này mà Người đă chính thức ban cho các ông sứ vụ làm cho muôn dân trở thành môn đệ ngay từ sau khi Người phục sinh.
Toàn thể sách Công vụ Tông đồ là một chứng từ rằng các ngài đă trung thành với ơn gọi của ḿnh và với sứ vụ mà các ngài đă lănh nhận. Người ta đă thấy các phần tử của cộng đồng Kitô hữu đầu tiên “để tâm nghe các Tông đồ” giảng dạy và nhóm họp, để bẻ bánh và cầu nguyện[31]. Chắc chắn rằng chúng ta t́m thấy trong cái h́nh ảnh đáng nhớ này của Giáo Hội được sinh ra và được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, nhờ giáo huấn của các Tông đồ, và cử hành Lời ấy trong Hy lễ Thánh Thể, cùng làm chứng cho Lời ấy trước mặt thế gian bằng các việc bác ái.
Khi những kẻ chống đối các Tông đồ phản đối các việc làm của các ngài, chính bởi v́ họ “khó chịu v́ (các Tông đồ) đă dạy dân chúng”[32], và họ ra lệnh cho các ngài không được nhân danh Chúa Giêsu mà giảng dạy nữa[33]. Nhưng chúng ta biết rằng các Tông đồ đă coi việc nghe lời Thiên Chúa là quan trọng hơn nghe lời người ta trong việc này[34].
Việc dạy Giáo lư trong thời các Tông đồ
11. Các Tông đồ đă không chậm chia sẻ với người khác thừa tác vụ của việc tông đồ[35]. Các ngài chuyển giao cho những người kế vị các ngài công tác giảng dạy. Các ngài cũng trao phó công tác này cho các phó tế từ khi chức vụ này được thành lập: Stêphanô, “đầy ân sủng và quyền năng”, đă không ngừng giảng dạy, được đánh động bởi sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần[36]. Có nhiều người hợp tác với các Tông đồ trong công tác giảng dạy[37], và ngay cả những Kitô hữu tản mác v́ bị bắt bớ cũng “đi khắp nơi rao giảng Lời (Chúa)”[38]. Thánh Phaolô là vị tiên phong trong việc rao giảng này. Ngài rao giảng một cách ưu việt, từ Antiôkia đến Rôma, là nơi mà h́nh ảnh cuối cùng mà chúng ta có trong sách Công vụ Tông đồ, là h́nh ảnh của một người “giảng về Đức Giêsu Kitô hầu như một cách công khai”[39]. Bao nhiêu thư của ngài tiếp tục cho thấy chiều sâu của giáo huấn của ngài. Các thư của Thánh Phêrô, Thánh Gioan, Thánh Giacôbê và Thánh Giuđa đều là những bằng chứng của việc dạy Giáo lư trong thời các Tông đồ. Trước khi được viết thành văn, các Tin Mừng là những lời giảng dạy được truyền lại trong các cộng đồng Kitô hữu. Các Tin Mừng này tŕnh bày các cấp độ rơ rệt của một cấu trúc Giáo lư. Sách của Thánh Matthêu được gọi là Tin Mừng dành cho Giáo lư viên, và của Thánh Marcô là Tin Mừng cho dự ṭng.
12. Giáo Hội tiếp tục thừa hành sứ vụ giảng dạy của các Tông đồ và các cộng sự viên đầu tiên của các ngài. Tự làm cho ḿnh ngày này qua ngày khác thành một môn đệ Chúa, Giáo Hội được mang danh là “Mẹ và Thầy”[40]. Từ Thánh Clêmentê thành Rôma đến ông Ôrigen[41], thời hậu-Tông đồ chứng kiến sự phát sinh của những tác phẩm suất xắc. Kế đó, chúng ta thấy những dữ kiện nổi bật: là một số Giám mục và mục tử đáng kể, nhất là vào các thế kỷ thứ ba và thứ tư, đă coi việc dạy Giáo lư và viết các bài Giáo lư là một phần quan trọng của thừa tác vụ Giám mục của các ngài. Đó là thời đại của các Thánh Cêrylô Thành Giêrusalem, Gioan Kim Khẩu, Ambrôsiô và Augustinô, là thời đại người ta thấy nảy sinh từ ng̣i bút của nhiều Giáo phụ nhiều tác phẩm vẫn c̣n là mẫu mực cho chúng ta.
Không thể nhắc đến ở đây, dù chỉ rất vắn tắt các việc dạy Giáo lư đă giúp cho Giáo Hội được truyền bá và phát triển trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, trên mọi lục địa, và trong các khung cảnh lịch sử và văn hoá rộng răi nhất. Đương nhiên là không thiếu những khó khăn. Nhưng Lời của Chúa đă đi trọn con đường qua các kỷ nguyên; theo kiểu nói của Thánh Phaolô th́ nó đă lan tràn nhanh chóng và đă được tôn vinh[42].
13. Thừa tác vụ dạy Giáo lư nhận được nhiều sinh lực tươi mát từ các Công đồng. Công đồng Trentô là một thí dụ đáng kể về việc này. Công Đồng này đă đặt ưu tiên cho việc dạy Giáo lư trong các hiến chế và sắc lệnh. Nó là nguồn gốc của Sách Giáo lư Rôma, cũng c̣n được gọi bằng tên của Công Đồng, và là tác phẩm đứng đầu trong các sách tóm lược cái giáo huấn Kitô giáo và thần học truyền thống để cho các linh mục sử dụng. Nhờ nó mà nhiều tổ chức Giáo lư đáng ghi nhận được phát sinh trong Giáo Hội. Nó đánh thức các giáo sĩ về nhiệm vụ dạy Giáo lư của ḿnh trong Giáo Hội. Nhờ việc làm của các thần học gia thánh thiện nhứ Thánh Charles Bôrrômeô, Thánh Robert Bellarmine và Thánh Phêrô Canisiô mà Công Đồng đă liên hệ đến việc xuất bản các sách Giáo lư làm khuôn mẫu cho thời kỳ ấy. Chớ ǵ Công đồng Vatican II cũng khích động trong thời đại chúng ta một sự hăng say và các hoạt động như thế.
Truyền giáo cũng là một lĩnh vực đặc biệt cho việc áp dụng dạy Giáo lư. Như vậy, Dân Thiên Chúa đă gần 2.000 năm tiếp tục học hỏi về Đức tin bằng cách thích nghi với những hoàn cảnh khác nhau của các tín hữu và nhiều trường hợp khác biệt mà Giáo Hội gặp phải.
Việc dạy Giáo lư liên kết chặt chẽ với toàn thể đời sống Giáo Hội. Không những chỉ phạm vi địa dư của Giáo Hội được tăng trưởng, mà hơn nữa, sự tăng trưởng nội tâm và sự phù hợp với chương tŕnh Thiên Chúa của Giáo Hội cũng tuỳ thuộc rất nhiều vào việc dạy Giáo Lư. Cũng nên đưa ra một số trong rất nhiều bài học được rút ra từ kinh nghiệm của Giáo Hội mà chúng ta vừa nhắc đến.
14. Trước hết, rơ ràng là đối với Giáo Hội, việc dạy Giáo lư luôn luôn là một nhiệm vụ thánh và một quyền bất khả xâm phạm. Một đàng, đó chắc chắn là một nhiệm vụ phát xuất từ mệnh lệnh Chúa truyền, và trước hết là phận sự của những người mà trong Tân Ước nhận được ơn gọi vào thừa tác vụ chủ chăn. Đàng khác, người ta cũng có thể nói đến quyền lợi: theo quan điểm thần học th́ tất cả mọi người đă lănh nhận bí tích Rửa Tội đều có quyền nhận được sự dạy dỗ và giáo dục của Giáo Hội để giúp người ấy thực sự đi vào đời Kitô hữu, đó chính là lư do tại sao được rửa tội. Theo quan điểm quyền làm người, th́ tất cả mọi người đều có quyền t́m kiến chân lư về tôn giáo và tự do tham gia vào tôn giáo đó, có nghĩa là, “không bị cá nhân, các nhóm xă hội, và bất cứ quyền bính nào của con người cưỡng bách”, bằng cách ấy trong vấn đề tôn giáo, “không ai bị bắt buộc phải làm trái lương tâm hay bị ngăn cản không được làm theo nó”[43]. Đó là lư do tại sao các hoạt động Giáo lư có thể được thực hiện trong các hoàn cảnh thuận tiện đúng chỗ và đúng lúc, và phải có thể sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng và những dụng cụ thích hợp, không kỳ thị các phụ huynh, những người học Giáo lư, hay những người phổ biến nó. Hiện nay, quyền này được nhiều nơi công nhận, ít là theo các nguyên tắc chính của nó, như được bày tỏ trong các tuyên ngôn và các hiệp định quốc tế, mà trong đó, bất kể giới hạn của chúng là ǵ th́ người ta cũng nhận ra những ước muốn của lương tâm của nhiều người hôm nay[44]. Nhưng quyền này bị nhiều quốc gia vi phạm, đến nỗi việc phổ biến Giáo lư, hay được phổ biến đến, và nhận học Giáo lư trở thành những tội có thể bị trừng phạt. Tôi mạnh mẽ cùng các Nghị phụ trong Thượng Hội đồng lên tiếng phản đối tất cả mọi kỳ thị trong lĩnh vực dạy Giáo lư, đồng thời cũng khẩn thiết kêu gọi các nhà cầm quyền hăy chấm dứt hoàn toàn những sự kiềm chế tự do con người nói chung, và tự do tôn giáo nói riêng.
15. Bài học thứ hai nói về vị thế của việc dạy Giáo lư trong những chương tŕnh mục vụ của Giáo Hội. Giáo Hội hoàn vũ hay địa phương càng đặt việc dạy Giáo lư lên trên các công tác và việc làm khác th́ kết quả của nó càng thêm ngoạn mục, Giáo Hội lại càng t́m thấy trong việc dạy Giáo lư một sự nâng đỡ cho đời sống bên trong như một cộng đoàn tín hữu, và các hoạt động bên ngoài như là một Giáo Hội truyền giáo. Đang lúc mà thế kỷ thứ 20 đến gần, Giáo Hội được lệnh của Thiên Chúa và qua các biến cố - mỗi biến cố là một lời mời gọi của Ngài - để canh tân trách nhiệm của ḿnh trong những hoạt động Giáo lư như là một khía cạnh quan trọng nhất trong sứ vụ của ḿnh. Giáo Hội được lệnh cung cấp cho việc dạy Giáo lư các tài nguyên tốt nhất về cả nhân lực lẫn năng lực, không tiết kiệm các cố gắng, khổ cực hay các phương tiện vật chất, để tổ chức cách tốt đẹp hơn, và để huấn luyện các nhân sự có khả năng. Đây không thể là sự tính toán của loài người, mà là thái độ của Đức tin. Và một thái độ của Đức tin luôn luôn dựa vào sự trung tín của Thiên Chúa, là Đấng không bao giờ quên đáp lời.
16. Bài học thứ ba là việc dạy Giáo lư luôn luôn và sẽ luôn luôn là một công tác mà toàn thể Giáo Hội phải cảm thấy có trách nhiệm và muốn chịu trách nhiệm. Nhưng các phần tử của Giáo Hội có những nhiệm vụ khác nhau, được phát triển từ sứ vụ của mỗi người. V́ nhiệm vụ của ḿnh, các mục tử, tuỳ mức độ khác nhau, có nhiệm vụ nuôi dưỡng, hướng dẫn và phối hợp việc dạy Giáo lư. Về phần ḿnh, Đức Thánh Cha ư thức rơ ràng nhiệm vụ quan trọng mà ngài phải gánh vác trong lĩnh vực này: Ở đây, ngài t́m thấy những lư do cho những ưu tư mục vụ, nhưng cũng là nguồn vui và hy vọng chính. Các linh mục và các tu sĩ có ở đó một cánh đồng đặc quyền trong việc tông đồ của họ. Ở một mức độ khác, phụ huynh có một nhiệm vụ độc đáo. Các thầy cô, các thừa tác viên khác trong Giáo Hội, các Giáo lư viên, cùng những người phụ trách tổ chức các việc truyền thông xă hội, tuy mức độ có khác nhau, tất cả đều có nhiệm vụ rơ ràng trong việc giáo dục lương tâm của các tín hữu, một sự giáo dục quan trọng cho đời sống của Giáo Hội và cũng ảnh hưởng đến đời sống của xă hội. Một trong những thành quả của việc Thượng Hội đồng dành hết tâm lực cho việc dạy Giáo lư là nó khơi dậy trong toàn thể Giáo Hội, cũng như từng khu vực của Giáo Hội, một ư thức sống động và tích cực về nhiệm vụ khác nhau nhưng phải cùng chia sẻ này.
17. Cuối cùng, việc dạy Giáo lư cần phải được liên tục canh tân bằng một sự mở rộng nào đó quan niệm về dạy Giáo lư, bằng việc duyệt xét lại các phương pháp, t́m ngôn ngữ thích hợp, và dùng những phương tiện mới để truyền thông sứ điệp. Đôi khi việc canh tân này không được quân b́nh; các Nghị phụ trong Thượng Hội Đồng nhận ra cách thực tế, không những chỉ các tiến bộ không thể chối căi được trong sự sinh động của các sinh hoạt Giáo lư, và những sáng kiến đầy hứa hẹn, nhưng cũng nhận ra các thiếu sót hay cả những “khuyết điểm” trong các thành quả đă đạt được đến nay[45]. Các thiếu sót này nghiêm trọng khi chúng phương hại đến sự vẹn toàn của nội dung (Giáo lư). Sứ điệp dành cho Dân Chúa nhấn mạnh đúng rằng trong việc dạy Giáo lư “một đàng, việc lặp đi lặp lại, trở thành thói quen, mà không chịu chấp nhận thay đổi ǵ cả, đàng khác, việc ứng biến, sẵn sàng thử tất cả, đều nguy hiểm như nhau”[46]. Thói quen đưa đến ứ đọng, hôn mê, và sau cùng là tê liệt. Ứng biến đưa đến sự lẫn lộn cho những người được học Giáo lư, và nếu là trẻ em th́ cũng cho cả phụ huynh của các em; nó cũng sinh ra đủ loại lệch lạc, và rạn nứt, và sau cùng sẽ đưa đến việc hoàn toàn phá huỷ sự thống nhất. Ngày nay, cũng như trong các giai đoạn lịch sử khác của Giáo Hội, Giáo Hội cần phải chứng minh sự khôn ngoan, can đảm, và trung thành với Tin Mừng của ḿnh trong việc t́m kiếm và đem ra áp dụng những phương pháp mới cho việc dạy Giáo lư.
18. Việc dạy Giáo lư không thể được tách rời ra khỏi hoạt động mục vụ và truyền giáo của Giáo Hội cách chung. Ngoài ra, nó c̣n có một cá tính đặc biệt đă thành một đề tài được lập lại nhiều lần trong việc chuẩn bị, và trong các buổi họp của Đại hội lần 4 của Thượng Hội đồng Giám Mục. Các câu hỏi này cũng được quần chúng trong và ngoài Giáo Hội quan tâm.
Đây không phải là chỗ để đưa ra định nghĩa chính thức và chính xác về việc dạy Giáo lư, là đề tài đă được giải thích đầy đủ trong Sách Hướng dẫn Chung về Dạy Giáo lư[47]. Việc làm sáng tỏ quan niệm và các chi tiết của nó là nhiệm vụ của các nhà chuyên môn.
V́ có sự mập mờ trong thực hành, nên chúng ta phải nhớ lại những mục tiêu chính - đă được thiết lập vững chắc trong các tài liệu Giáo Hội - là những điều cần thiết để hiểu đích xác việc dạy Giáo lư, mà không có chúng, chúng ta có thể không nắm vững được hoàn toàn ư nghĩa và tầm quan trọng của việc dạy Giáo lư.
Cách chung, chúng ta có thể nói ở đây rằng dạy Giáo lư là việc giáo dục trẻ em, thanh thiếu niên, và người trưởng thành về Đức tin, trong đó bao gồm đặc biệt việc dạy về các giáo thuyết Kitô giáo được phổ biến một cách có hệ thống, với ư định dẫn đưa người nghe vào sự sung măn của đời sống Kitô. Do đó, mặc dầu không chính thức đồng hoá với sứ vụ mục vụ của Giáo Hội, việc dạy Giáo lư được xây dựng trên một số yếu tố mục vụ nào đó hàm chứa diện Giáo lư, sửa soạn cho việc dạy Giáo lư, hay phát sinh từ việc dạy Giáo lư. Các yếu tố ấy là: việc rao giảng Tin Mừng lần đầu hay giảng dạy truyền giáo qua việc công bố Tin Mừng (kerygma) để gợi cho người nghe về Đức tin, hộ giáo hay xét lại lư do tại sao tin, cảm nghiệm đời sống Kitô, cử hành các bí tích, tháp nhập vào cộng đồng Giáo Hội, và làm nhân chứng bằng việc tông đồ hay truyền giáo.
Trước hết. chúng ta phải nhớ rằng không có sự phân cách hay trái ngược giữa việc dạy Giáo lư và Phúc Âm hoá. Nhưng chúng cũng không giống nhau. Thay vào đó, chúng liên hệ mật thiết với nhau, nên chúng có thể hoà hợp và bổ túc cho nhau.
Tông huấn Evangelii nuntiandi ngày 8-12-1975 về Phúc Âm hoá trong thế giới hiện đại, đă nhấn mạnh đúng rằng việc Phúc Âm hoá - với mục đính là đem Tin Mừng đến cho toàn thể nhân loại, để tất cả mọi người có thể sống theo Tin Mừng này - là một thực thể phong phú, phức tạp và năng động, gồm có nhiều yếu tố, hay có thể nói là nhiều giai đoạn, tất cả đều cần thiết và khác nhau, và phải được để tâm đến cùng một lúc[48]. Dạy Giáo lư là một trong những giai đọan này - một giai đoạn rất đặc biệt - trong toàn thể tiến tŕnh Phúc Âm hoá.
19. Đặc tính riêng của việc dạy Giáo lư, khác với việc rao giảng lần đầu để đem đến việc hoán cải trở về, có 2 nhiệm vụ là làm cho Đức tin ban đầu được trưởng thành, và giáo dục các môn đệ chân chính của Đức Kitô bằng cách cung cấp cho họ một sự hiểu biết sâu xa và có hệ thống hơn về Con Người và sứ điệp của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta[49].
Nhưng trong khi thực thi việc dạy Giáo lư, thứ tự kiểu mẫu này phải để ư đến một sự kiện là thường th́ việc rao giảng đầu tiên cũng chưa xảy ra. Một số các trẻ em được rửa tội từ bé đến để học Giáo lư trong các giáo xứ mà chưa nhận được một sự khai tâm nào vào Đức tin, và vẫn chưa có một sự gắn bó cá nhân rơ ràng nào với Đức Giêsu Kitô; các em chỉ có khả năng tin được đặt vào ḷng các em qua Bí tích Thánh Tẩy và sự hiện diện của Chúa Thánh Thần; và những thành kiến cố hữu từ quá tŕnh không phải Kitô giáo hay tinh thần thực chứng của nền giáo dục của các em, làm nảy sinh sự phản kháng một cách nhanh chóng. Hơn nữa, lại có những trẻ em khác chưa được rửa tội và cha mẹ các em chỉ đồng ư cho học về tôn giáo trễ: v́ những lư do thực tiễn, giai đoạn dự ṭng của các em này phần lớn thường được xảy ra trong khi dạy Giáo lư thông thường. Lại có nhiều thiếu niên và thanh niên đă được rửa tội, đă học Giáo lư cách hệ thống và đă lănh nhận các bí tích, nhưng vẫn c̣n chần chờ lâu năm chưa chịu điều chỉnh đời sống ḿnh cho phù hợp Đức Giêsu Kitô, trong khi đó các em không viện cớ tự do mà tránh né việc giáo dục tôn giáo. Sau cùng, ngay cả những người trưởng thành cũng chưa chắc đă không bị cám dỗ để nghi ngờ hay chối bỏ Đức tin, nhất là v́ bị ảnh hưởng bởi môi trường vô tín ngưỡng chung quanh. Điều này có nghĩa là “việc dạy Giáo lư” không những phải quan tâm đến việc nuôi dưỡng và dạy về Đức tin, nhưng cũng phải quan tâm đến việc không ngừng khơi dậy Đức tin với sự trợ giúp của ân sủng, với tâm hồn cởi mở, với hoán cải, và sự sửa soạn cho việc hoàn toàn sống theo Đức Giêsu đối với những người c̣n đang ở ngưỡng cửa Đức tin. Quan tâm này sẽ một phần nào quyết định phong thái, ngôn ngữ và phương pháp dạy Giáo lư.
20. Tuy nhiên, mục đích đặc biệt của việc dạy Giáo lư là để, nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa, phát triển Đức tin ban đầu, cùng thăng tiến đến mức viên măn, và nuôi dưỡng mỗi ngày đời sống Kitô của các tín hữu, trẻ cũng như già. Mục đính này đúng ra là làm tăng trưởng, ở mức độ hiểu biết và đời sống, hạt giống Đức tin đă được Chúa Thánh Thần gieo cùng với việc rao giảng lần đầu, và được truyền lại cách hiệu nghiệm qua Bí tích Thánh Tẩy.
Cho nên mục đích của việc dạy Giáo lư là mở rộng sự hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô dựa vào Lời Chúa, để tất cả nhân loại được thấm nhuần bởi Lời ấy. Được biến đổi bởi tác động của ân sủng thành một tạo vật mới, như thế Kitô hữu tự ḿnh theo Đức Kitô và học hỏi càng ngày càng nhiều trong Giáo Hội để suy nghĩ như Người, phán đoán như Người, hành động theo mệnh lệnh của Người, và hy vọng như Người mời gọi chúng ta.
Nói cách chính xác hơn, trong toàn thể tiến tŕnh Phúc Âm hoá, mục đích của việc dạy Giáo lư là khúc đường giáo huấn và trưởng thành, có nghĩa là, giai đoạn mà trong đó người Kitô hữu, sau khi đă nhờ Đức tin mà chấp nhận Con Người Đức Giêsu Kitô là Chúa duy nhất, và đă hiến dâng trọn vẹn cho Người bằng cách thật tâm hoán cải, cố gắng biết nhiều hơn về Chúa Giêsu này, là Đấng mà ḿnh đă hoàn toàn phó thác: để biết “mầu nhiệm” của Người, của Nước Thiên Chúa mà Người rao giảng, những đ̣i hỏi và những lời hứa chứa đựng trong các sứ điệp Tin Mừng, và những con đường mà Người đă đặt ra cho tất cả những ai muốn theo Người.
Quả thật, là một Kitô hữu có nghĩa là thưa “xin vâng” cùng Đức Giêsu Kitô, nhưng chúng ta hăy nhớ rằng lời “xin vâng” này có 2 mức độ: một là phó thác cho Lời Chúa và tin cậy vào đó, nhưng cũng có nghĩa ở giai đoạn sau, là luôn luôn cố gắng hiểu và hiểu rơ hơn ư nghĩa sâu xa của Lời này.
21. Trong diễn từ bế mạc Đại hội lần thứ 4 của Thượng Hội đồng Giám mục, Đức Thánh Cha Phaolô VI đă hân hoan “được thấy mọi người chú tâm đến nhu cầu tuyệt đối là cần có một việc dạy Giáo lư có hệ thống, bởi v́ chính sự học hỏi về mầu nhiệm Kitô trong suy niệm này phân biệt môn Giáo lư với tất cả những phương pháp tŕnh bày Lời Chúa khác”[50].
Bởi v́ những khó khăn trong việc thực hành, nên phải chú ư đến một vài đặc điểm của sự giảng dạy này:
· Nó phải là một sự giảng dạy có hệ thống, không tuỳ hứng, nhưng phải có chương tŕnh để đạt đến một mục đích rơ ràng.
· Nó phải đề cập đến những ǵ thiết yếu, mà không có ư giải quyết mọi vấn đề đang trong ṿng bàn căi, hoặc biến thành một nghiên cứu thần học hay chú giải khoa học.
· Nhưng nó phải khá đầy đủ, không ngừng lại ở việc loan báo mầu nhiệm Kitô lần đầu như chúng ta làm ở kerygma.
· Nó phải là một khai tâm Kitô giáo toàn diện, mở ra cho tất cả các nhân tố của đời Kitô hữu.
Tôi cũng không quên tầm quan trọng của nhiều dịp để dạy Giáo lư liên quan đến đời sống cá nhân, gia đ́nh, xă hội và Giáo Hội - phải dùng những dịp này, và tôi sẽ đề cập đến nó ở Chương VI - nhưng tôi nhấn mạnh rằng cần phải có một giáo huấn Kitô giáo có tổ chức và hệ thống, bởi v́ nhiều nơi có khuynh hướng coi nhẹ tầm quan trọng của nó.
22. Không có ích ǵ khi đem chính hành ra mà chọi với chính truyền: trong Kitô giáo, cả hai không tách rời nhau được. Những xác tín vững chắc và được suy nghĩ chín chắn đưa đến hành động can đảm và ngay chính, cố gắng giáo dục các tín hữu sống như những môn đệ của Đức Kitô ngày hôm nay đ̣i hỏi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám phá sâu xa mầu nhiệm Đức Kitô trong lịch sử cứu độ.
Thật là vô ích khi tranh đấu đ̣i loại bỏ những nghiên cứu nghiêm chỉnh và có thứ tự về sứ điệp của Đức Kitô nhân danh những phương pháp dựa vào cảm nghiệm. “Không ai có thể t́m thấy toàn thể chân lư chỉ dựa vào một vài cảm nghiệm đơn giản riêng tư, nghĩa là, không cần những giải thích đầy đủ về sứ điệp của Đức Kitô, Đấng là ‘Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống’ (Ga 14,6)”[51].
Cũng không thể đưa ra những đối chọi giữa việc dạy Giáo lư dùng đời sống làm khởi điểm và một cách dạy Giáo lư có hệ thống dựa vào truyền thống tín lư[52]. Việc dạy Giáo lư chân chính luôn luôn là một sự dẫn nhập có thứ tự và hệ thống vào mạc khải, là Thiên Chúa đă ban Chính Ḿnh cho nhân loại trong Đức Giêsu Kitô, một mạc khải được khắc ghi sâu đậm trong kư ức Giáo Hội và trong Thánh Kinh, cùng được liên tục thông truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng một truyền thống sống động và linh hoạt. Tuy thế, mạc khải này không được tách ra khỏi đời sống, hay chỉ được đặt cách nhân tạo cạnh đời sống. Mạc khải này liên quan đến ư nghĩa tuyệt đối của cuộc đời và soi sáng toàn thể đời sống, để khích lệ hay phê phán nó bằng ánh sáng của Tin Mừng.
Đó là lư do tại sao chúng ta có thể áp dụng vào việc dạy Giáo lư một thành ngữ mà Công đồng Vatican II đă dùng để đặc biệt ám chỉ các linh mục: “Những thầy giáo (về con người và đời sống của họ) trong đức tin”[53].
23. Việc dạy Giáo lư tự bản chất được nối kết với toàn thể hoạt động phụng vụ và bí tích, v́ chính trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, mà Đức Giêsu Kitô hoạt động một cách viên măn cho việc biến đổi con người.
Trong Giáo Hội thời sơ khai, Giáo lư dự ṭng và sửa soạn cho việc lănh nhận Bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể là một. Mặc dầu trong các nước đă là Kitô giáo lâu đời, Giáo Hội đă thay đổi cách thức thực hành về lĩnh vực này, nhưng không bao giờ bỏ Giáo lư dự ṭng; ngược lại, nó đang được phục hồi ở những nước này[54] và thi hành cách phong phú trong các Giáo Hội truyền giáo trẻ trung. Trong bất cứ trường hợp nào, việc dạy Giáo lư luôn luôn nhắc đến các bí tích. Một mặt, một h́nh thức dạy Giáo lư quan trọng nhất là dạy Giáo lư để sửa soạn cho việc lănh nhận các bí tích, và những h́nh thức dạy Giáo lư khác đều cần phải dẫn đến các bí tích của Đức tin. Mặt khác, việc thực thi các bí tích cách chân chính cần phải có một khía cạnh về Giáo lư. Nói cách khác, đời sống nhiệm tích trở nên nghèo nàn và chẳng bao lâu biến thành chủ nghĩa nghi thức rỗng tuếch nếu không đặt nền tảng trên sự hiểu biết nghiêm chỉnh về ư nghĩa của các bí tích, và việc dạy giáo lư trở thành nặng về trí thức nếu nó không trở nên sống động nhờ thực thi các bí tích.
24. Sau hết, việc dạy Giáo lư liên hệ mật thiết với hoạt động có trách nhiệm của Giáo Hội và của các Kitô hữu trên thế gian. Một người đă bằng ḷng theo Đức Giêsu Kitô qua Đức tin và cố gắng củng cố Đức tin ấy bằng việc học Giáo lư cần phải sống trong sự hiệp thông với những người đang cùng chung bước. Việc dạy Giáo lư sẽ có nguy cơ trở nên trơ trụi nếu không có một cộng đồng Đức tin và đời sống Kitô đón nhận người dự ṭng ở một giai đoạn nào đó của chương tŕnh học Giáo lư của người ấy. Đó là lư do tại sao cộng đồng Giáo Hội ở mọi tầng lớp đều có 2 trách nhiệm đối với việc dạy Giáo lư: một là nhiệm vụ chuẩn bị cho việc huấn luyện các thành viên của ḿnh, nhưng cũng có nhiệm vụ đón chào họ vào một môi trường mà ở đó họ có thể sống cách trọn vẹn càng nhiều càng tốt những điều họ đă học.
Cũng thế, việc dạy Giáo lư c̣n mở ra cho động lực truyền giáo. Nếu việc dạy Giáo lư được thực thi tốt đẹp, các Kitô hữu sẽ hăng say làm chứng cho Đức tin của họ, truyền thụ Đức tin ấy cho trẻ em, làm cho người khác biết đến nó, và phục vụ cộng đồng nhân loại bằng mọi cách.
25. Như thế, nhờ việc dạy Giáo lư mà kerygma về Tin Mừng (việc loan bao Tin Mừng lần đầu cách hăng say mà nhờ đó một người một ngày nào đó bị tràn ngập và đi đến quyết định phó thác cho Đức Giêsu Kitô qua Đức tin) được đào sâu từ từ, được phát triển bằng những kết quả ngấm ngầm, được cắt nghĩa bằng ngôn ngữ hữu lư, và dẫn đến việc sống đời Kitô hữu trong Giáo Hội và trong thế gian. Tất cả điều này không ít thuộc về Tin Mừng hơn là việc rao giảng đầu tiên, bất kể lời nói của một số người cho rằng việc dạy Giáo lư cần phải được hợp lư hoá, khô khan và sau cùng phải diệt tất cả những ǵ là sinh động, tự phát và đầy sinh lực của kerygma. Các chân lư học được trong Giáo lư cũng là các chân lư đă chạm đến tâm hồn con người khi người ấy lần đầu tiên nghe biết chúng. Thay v́ làm cùn hay làm chúng kiệt sức, sự thật là nhờ biết chúng nhiều hơn làm cho chúng trở nên thách đố và dứt khoát hơn trong đời sống người ấy.
Trong những nhận thức được tŕnh bày ở đây, việc dạy Giáo lư giữ ǵn toàn thể quan niệm mục vụ của Thượng Hội Đồng. Ư nghĩa rộng răi này của việc dạy Giáo lư không tài nào trái ngược, nhưng bao gồm và vượt xa ư nghĩa hẹp mà người ta thường gán cho việc dạy Giáo lư trong những b́nh luận có tính cách mô phạm, là đơn thuần dạy những công thức diễn tả Đức tin.
Sau cùng, việc dạy Giáo lư không những cần thiết cho sự trưởng thành Đức tin của các Kitô hữu, mà c̣n cho việc làm họ trở thành nhân chứng trên thế giới: mục đích của việc dạy Giáo lư là đem các Kitô hữu đến để “đạt được hiệp nhất Đức tin và sự hiểu biết về Con Thiên Chúa, để có nhân cách trưởng thành, để lớn lên theo kích thước và tầm vóc của sự sung măn của Đức Kitô”[55]; việc dạy Giáo lư cũng nhằm giúp họ chuẩn bị để có thể trả lời cho những ai thắc mắc về niềm hy vọng của họ[56].
26. V́ việc dạy Giáo lư là một thời điểm hay một b́nh diện của việc Phúc Âm hoá, nên nội dung của nó cũng không là ǵ khác mà là toàn thể nội dung của việc Phúc Âm hoá. Một sứ điệp là - Tin Mừng về ơn cứu độ - sứ điệp này đă được nghe một lần hay hàng trăm lần và đă được đón nhận bằng cả tâm hồn, trong việc học Giáo lư, sứ điệp này không ngừng được đào sâu bằng suy nghĩ và nghiên cứu một cách có hệ thống, bằng ư thức được các âm hưởng của nó trong đời sống riêng tư của một người - một ư thức đ̣i hỏi một quyết tâm lớn lao hơn - và bằng việc đưa nó vào tổng thể hữu cơ và hoà hợp, tức là sống đời Kitô hữu trong xă hội và thế giới.
27. Môn Giáo lư luôn múc nội dung của nó từ một nguồn hằng sống của Lời Chúa được truyền lại trong Thánh Truyền và Thánh Kinh, bởi v́ “Thánh Truyền và Thánh Kinh làm thành một kho tàng duy nhất của Lời Thiên Chúa, đă được trao phó cho Giáo Hội” như Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta. Công Đồng muốn rằng “thừa tác vụ Lời Chúa - mục vụ giảng dạy, dạy Giáo lư và tất cả các h́nh thức giáo huấn Kitô khác… - phải được nuôi dưỡng đầy đủ và lớn mạnh trong sự thánh thiện nhờ Lời Thánh Kinh”[57].
Nói về Thánh Truyền và Thánh Kinh là nguồn mạch của môn Giáo lư làm cho người ta chú ư đến một sự thật là việc dạy Giáo lư phải được tiêm nhiễm và thấm nhuần bởi tư tưởng, tinh thần và quan điểm của Thánh Kinh và của Tin Mừng qua việc chuyên cần đọc các sách này; nhưng cũng cần phải nhắc nhở rằng việc dạy Giáo lư sẽ thêm phong phú hơn, và hiệu quả hơn, nhờ đọc với sự hiểu biết và với tâm hồn của Giáo Hội, nhờ múc được những cảm hứng từ 2.000 năm suy niệm và đời sống Giáo Hội.
Giáo huấn của Giáo Hội, phụng vụ và đời sống nảy sinh từ nguồn mạch này và dẫn trở về nguồn này, dưới sự hướng dẫn của các mục tử và nhất là huấn quyền về tín lư được Chúa trao phó cho họ.
28. Một cách diễn tả quan trọng đặc biệt về gia tài sống động được trao cho các mục tử coi sóc được t́m thấy trong Kinh Tin Kính, hay nói cách chính xác hơn, trong các Kinh Tin Kính, mà vào những giây phút trọng yếu, người ta đă tóm tắt Đức tin của Giáo Hội bằng một tổng hợp khéo léo. Trải qua nhiều kỷ nguyên, một yếu tố quan trọng của việc dạy Giáo lư được thành h́nh bởi traditio Symboli (việc trao lại bản tóm tắt Đức tin), tiếp theo là việc trao lại Kinh nguyện của Chúa (Kinh Lạy Cha). Ở thời đại chúng ta, nghi thức đầy ư nghĩa này lại được đưa vào việc khai tâm cho các dự ṭng[58]. C̣n cách sử dụng nào hơn của việc thích nghi h́nh thức này để đánh dấu giai đoạn quan trọng nhất mà trong đó người môn đệ mới của Đức Giêsu Kitô lănh nhận, bằng cả ư thức và can đảm, nội dung của những điều mà từ đó trở đi sẽ là đề tài cho việc học hỏi chuyên cần của họ?
Trong Kinh Tin Kính của Dân Thiên Chúa, được công bố ở cuối kỷ nguyên thứ 19, đánh dấu việc Thánh Phêrô và Phaolô tử đạo, vị tiền nhiệm của tôi là Phaolô VI đă quyết định gom tất cả những yếu tố quan trọng của Đức tin Công giáo, nhất là những điều khó khăn hay có nguy cơ bị bỏ quên[59]. Đây là một điểm quy chiếu chắc chắn cho nội dung của Giáo lư.
29. Trong chương thứ ba của Tông huấn Evangelii nuntiandi, Đức Thánh Cha Phaolô VI đă nhắc lại “nội dung thiết yếu và thực chất sống động” của việc Phúc Âm hoá[60]. Việc dạy Giáo lư cũng phải ghi nhớ mỗi yếu tố này và sự tổng hợp mà chúng là thành phần[61].
Cho nên ở đây tôi sẽ tự giới hạn về việc nhắc lại một hay hai điểm[62]. Thí dụ ai cũng thấy tầm quan trọng của việc làm cho trẻ em, thiếu niên, những người đang tiến triển về Đức tin hiểu rằng “những ǵ chúng ta có thể biết về Thiên Chúa”[63], để có thể nói với họ bằng một cách: “Đấng mà quư vị thờ mà quư vị không biết, th́ tôi xin công bố cho quư vị”[64], để tŕnh bày ngắn gọn cho họ[65] mầu nhiệm Ngôi Lời Thiên Chúa làm người và hoàn thành việc cứu độ nhân loại bằng Lễ Vượt Qua của Người, nghĩa là, nhờ cái chết và sống lại của Người, mà c̣n bằng lời giảng dạy của Người, các dấu lạ Người làm, bằng các phép bí tích của sự hiện diện măi măi của Người giữa chúng ta. Các Nghị phụ của Thượng Hội Đồng thực sự đă được cảm hứng khi các ngài yêu cầu phải thận trọng đừng giảm Đức Kitô xuống mức độ nhân loại mà thôi, hay chỉ đóng khung các sứ điệp của Người vào khuôn khổ thế gian, nhưng phải nh́n nhận Người là Con Thiên Chúa, Đấng Trung Gian ban cho chúng ta được tự do đến cùng Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần[66].
Điều quan trọng là phải tŕnh bày trước đôi mắt của lư trí và của tâm hồn, trong ánh sáng Đức tin, bí tích của sự hiện diện của Đức Kitô được tạo thành bởi mầu nhiệm Giáo Hội, là một tập họp của loài người là những tội nhân, nhưng đồng thời cũng được thánh hoá, và tạo thành gia đ́nh của Thiên Chúa, được Chúa quy tụ lại dưới sự hướng dẫn của những người mà “Chúa Thánh Thần đă đặt là… người giám hộ, để nuôi dưỡng Giáo Hội của Thiên Chúa”[67].
Cũng cần phải giải thích rằng lịch sử nhân loại, được đánh dấu bằng ân sủng và tội lỗi, sự cao cả và đau thương, đă được Thiên Chúa nâng lên trong Con của Ngài là Chúa Giêsu, “đang báo hiệu bằng một cách nào đó thời đại sắp đến”[68].
Sau cùng, điều quan trọng là phải bày tỏ cách thẳng thắn những đ̣i hỏi - liên can đến việc từ bỏ ḿnh nhưng cũng với niềm vui - bởi điều mà Thánh Phaolô gọi là “đời sống mới”[69], “một tạo vật mới”[70] được sống trong Đức Kitô[71] và được “sống đời đời trong Đức Kitô Giêsu”[72], đó cũng là đời sống trên thế gian, nhưng sống theo Tám Mối Phúc Thật và được mời gọi được nối dài và được biến đổi từ đó trở đi.
Do đó, trong việc dạy Giáo lư, điều quan trọng là dạy về những quyết tâm cá nhân trong lĩnh vực luân lư để sống theo Tin Mừng, và những thái độ Kitô, dù anh hùng hay rất đơn giản trước cuộc đời hay trước thế gian - điều mà chúng ta gọi là các nhân đức của Phúc Âm. Cũng thế, trong cố gắng dạy về Đức tin, điều quan tâm của môn Giáo lư là không bỏ sót nhưng làm sáng tỏ cách đúng đắn những thực tại, như hành động của con người để tự giải phóng toàn diện[73], việc t́m kiếm một xă hội đoàn kết và huynh đệ hơn, việc tranh đấu cho công bằng và xây dựng hoà b́nh.
Ngoài ra, đừng nghĩ rằng chiều kích này của môn Giáo lư là hoàn toàn mới mẻ. Ngay từ thời các giáo phụ, Thánh Ambrôsiô và Thánh Gioan Kim Khẩu - chỉ nhắc đến 2 vị thôi - đă làm nổi bật những kết quả về xă hội của các đ̣i hỏi của Tin Mừng. Gần thời đại chúng ta hơn, sách Giáo lư của Thánh Giáo Hoàng Piô X đă liệt kê cách rơ ràng việc ức hiếp người nghèo, và bóc lột đồng lương chính đáng của thợ thuyền vào số những tội kêu thấu đến Thiên Chúa để Ngài báo oán[74]. Nhất là từ Rerum novarum, những quan tâm về xă hội đă hiện diện cách tích cực trong giáo huấn Giáo lư của các đức giáo hoàng và các đức giám mục. Nhiều Nghị phụ của Thượng Hội đồng Giám mục đă nhất định rằng gia tài phong phú của giáo huấn của Giáo Hội về xă hội phải có một chỗ đứng trong việc giáo dục chung về Giáo lư cho các tín hữu dưới một h́nh thức thích hợp.
30. Về nội dung của việc dạy Giáo lư thời nay, cần phải chú ư đặc biệt đến ba điểm quan trọng.
Điểm thứ nhất nói về sự vẹn toàn của nội dung. Để của lễ Đức tin của một người[75] được hoàn hảo, người trở thành môn đệ Đức Kitô có quyền lănh nhận “lời Đức tin”[76] không bị cắt xén, xuyên tạc, hay dưới dạng thu nhỏ, nhưng phải nhận được toàn thể và toàn vẹn, trong sự chặt chẽ và mănh liệt của nó. Thiếu trung thành ở một vài điểm liên hệ đến sự vẹn toàn của sứ điệp có nghĩa là một làm suy yếu việc dạy Giáo lư một cách nguy hiểm và phương hại đến kết quả mà Đức Kitô và cộng đồng Giáo Hội có quyền mong đợi ở nó. Chắc chắn không phải v́ t́nh cờ mà mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu trong Tin Mừng thánh Matthêu mang dấu hiệu của một sự toàn vẹn chắc chắn: “Mọi quyền hành… đă được ban cho Thầy… Hăy làm cho muôn dân trở thành môn đệ … Dạy họ tuân giữ tất cả… Thầy sẽ ở cùng các con luôn măi”. Đó là lư do tại sao khi một người ư thức được “giá trị khôn sánh của việc biết Đức Kitô Giêsu”[77] là Đấng mà người ấy đă gặp qua Đức tin, và đương nhiên là có một ước muốn trong tiềm thức để biết Người nhiều hơn và rơ ràng hơn, bằng cách nghe giảng về Người và được giáo huấn phù hợp với chân lư, là chân lư trong Đức Giêsu[78], không có một lư do chính đáng nào được viện ra để từ chối người ấy bất cứ phần nào của sự hiểu biết này. Có một loại dạy Giáo lư nào mà lại không dành chỗ để nói về việc tạo dựng con người và tội lỗi; về chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa và một cuộc sửa soạn trường kỳ, đầy yêu thương, và việc thực hiện chương tŕnh này; về việc nhập thể của Con Thiên Chúa; về Đức Mẹ Maria, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Thiên Chúa, Trọn Đời Đồng Trinh, được lên hưởng phúc Thiên Đàng cả hồn lẫn xác; và về vai tṛ của Mẹ trong mầu nhiệm cứu độ; về mầu nhiệm của t́nh trạng vô luật pháp đang hoành hành trong cuộc đời chúng ta[79], và quyền năng của Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi t́nh trạng ấy; về việc cần hối cải và khổ hạnh; về những hành động bí tích và phụng vụ; về thực thể của việc Chúa Giêsu hiện diện thật trong Bí tích Thánh Thể; về sự thông phần vào đời sống Thiên Chúa ở đời này và đời sau,…? Như thế, không một Giáo lư viên chân chính nào có quyền tự ư chọn lựa điều nào mà ḿnh cho là quan trọng cũng như loại bỏ điều mà ḿnh cho là không quan trọng trong kho tàng Đức tin để dạy điều này và bỏ điều kia.
31. Điều này đưa đến nhận xét thứ hai. Có thể là trong hoàn cảnh hiện tại của việc dạy Giáo lư, những lư do của phương pháp hay sư phạm đề ra rằng việc truyền thông sự phong phú của nội dung Giáo lư phải được tổ chức cách này thay v́ cách khác. Ngoài ra, sự toàn vẹn không miễn cho chúng ta sự cân bằng và tính chất thứ bậc có tổ chức mà qua đó các chân lư được giảng dạy, các tập quán được truyền lại, và cách sống Kitô giáo được biểu lộ, sẽ cho thấy sự quan trọng tương xứng của từng điểm trên. Cũng có thể xảy ra là một thứ ngôn ngữ đặc biệt nào đó chứng tỏ là thích hợp hơn cho việc truyền thụ nội dung này cho một cá nhân hay một nhóm riêng biệt. Việc chọn lựa sẽ chính đáng nếu nó được cảm hứng bởi sự khiêm nhường quan tâm đến việc đi sát với một nội dung phải c̣n toàn vẹn, chứ không phải bị điều khỉển ít nhiều bởi những thuyết chủ quan hay những thành kiến bị ảnh hưởng bởi một ư thức hệ nào đó. Phương pháp và ngôn ngữ được sử dụng phải thực sự là phương tiện để truyền thông toàn thể chứ không phải chỉ một phần “các lời ban sự sống đời đời”[80] và “các con đường sống”[81].
32. Một phong trào vĩ đại, chắc chắn là được linh hứng bởi Thần Khí của Chúa Giêsu, từ nhiều năm đă làm cho Giáo hội Công giáo cùng với các Giáo hội Kitô giáo hay các giáo phái khác t́m cách phục hồi sự hợp nhất hoàn hảo mà Chúa mong muốn, đưa tôi đến tính chất đại kết của việc dạy Giáo lư. Phong trào này đă được hoàn toàn nổi bật trong Công đồng Vatican II[82], và từ đó đă được mở rộng trong Giáo Hội, như đă được chứng tỏ cách cụ thể bằng hằng loạt những biến cố và sáng kiến mà bây giờ mọi người đều quen thuộc. Việc dạy Giáo lư không thể tách biệt măi khỏi khía cạnh đại kết này, bởi v́ tất cả mọi tín hữu được mời gọi để tham gia vào phong trào đưa đến hợp nhất, tuỳ theo khả năng và vị trí của ḿnh trong Giáo Hội[83].
Việc dạy Giáo lư sẽ có chiều kích đại kết nếu trong khi không ngừng dạy rằng sự viên măn của chân lư được mạc khải và của phương tiện cứu độ mà Chúa Giêsu đă thiết lập được t́m thấy trong Giáo hội Công giáo[84], và làm như thế với một sự chân thành kính trọng các cộng đồng Giáo hội khác chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội này qua lời nói và việc làm.
Trong phạm vi này, điều tối quan trọng là phải tŕnh bày về các Giáo hội và các cộng đồng Giáo hội khác cách đúng đắn và công bằng rằng Thần Khí Đức Kitô không khước từ sử dụng họ như các phương tiện cứu độ; “hơn nữa, có một số, hay khá nhiều yếu tố tuyệt hảo hoặc những điều tốt lành dùng để xây dựng hay đem lại sinh lực cho chính Giáo Hội, có thể tồn tại được bên ngoài phạm vi hữu h́nh của Giáo hội Công giáo”[85]. Giữa những điều khác, tŕnh bày này sẽ giúp người Công giáo vừa có một sự hiểu biết sâu xa hơn về chính Đức tin của ḿnh, vừa quen thuộc và quư trọng các anh em Kitô hữu khác hơn, như vậy làm cho việc cùng nhau t́m kiếm con đường dẫn đến hợp nhất hoàn toàn trong chân lư được dễ dàng. Nó cũng giúp những người ngoài Công Giáo hiểu biết và đánh giá Giáo hội Công giáo và niềm xác tín rằng ḿnh là “một sự giúp đỡ phổ quát đối với ơn cứu độ” của Giáo Hội một cách cao hơn.
Việc dạy Giáo lư sẽ có chiều kích đại kết nếu thêm vào đó nó tạo ra và nuôi dưỡng một ước muốn hợp nhất thật sự. Điều này càng đúng hơn nếu nó gợi hứng cho những cố gắng nghiêm chỉnh, kể cả cố gắng tự thanh luyện trong khiêm nhường và nhiệt t́nh của Chúa Thánh Thần để san phẳng đường lối, không phải với quan niệm là đạt được sự thoả thuận bằng cách bỏ sót hay nhượng bộ ở mức độ tín điều, nhưng để được hoàn toàn hợp nhất, khi và bằng phương tiện nào mà Chúa muốn.
Cuối cùng, việc dạy Giáo lư sẽ có chiều kích đại kết nếu cố gắng sửa soạn cho trẻ em Công giáo và giới trẻ cũng như người trưởng thành, để sống trong sự tiếp xúc với những người ngoài Công giáo, biết xác quyết đặc tính Công giáo của ḿnh trong khi kính trọng niềm tin của những người khác.
33. Trong những hoàn cảnh đa tôn giáo, các giám mục có thể coi là một dịp, hoặc là điều cần thiết có một số kinh nghiệm hợp tác giữa Công giáo và các Kitô hữu khác về lĩnh vực dạy Giáo lư, để bổ túc cho việc dạy Giáo lư thông thường được tổ chức cho người Công giáo cách này hay cách khác. Các kinh nghiệm như thế có một nền tảng thần học dựa trên những yếu tố mà mọi Kitô hữu đều cùng chia sẻ[86]. Nhưng sự hiệp thông Đức tin giữa người Công giáo và các Kitô hữu khác chưa đầy đủ và hoàn hảo; trong một số trường hợp c̣n có những khác biệt sâu xa. Do đó, việc hợp tác đại kết này tự bản chất của nó chỉ có giới hạn: nó không bao giờ được có nghĩa là “một sự giảm” xuống một mẫu số chung tối thiểu. Hơn nữa, việc dạy Giáo lư không phải chỉ gồm có dạy về tín lư: nó c̣n có nghĩa là dẫn nhập vào toàn thể đời sống Kitô, đưa đến sự tham dự hoàn toàn vào các bí tích của Giáo Hội. Cho nên, ở đâu có những thí nghiệm hợp tác đại kết trong lĩnh vực dạy Giáo lư, th́ phải thận trọng để chắc chắn rằng việc giáo dục những người Công giáo trong Giáo hội Công giáo được đảm bảo vững vàng trong những vấn đề tín lư và đời sống Kitô hữu.
Trong Thượng Hội Đồng, có một số giám mục đề cập đến điều mà các ngài gọi là những trường hợp hay hoàn cảnh càng ngày càng gia tăng là chính quyền dân sự trong một số quốc gia bắt các trường học phải dạy một giáo tŕnh chung về Kitô giáo, dùng cùng một sách giáo khoa, cùng một giờ học,… cho cả học sinh Công giáo lẫn không Công giáo. Không cần phải nói th́ ai cũng biết rằng đây không phải là dạy Giáo lư. Nhưng việc dạy dỗ này cũng quan trọng về đại kết nếu nó tŕnh bày các giáo thuyết Kitô một cách công bằng và trung thực. Trong những trường hợp mà hoàn cảnh bắt buộc, th́ điều quan trọng là thêm vào đó việc dạy Giáo lư riêng về Công giáo phải được đảm bảo và hết sức thận trọng.
34. Đến lúc này, phải đưa ra một nhận xét khác về cùng một đề tài nhưng dưới một khía cạnh khác. Các trường Nhà nước nhiều khi cung cấp cho học sinh các sách giáo khoa v́ lư do văn hoá (lịch sử, luân lư hay văn chương) tŕnh bày các tôn giáo khác nhau kể cả Công giáo. Một tŕnh bày khách quan về các biến cố lịch sử của các tôn giáo khác nhau và của các giáo phái Kitô khác nhau ở đây có thể giúp cho việc hiểu nhau hơn. Như thế, phải cẩn thận dồn mọi nỗ lực để đảm bảo rằng tŕnh bày ấy thực sự khách quan và không bị ảnh hưởng lệch lạc bởi các hệ thống tư tưởng và chính trị hoặc các thành kiến tự nhận là theo khoa học. Trong bất cứ trường hợp nào, cách sách giáo khoa như thế đương nhiên là không được coi là những tác phẩm về Giáo lư: chúng thiếu chứng từ của các tín hữu nói rơ về Đức tin của ḿnh cho các tín hữu khác, và một sự hiểu biết về các mầu nhiệm Kitô giáo cũng như những ǵ đặc biệt của đạo Công giáo, như được hiểu trong phạm vi Đức tin.
[1] x. Mt 28,19-20.
[2] x. 1 Ga 1.
[3] x. Ga 20,31.
[4] x. AAS 63 (1971), tr. 758-764.
[5] x. 44; cũng x. 45-48 và 54: AAS 68 (1976), tr. 34-35; 35-38; 43.
[6] Theo Motu Proprio Apostolica Sollicitudo ngày 15-9-1965, Thượng Hội đồng Giám mục có thể nhóm họp thường niên, bất thường, hay đặc biệt. Trong Tông huấn này, từ “Thượng Hội đồng” và “Nghị phụ” luôn luôn chỉ về Đại hội lần thứ 4 của Thượng Hội đồng Giám mục về Giáo lư tại Rôma, tháng 10-1977.
[7] Xem Thượng Hội đồng Giám mục, Synodus Episcoporum, Về việc Dạy Giáo lư cho Trẻ em và Thiếu niên trong Thời đại Chúng ta, De catechesi hoc nostro tempore tradenda praesertim pueris atque iuvenibus, Ad Populum Dei Nuntius, e Civitate Vaticana, 28-X-1977; x. "L'Osservatore Romano," ngày 30-10-1977, tr. 3-4.
[8] x. AAS 69 (1977), tr. 633.
[9] Ga 1,14.
[10] Ga 14,6.
[11] Ep 3,9.18-19.
[12] x. Ga 14,6.
[13] Ga 7,16. Chủ đề này là chủ đề đặc biệt của Tin Mừng thứ tư: x. Ga 3,34; 8,28, 12,49-50; 14,24; 17,8,14.
[14] 1 Cr 11,23: từ "truyền lại" mà Thánh Phaolô dùng ở đây được lặp lại nhiều lần trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi để diễn tả công việc truyền giáo của Giáo Hội, ví dụ trong các câu 4, 15, 78, 79.
[15] Cv 1,1.
[16] Mt 26,55; x. Ga 18,20.
[17] Mc 10,1.
[18] Mc 1,22; x. Mt 5,2; 11,1; 13,54; 22,16; Mc 2,13; 4,1; 6,2.6; Lc 5,3.17; Ga 7,14; 8,2,…
[19] Lc 23,5.
[20] Trong gần 50 chỗ của Tin Mừng thứ tư, tước hiệu này được thừa hưởng từ toàn thể truyền thống Do Thái, nhưng ở đây mang một ư nghĩa mơí mà Đức Kitô thường có ư nhấn mạnh, để chỉ về Chúa Giêsu.
[21] Xem, trong số các câu khác, Mt 8,19; Mc 4,38; 9,38; 10,35; 13,1; Ga 11,28.
[22] Mt 12,38.
[23] Lc 10,25; x. Mt 22,16.
[24] Ga 13,13-14; cũng x. Mt 10,25; 26,18 và những câu tương tự.
[25] Mt 23,8. Thánh Ignatiô thành Antiôkia nhắc lại lời xác quyết này và giải thích như sau: "Chúng ta đă nhận được Đức tin; đây là lư do tại sao chúng ta kiên vững, để được nhận diện là môn đệ Đức Giêsu Kitô, Vị Thầy Duy Nhất của chúng ta" (Epistola ad Magnesios, IX, 2 Funk 1, 198).
[26] Ga 3,2.
[27] H́nh ảnh Đức Kitô là Thầy đă có từ thời các hang toại đạo tại Rôma. H́nh ảnh này thường được dùng trong các h́nh ghép theo nghệ thuật Romano-Byzantine vào thế kỷ thứ ba và thứ tư. Nó cũng là h́nh thức nghệ thuật chính của các Vương cung Thánh đường thời Trung Cổ.
[28] Mt 28,19.
[29] Ga 15,15.
[30] x. Ga 15,16.
[31] Cv 2,42.
[32] Cv 4,2.
[33] x. Cv 4,18; 5,28.
[34] x. Cv 4,19.
[35] x. Cv 1,25.
[36] x. Cv 6,8ff.; cũng xem việc ông Philiphê dạy Giáo lư cho quan thái giám của Hoàng hậu Ethiopi: Cv 8,26…
[37] x. Cv 15,35.
[38] Cv 8,4.
[39] Cv 28,31
[40] x. Gioan XXIII, Thông Điệp Mater et Magistra (AAS 53 [1961], tr. 401): Giáo Hội là “Mẹ” v́ qua Bí tích Thánh Tẩy, Giáo Hội không ngừng sinh ra các con cái mới và làm cho gia đ́nh của Thiên Chúa được gia tăng; Giáo Hội là “Thầy” v́ làm cho con cái ḿnh lớn lên trong ân sủng nhận được từ Bí tích Thánh Tẩy bằng cách nuôi dưỡng đức tin của họ qua các giáo huấn về chân lư đức tin.
[41] x. thí dụ thư của ĐTC Clement gửi Giáo Hội Corinthô, Didache, Epistola Apostolorum, các bút tích của Thánh Irênê thành Lyons (Demonstratio Apostolicae Praedicationis và Adversus Haereses), của ông Tertullianô (De Baptismo), Thánh Clementê thành Alexandria (Paedagogus), của Thánh Xyprianô (Testimonia ad Quirinum), của ông Ôrigênê (Contra Celsum),...
[42] x. 2 Ts 3,1.
[43] CĐ Vatican II, Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo, Dignitatis Humanae, 2: AAS 58 (1966), tr. 930.
[44] x. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UNO), ngày 10-12-1948, điều 18, Hiệp ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (UNO), ngày 16-12-1966, điều 4; Đạo luật Cuối cùng của Hội nghị An ninh và Hợp tác Âu châu, đoạn VII.
[45] x. Thượng Hội đồng Giám mục, Synodus Episcoporum, Về việc Dạy Giáo lư cho Trẻ em và Thiếu niên trong Thời đại Chúng ta, De catechesi hoc nostro tempore tradenda praesertim pueris atque iuvenibus, Ad Populum Dei Nuntitus, 1: loc. cit., tr. 3-4; xem L'Osservatore Romano, ngày 30-10-1977, tr. 3.
[46] Ibid., 6: loc. cit., tr. 7-8.
[47] Bộ Giáo sĩ, Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum Generale, 17-35; AAS 64 (1972), tr. 110-118.
[48] x. 17-24: AAS 68 (1976), tr. 17-22.
[49] x. Thượng Hội đồng Giám mục, Synodus Episcoporum, Về việc Dạy Giáo lư cho Trẻ em và Thiếu niên trong Thời đại Chúng ta, De catechesi hoc nostro tempore tradenda praesertim pueris atque invenibus, Ad Populum Dei Nuntius, 1: loc. cit., tr. 3-4, cf.
[50] Diễn từ Bế mạc Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục, ngày 29-10-1977: AAS 69 (1977), tr. 634.
[51] Ibid.
[52] Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum GeneraIe, 40 và 46: AAS 64 (1972), tr. 121 và 124-125.
[53] x. Sắc lệnh về Mục vụ và Đời sống Linh mục, Presbyterorum Ordinis, 6: AAS 58 (1966), tr. 999.
[54] x. Sắc lệnh Khai tâm Kitô giáo cho Người Trưởng thành, Ordo Initiationis Christianae Adultorum.
[55] Ep 4,13.
[56] x. 1 Pr 3,15.
[57] Hiến chế Tín lư về Mạc khải của Thiên Chúa, Dei Verbum, 10 và 24: AAS 58 (1966), tr. 822 và 828-829; cũng xem Bộ Giáo sĩ, Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum Generale 45 (AAS 64 [1972], tr. 124), là tài liệu đưa ra những nguồn mạch chính và phụ của việc dạy Giáo lư.
[58] Xem Sắc lệnh Khai tâm Kitô giáo cho Người Trưởng thành, Ordo Initiationis Christianae Adultorum, 25-26; 183-187.
[59] x. AAS 60 (1968), tr. 436-445. Ngoài những bản Tuyên xưng Đức tin chính của Huấn Quyền, c̣n có những bản Tuyên xưng Đức tin phổ thông bắt nguồn từ các truyền thống văn hoá Kitô giáo của các quốc gia khác nhau; xem điều tôi nhắn nhủ giới trẻ ở Gniezno, ngày 3-6-1979, về bài hát và sứ điệp Bogurodzica: "Đây không những chỉ là một bài hát, mà c̣n là một bài Tuyên xưng Đức tin, một biểu hiệu cho Đức tin của Ba Lan, một bài Giáo lư, và cũng là một tài liệu giáo dục Công giáo. Nó chứa đựng các chân lư căn bản của Đức tin và các nguyên tắc luân lư. Đây không phải là một sử liệu, mà là một tài liệu về đời sống. (Nó c̣n được gọi là ‘Sách Giáo lư Ba Lan" [AAS 71,1979], tr. 754.)
[60] 25: AAS 68 (1976), tr. 23.
[61] Ibid., nhất là 26-39: loc. cit., tr. 23-25; "Các Yếu tố chính của Sứ điệp Kitô giáo" được tŕnh bày một cách có hệ thống hơn trong Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum Generale, 47-69 (AAS 64 [1972] tr. 125-141), trong đó cũng có các tiêu chuẩn cho nội dung chính yếu về giáo thuyết của môn Giáo lư.
[62] Ở đây cũng hăy tham khảo Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum Generale, 37-46 (loc. cit., tr. 120-125).
[63] Rm 1,19.
[64] Cv 17,23.
[65] x. Ep 3,3.
[66] x. Ep 2,18.
[67] Cv 20,28.
[68] CĐ Vatican II, Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong Thế giới Hiện đại, Gaudium et Spes, 39: AAS 58 (1966), tr. 1056-1057.
[69] Rm 6,4.
[70] 2 Cr 5,17.
[71] x. Ibid
[72] Rm 6,23.
[73] x. ĐTC Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 30-38: AAS 68 (1976), tr. 25-30.
[74] x. Catechismo Maggiore, Phần 5, ch. 6. 965-966.
[75] x. Pl 2,17.
[76] Rm 10,8.
[77] Pl 3,8.
[78] x. Ep 4,20-21.
[79] x. 2 Ts 2,7.
[80] Ga 6,69; x. Cv 5,20; 7,38.
[81] Cv 2,28, trích dẫn Tv 16,11.
[82] x. Toàn thể Sắc lệnh về Đại kết Unitatis Redintegratio: AAS 57 [1965], tr. 90-112.
[83] X. ibid., 5: loc. cit., tr. 96; cũng x. CĐ Vatican II, Sắc lệnh về Hoạt động Truyền giáo của Giáo Hội Ad Gentes, 15: AAS 58 (1966), tr. 963-965; Bộ Giáo sĩ, Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum Generale 27: AAS 64 (1972), tr. 115.
[84] Xem CĐ Vatican II, Sắc lệnh về Đại kết Unitatis Redintegratio, 3-4: AAS 57 (1965), tr. 92-96.
[85] Ibid., 3: loc. cit., tr. 93.
[86] x. ibid.; cũng x. Hiến chế Tín lư về Giáo Hội Lumen Gentium 15: AAS 57 (1965), tr. 19.
35. Chủ đề mà đấng tiền nhiệm của tôi là Phaolô VI đề ra cho Thượng Hội đồng Giám mục là : “Việc dạy Giáo lư trong thời đại chúng ta, với sự chú tâm đặc biệt đến việc dạy Giáo lư cho trẻ em và người trẻ”. Sự gia tăng số người trẻ chắc chắn là đem lại niềm hy vọng cùng với lo âu cho phần lớn thế giới hiện đại. Ở một vài quốc gia, nhất là những quốc gia ở thế giới thứ ba, hơn một nửa dân số là dưới 25 hay 30 tuổi. Điều này có nghĩa là hằng triệu triệu trẻ em và người trẻ đang sửa soạn cho tuổi trưởng thành sắp đến. Đây không phải chỉ là vấn đề con số: các biến cố gần đây, cũng như tin tức hằng ngày, cho chúng ta thấy rằng, một số rất đông người trẻ này, mặc dầu ở đây hay ở đó, bị thống trị bởi sự bất ổn và lo âu, bị quyến rũ bởi khuynh hướng thoát ly của thờ ơ và ma tuư, hay bị cám dỗ bởi thuyết hư vô hoặc bạo lực, tuy thế, phần lớn giới này tạo thành một lực lượng hùng hậu giữa nhiều rủi ro để xây dựng một nền văn minh trong tương lai.
Trong ưu tư mục vụ của chúng ta, chúng ta tự hỏi phải làm thế nào để bày tỏ Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, cho số đông trẻ em và người trẻ này. Bày tỏ Người không phải chỉ trong sức quyến rũ của cuộc gặp gỡ thoáng qua lần đầu, nhưng qua một sự quen biết, càng ngày càng sâu xa và rơ ràng, với Người, với sứ điệp của Người, với chương tŕnh của Thiên Chúa mà Người đă mạc khải, với lời mời gọi mà Người dành cho mỗi người, và với Nước Trời mà Người muốn thiết lập trên thế gian này cùng với “đoàn chiên bé nhỏ”[1] là những kẻ tin vào Người, một vương quốc sẽ được hoàn tất trong cơi vĩnh hằng? Làm sao chúng ta có thể giúp các em biết ư nghĩa, tầm quan trọng, những đ̣i hỏi căn bản, luật yêu thương, các lời hứa và hy vọng của Nước Trời?
C̣n có thể đưa ra nhiều nhận xét về các đặc tính riêng mà việc dạy Giáo lư cần phải có ở từng giai đoạn của cuộc đời (học viên).
36. Một giây phút thường là giây phút quyết định là khi đứa trẻ c̣n rất nhỏ nhận được những yếu tố đầu tiên của Giáo lư từ cha mẹ và gia đ́nh chung quanh em. Những yếu tố này có thể chỉ là một mạc khải đơn sơ về Người Cha nhân lành và quan pḥng trên trời mà đứa bé học để hướng ḷng về Ngài. Một kinh rất ngắn mà em học để bập bẹ sẽ là khởi đầu cuộc đối thoại yêu thương với Thiên Chúa ẩn ḿnh mà lời của Ngài bắt đầu được nghe. Tôi không thể nhấn quá mạnh về sự khai tâm Kitô thật sớm này của cha mẹ trong đó các khả năng của các em được hoà hợp vào một liên hệ sống động với Thiên Chúa. Đây là một công việc tối quan trọng. Nó đ̣i hỏi một t́nh yêu lớn lao và một sự tôn trọng sâu xa dành cho đứa bé, là người có quyền được học một tŕnh bày Đức tin Kitô đơn sơ và chân chính.
37. Đối với các trẻ em, chẳng bao lâu sẽ đến lúc, ở nhà trường và trong Giáo Hội, trong các cơ quan liên hệ đến giáo xứ hoặc dưới sự chăm sóc về tinh thần của một trường Công giáo hay trường của chính phủ, không phải chỉ là giới thiệu vào một phạm vi xă hội rộng lớn hơn, nhưng cũng là lúc dạy Giáo lư để đưa các em vào đời sống Giáo Hội một cách có tổ chức, một thời điểm bao gồm cả việc sửa soạn cho việc cử hành các bí tích. Việc dạy Giáo lư này là giáo dục về tính tính, nhưng hướng về việc làm chứng cho Đức tin. Đó là Giáo lư nhập môn, nhưng không phải rời rạc, v́ nó phải bày tỏ, dù một cách sơ đẳng, tất cả những mầu nhiệm chính của Đức tin, và ảnh hưởng của những mầu nhiệm này trên đời sống luân lư và tôn giáo của đứa trẻ. Đây là Giáo lư làm cho các bí tích có ư nghĩa, đồng thời cũng nhận từ kinh nghiện của các bí tích một chiều hướng sống động, để cho nó không phải chỉ thuần là lư thuyết, mà c̣n truyền đến cho em niềm vui được làm chứng cho Đức Kitô trong đời sống thường nhật.
38. Kế đến là tuổi dậy th́ và thanh thiếu niên, với tất cả sự cao quư và nguy hiểm mà tuổi này đem lại. Đây là tuổi t́m hiểu chính ḿnh và thế giới nội tâm, là thời gian của những chương tŕnh đại lượng, thời gian mà cảm giác yêu thương bừng dậy, cùng với những thúc đẩy t́nh dục thể lư, thời gian của ước ao được sống chung với người khác, thời gian của những niềm vui mănh liệt liên kết với những khám phá làm cho đời vui tươi. Nhưng thường cũng là tuổi của thắc mắc sâu xa, t́m kiếm đau thương, và đôi khi thất vọng, của sự không c̣n tin tưởng vào người khác, và khép kín nội tâm nguy hiểm, đôi khi nếm mùi thất bại và thất vọng lần đầu. Việc dạy Giáo lư không thể lờ đi những khía cạnh dễ thay đổi của thời gian tế nhị này của cuộc đời. Một cách dạy Giáo lư có thể dẫn đưa các thanh thiếu niên đến việc tự xét lại đời sống ḿnh và làm cho các em biết đối thoại, một cách dạy Giáo lư không lờ đi những vấn đề lớn lao của thanh thiếu niên - sự quên ḿnh, niềm tin, t́nh yêu và cách diễn tả nó qua giới tính, cách dạy Giáo lư như thế rất quan trọng. Việc bày tỏ Đức Giêsu như một Người Bạn, một Người Hướng Dẫn và một Gương Mẫu, không những đáng phục mà c̣n có thể bắt chước được; sự bày tỏ sứ điệp này là sứ điệp cung cấp câu trả lời cho các thắc mắc căn bản, việc bày tỏ chương tŕnh yêu thương của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ, như là việc nhập thể của một t́nh yêu chân chính duy nhất, và như là khả năng kết hợp nhân loại, tất cả những điều này có thể làm nền tảng cho việc giáo dục Đức tin chân chính. Trên hết, các mầu nhiệm của sự Thương Khó và sự Chết của Đức Giêsu, mà qua đó, theo Thánh Phaolô, Người đă được phục sinh vinh hiển, có thể nói cách hùng hồn với lương tâm và trái tim của thanh thiếu niên, và soi sáng trên những đau khổ đầu tiên của các em và trên đau khổ của thế giới mà các em đang khám phá ra.
39. Với tuổi trẻ, giờ phút phải quyết định đầu tiên đă đến. Mặc dù người trẻ được các phần tử trong gia đ́nh và bạn bè nâng đỡ, các em vẫn phải tin cậy vào chính ḿnh và lương tâm của ḿnh, và phải chịu trách nhiệm về tương lai của ḿnh cách thường xuyên và cương quyết hơn. Tốt và xấu, ân sủng và tội lỗi, sống và chết sẽ va chạm với nhau thường xuyên hơn trong các em, không những chỉ trong phạm trù luân lư, nhưng trong chính những chọn lựa căn bản mà các em phải chấp nhận hay loại bỏ cách rơ ràng, có ư thức về trách nhiệm của ḿnh. Rơ ràng là một bài Giáo lư lên án tính ích kỷ nhân danh tính đại lượng, tŕnh bày cách thực tế và không quá đơn giản, ư nghĩa Kitô giáo của việc làm, của công ích, của công b́nh và bác ái, một Giáo lư về hoà b́nh quốc tế và thăng tiến nhân phẩm, về sự phát triển và về giải phóng, như những điều ấy được tŕnh bày trong những tài liệu gần đây của Giáo Hội[2], hoàn tất cách thích thú trong tâm trí người trẻ một bài Giáo lư tốt về những thực tại hoàn toàn tôn giáo, là những điều mà chúng ta không bao giờ được bỏ sót. Như thế, việc dạy Giáo lư giữ một địa vị quan trọng đáng kể, v́ đây là lúc Tin Mừng có thể được tŕnh bày, được hiểu biết và chấp nhận như có khả năng làm cho cuộc đời có ư nghĩa, và như thế khích lệ những thái độ không thể giải thích được như từ bỏ ḿnh, quên ḿnh, chịu đựng, công b́nh, quyết tâm, hoà giải, một cảm giác về Đấng Tuyệt Đối và vô h́nh. Tất cả những nét ấy phân biệt một người trẻ như một môn đệ của Đức Kitô với các đồng bạn của em.
Như thế, việc dạy Giáo lư chuẩn bị cho những quyết tâm trong đời sống trưởng thành của Kitô hữu. Thí dụ, chắc chắn rằng nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ được bắt nguồn từ những lớp Giáo lư được tŕnh bày cách đúng đắn khi c̣n bé hay c̣n trẻ. Từ khi c̣n ấu thơ đến khi bước vào ngưỡng cửa trưởng thành, việc dạy Giáo lư như thế là một trường Đức tin thường trực và đi kèm những giai đoạn chính của cuộc đời, như những tia sáng soi lối trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ.
40. Thật yên tâm khi ghi nhận rằng, trong Đại hội lần 4 của Thượng Hội đồng Giám mục và những năm sau đó, Giáo Hội đă chia sẻ cách rộng răi về quan tâm đến việc làm thế nào để dạy Giáo lư cho trẻ em và người trẻ. Thiên Chúa muốn rằng một quan tâm thức tỉnh như thế sẽ tồn tại lâu dài trong lương tâm của Giáo Hội. Thượng Hội Đồng thật sự đem lại ích lợi cho toàn thể Giáo Hội khi cố gắng vẽ ra một cách chính xác khuôn mặt phức tạp của giới trẻ hôm nay; bằng cách chứng tỏ rằng tuổi trẻ dùng một ngôn ngữ riêng mà trong đó chúng ta cần phải biết dùng sự kiên nhẫn và khôn ngoan để phiên dịch sứ điệp của Chúa Giêsu mà không dịch sai nghĩa; bằng cách chứng minh rằng, bất kể vẻ bề ngoài ra sao, các em mang trong ḿnh, thường một cách lẫn lộn, không những chỉ sự sẵn sàng hay cởi mở, mà một ao ước thật sự muốn “biết Chúa Giêsu… là Đấng c̣n được gọi là Kitô[3]”; và bằng việc vạch ra rằng công tác dạy Giáo lư ngày nay, nếu muốn thực thi một cách chính xác và nghiêm chỉnh, th́ khó khăn và nhọc nhằn hơn bao giờ hết, v́ đủ mọi thứ trở ngại và khó khăn mà nó gặp phải; nhưng cũng được an ủi nhiều v́ chiều sâu của những câu trả lời nhận được từ các em bé và người trẻ. Đây chính là một kho tàng mà Giáo Hội có thể và phải đặt hy vọng vào trong những năm sắp tới.
41. Trước hết, phải nghĩ đến các trẻ em và người trẻ bị khuyết tật về thể lư hay tâm thần. Các em có quyền được biết “mầu nhiệm Đức tin” như những em khác ở tuổi các em. Các khó khăn mà các em gặp càng lớn th́ những cố gắng của các em và các thầy cô càng có giá trị. Thật là hân hoan khi thấy các tổ chức Công giáo đă dành hết tâm lực cách đặc biệt cho các trẻ khuyến tật, đă đóng góp vào Thượng Hội Đồng một ước muốn mới để giải quyết vấn đề quan trọng này. Các tổ chức này đáng được khuyến khích cách nồng nhiệt trong cố gắng này.
42. Tiếp theo là nghĩ đến một số càng ngày càng đông các trẻ em và người trẻ được sinh ra và giáo dục trong những gia đ́nh không phải Kitô giáo, hay ít ra là không sống đạo, nhưng muốn biết về Đức tin Kitô. Chúng ta phải bảo đảm có một chương tŕnh Giáo lư thích hợp cho các em, để các em có thể lớn lên trong Đức tin và sống Đức tin ấy mỗi ngày một hơn, dù thiếu sự nâng đỡ, hoặc ngay cả gặp các chống đối chung quanh các em.
43. Để tiếp tục nói về các nhóm người được học Giáo lư, giờ đây tôi không thể không nhấn mạnh đến một trong những ưu tư thường xuyên nhất của các Nghị phụ trong Thượng Hội Đồng, một ưu tư được đặt ra cách mănh liệt và khẩn thiết v́ những kinh nghiệm trên khắp thế giới hiện nay: tôi nói đến vấn đề chính yếu là việc dạy Giáo lư cho người trưởng thành. Đây là phương thức dạy Giáo lư chính, bởi v́ nó nhắm đến những người có trách nhiệm nặng nề nhất và có khả năng để sống sứ điệp Kitô dưới một h́nh thái hoàn toàn phát triển[4]. Cộng đồng Kitô hữu không thể làm tṛn trách nhiệm dạy Giáo lư thường trực mà không có sự hợp tác trực tiếp và tài khéo léo của những người trưởng thành, dù là người lănh nhận hay người phổ biến các hoạt động Giáo lư. Người trưởng thành là những người đang điều hành cái thế giới mà trong đó người trẻ đang được mời gọi sống và làm nhân chứng cho Đức tin mà việc dạy Giáo lư cố gắng đào sâu và củng cố. Đức tin của những người trưởng thành này cũng cần phải được soi sáng, kích thích và canh tân liên tục, để nó có thể thấm nhuấn các thực tại trần thế trong ṿng trách nhiệm của họ. Như thế, để có hiệu quả, việc dạy Giáo lư phải thường trực, và nó sẽ hoàn toàn vô ích nếu bị ngưng ngay ở ngưỡng cửa của tuổi trưởng thành, nói cách khác, việc dạy Giáo lư cũng rất cần thiết cho người trưởng thành như thế.
44. Trong số những người trưởng thành cần học Giáo lư, quan tâm mục vụ truyền giáo của chúng ta nhắm vào những người được sinh ra và lớn lên trong các vùng chưa được Kitô hoá, và chưa bao giờ được học hỏi sâu xa giáo huấn Kitô giáo về những hoàn cảnh trong đời sống mà có lúc nào đó họ sẽ gặp phải. Nó cũng nhắm đến những người đă được học Giáo lư thích hợp với tuổi của họ khi c̣n bé, nhưng khi lớn lên th́ không c̣n thực thi tôn giáo, và đến lúc trưởng thành mới thấy sự hiểu biết của ḿnh về tôn giáo c̣n ấu trĩ. Đồng thời cũng nhằm vào những người có cảm thấy những ảnh hưởng của việc học Giáo lư khi c̣n nhỏ, nhưng được dạy cách thiếu sót hay không được thấm nhuần mấy. Nó cũng nhắm đến những người dù đă sinh trưởng trong các nước Kitô giáo hay trong các khung cảnh xă hội Kitô giáo, nhưng chưa bao giờ được giáo dục về Đức tin, và khi trưởng thành, họ thật sự là dự ṭng.
45. Như thế, việc dạy Giáo lư là dành cho người trưởng thành thuộc mọi lứa tuổi, kể cả các người lăo thành - là những người cần quan tâm đặc biệt v́ các kinh nghiệm và các khó khăn của họ - cũng quan trọng như việc dạy Giáo lư cho trẻ em, thanh thiếu niên và giới trẻ. Chúng ta cũng phải nhắc đến các người di cư, những người bị các tiến bộ hiện đại bỏ qua, những người sống trong các thành phố lớn ở những khu vực thường không có nhà thờ, các toà nhà hay các tổ chức thích hợp, và những nhóm người khác tương tự. Cần phải có những sáng kiến để giúp việc đào luyện Kitô cho tất cả các nhóm này, bằng những phương tiện thích hợp (thính thị, sách bỏ túi, hội thảo, thuyết tŕnh), phải có nhiều buổi học tập, để giúp nhiều người trưởng thành lấp vào những chỗ trống gây ra bởi việc dạy Giáo lư cách thiếu sót, để hoàn toàn hoà hợp ở mức độ Giáo lư mà họ được học khi c̣n bé, hay để chuẩn bị họ cách đầy đủ trong lĩnh vực này để họ có thể giúp người khác một cách hoàn chỉnh hơn.
Một điều quan trọng khác là không được tách rời việc dạy Giáo lư cho trẻ em và người trẻ, việc dạy Giáo lư thường trực, và việc dạy Giáo lư cho người trưởng thành riêng ra như những pḥng bịt kín. Quan trọng hơn nữa là không được có những gián đoạn giữa chúng. Ngược lại, phải nuôi dưỡng sự bổ túc hoàn toàn cho nhau: người trưởng thành có rất nhiều khả năng để cung cấp cho người trẻ và trẻ em trong lĩnh vực Giáo lư, nhưng họ cũng có thể nhận lại được rất nhiều từ các em để giúp đời sống Kitô hữu của họ tăng trưởng. Cần phải nhắc lại rằng, không ai trong Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô được phép cho rằng ḿnh không phải học Giáo lư. Điều này đúng cho cả các chủng sinh và các tu sĩ trẻ, cùng tất cả những ai được Chúa gọi làm nhiệm vụ mục tử và Giáo lư viên. Họ sẽ làm tṛn nhiệm vụ của họ cách tốt đẹp hơn nếu họ là những học tṛ khiêm nhường của Giáo Hội, là những người vừa học vừa dạy Giáo lư cao quư.
46. Từ những giáo huấn khẩu truyền của các Tông đồ và các thư luân lưu giữa các Giáo hội cho đến những phương tiện hiện đại nhất, việc dạy Giáo lư đă không ngừng t́m những cách thế và phương tiện thích hợp nhất cho sứ vụ của ḿnh, cùng sự hợp tác tích cực của các cộng đoàn và sự khuyến khích của các mục tử. Nỗ lực này cần được tiếp tục.
Tôi nghĩ ngay đến những khả năng vĩ đại mà các phương tiện truyền thông có thể cung cấp, cùng những phương tiện truyền thông nhóm như: truyền h́nh, truyền thanh, báo chí, thu băng, thu h́nh và hàng loạt các phương tiện thính thị khác. Các thành quả trong những lĩnh vực này sẽ đem lại một hy vọng khả quan nhất. Ví dụ kinh nghiệm cho thấy hiệu quả của các bài giảng dạy trên tuyền thanh hay truyền h́nh khi tổng hợp một mức độ mỹ thuật cao với tinh thần tuyệt đối trung thành với Huấn Quyền. Hiện nay, Giáo Hội có nhiều dịp để suy nghĩ về những vấn đề này - ví dụ, vào những Ngày Truyền thông Xă hội - và chúng ta không cần phải nói dài ḍng về chúng ở đây, mặc dù chúng rất quan trọng.
47. Tôi cũng nghĩ đến những cơ hội quư hoá đặc biệt khác nhau rất thích hợp cho việc dạy Giáo lư: ví dụ, những cuộc hành hương của giáo phận, của vùng hay của quốc gia, có ích v́ được đặt trọng tâm vào những chủ đề được chọn lựa cách khôn ngoan dựa vào cuộc đời Đức Kitô, Đức Mẹ hay các Thánh. Rồi có những sứ vụ truyền thống, thường bị ngưng quá vội vàng nhưng không thể thay thế được cho việc canh tân đời sống Kitô cách mạnh mẽ và định kỳ - chúng phải được phục hồi và cập nhật hoá. Rồi c̣n có những nhóm học hỏi Thánh Kinh, là những nhóm cần phải vượt khỏi việc giải thích, và dẫn đưa các thành viên đến việc sống Lời Chúa. Lại c̣n những thời điểm khác là các buổi họp của các cộng đồng Giáo hội căn bản, miễn là các cộng đồng này phù hợp với những tiêu chuẩn đề ra trong Tông Huấn Evangelii nuntiandi[5]. Tôi cũng xin nhắc đến các đoàn thể trẻ dưới nhiều danh hiệu và h́nh thức khác nhau nhưng luôn có một mục đích là làm cho người ta biết về Đức Giêsu Kitô bằng cách sống theo Tin Mừng, đang được tăng triển ở nhiều nơi như một loại mùa xuân làm cho Giáo Hội được an ủi. Các đoàn thể này gồm những nhóm hành động Công giáo, bác ái Công giáo, các nhóm cầu nguyện và chiêm niệm Kitô giáo. Các nhóm này là một nguồn mạch của niềm hy vọng lớn lao cho Giáo Hội tương lai. Nhưng, nhân danh Đức Kitô, cha thúc đẩy các người trẻ thuộc các nhóm này, các huynh trưởng của họ, và các linh mục dành phần lớn của việc mục vụ của ḿnh cho họ: không cần biết phải trả giá nào, đừng để những nhóm này, là những cơ hội đặc biệt để gặp gỡ những người khác, và được chúc phúc bằng t́nh bằng hữu và đoàn kết phong phú giữa những người trẻ, bằng niềm vui và sự hăng say, bằng suy niệm về những biến cố và dữ kiện - đừng để các nhóm này thiếu sự học hỏi nghiêm chỉnh về những giáo thuyết Kitô giáo. Nếu không, các nhóm này sẽ bị lâm nguy - tiếc thay đây là một nguy hiểm có thật - là làm cho các thành viên và Giáo Hội bị thất vọng.
Cố gắng dạy Giáo lư có thể thực hiện được trong những môi trường này, và nhiều môi trường khác nữa, sẽ có thể được chấp nhận dễ dàng và sinh hoa quả nếu nó tôn trọng bản tính cá nhân của chúng. Bằng cách trở nên một phần của chúng đúng cách, nó sẽ đạt được tính đa dạng và bổ túc của những phương pháp giúp nó phát triển tất cả sự phong phú của khái niệm của nó, với 3 chiều kích của lời nói, kư ức và làm nhân chứng - tức là học thuyết, cử hành và quyết tâm trong đời sống - là những ǵ mà Sứ điệp của Thượng Hội đồng Giám mục muốn nhấn mạnh cho Dân Chúa[6].
48. Nhận xét này lại càng đúng hơn cho việc dạy Giáo lư trong khung cảnh Phụng vụ, nhất là trong Thánh lễ. Khi tôn trọng tính chất đặc biệt và ngữ điệu thích hợp của khung cảnh này, bài giảng lại nhắc đến cuộc hành tŕnh Đức tin mà việc dạy Giáo lư đă đưa ra, và đưa nó đến đích một cách tự nhiên. Đồng thời bài giảng khích lệ các môn đệ của Chúa bắt đầu lại cuộc hành tŕnh của họ trong chân lư, thờ lạy và cảm tạ mỗi ngày. V́ thế, người ta có thể nói rằng việc dạy Giáo lư cũng t́m thấy nguồn mạch và cùng đích của nó trong Bí tích Thánh Thể, trong toàn thể chu kỳ Năm Phụng Vụ. Cho nên việc giảng dạy đặt trọng tâm vào bản văn Thánh Kinh, tự nó phải làm cho các tín hữu có thể quen thuộc với toàn thể các mầu nhiệm Đức tin và với những phong tục của đời Kitô hữu. Phải chú ư nhiều đến bài giảng: nó không được quá dài mà cũng đừng quá ngắn; nó phải luôn được soạn cẩn thận, chất lượng phong phú và phù hợp với người nghe, và chỉ dành cho các thừa tác viên có chức thánh. Bài giảng phải có chỗ đứng không chỉ trong các Thánh lễ mỗi ngày Chúa Nhật và các ngày lễ, nhưng cũng trong việc cử hành Bí tích Rửa Tội, Phụng vụ Sám Hối, Hôn Phối và Tang Lễ. Điều này có lợi cho việc canh tân Phụng vụ.
49. Trong số những cách thế và phương tiện khác nhau - tất cả mọi hoạt động của Giáo Hội đều có khía cạnh Giáo lư - các tác phẩm về dạy Giáo lư, thay v́ mất sự quan trọng thiết yếu của chúng, th́ lại đạt được ư nghĩa mới. Một trong những điểm chính của việc canh tân Giáo lư hôm nay là việc soạn lại và xuất bản nhiều sách về dạy Giáo lư nhiều nơi trong Giáo hội. Rất nhiều tác phẩm đă được xuất hành và là kho tàng thật sự để phục vụ việc dạy Giáo lư. Nhưng phải khiêm tốn và thành thật mà nhận rằng việc trăm hoa đua nở này cũng đă đem theo nó các bài viết và sách vở mập mờ và nguy hại cho giới trẻ, và ngay cả người lớn, hoặc v́ cố t́nh hay vô ư bỏ sót những yếu tố quan trọng trong Đức tin của Giáo Hội, hay v́ quá nhấn mạnh đến sự quan trọng của một vài chủ đề và coi thường các chủ đề khác, hoặc chỉ tŕnh bày những quan niệm chung theo chủ thuyết theo hàng ngang mà không theo giáo huấn của Huấn quyền Giáo Hội.
Cho nên, xuất bản nhiều tác phẩm Giáo lư mà thôi th́ chưa đủ. Để những tác phẩm này thích hợp với mục tiêu của chúng, cần phải có những điều kiện thiết yếu sau:
a) Các sách phải liên quan đến đời sống thật sự của thế hệ mà chúng nhắm đến, chứng tỏ sự hiểu biết về những lo âu và thắc mắc, những trăn trở và hy vọng.
b) Chúng phải cố gắng nói ngôn ngữ mà thế hệ này hiểu được.
c) Chúng phải nêu rơ vấn đề là cung cấp toàn thể sứ điệp của Đức Kitô và Giáo Hội Người, mà không bỏ sót hay xuyên tạc điều nào, và trong khi giải thích chúng phải theo một đường lối và một cấu trúc nhấn mạnh về những điều thiết yếu.
d) Chúng phải thực sự nhằm cung cấp cho những người dùng chúng một sự hiểu biết rơ ràng hơn về mầu nhiệm của Đức Kitô, với mục đích là đưa họ đến một sự hoán cải thật và một đời sống phù hợp với Thánh ư Thiên Chúa hơn.
50. Tất cả những ai lănh trọng trách soạn những học cụ dạy Giáo lư, nhất là các sách Giáo lư, chỉ có thể được phép làm như thế với sự ưng thuận của mục tử có quyền cho phép ấy, và lấy cảm hứng càng nhiều từ sách Chỉ dẫn Chung về Dạy Giáo lư càng tốt, v́ sách này vẫn là sách tham khảo căn bản[7].
Về điểm này, tôi phải nhiệt tâm khuyến khích các Hội đồng Giám mục trên toàn thế giới lănh nhận, cách kiên nhẫn nhưng cương quyết, để hoàn thành công tác đáng kể này theo sự thoả thuận với Toà Thánh để soạn thảo các sách Giáo lư chân chính, là những sách sẽ trung thành với nội dung thiết yếu của mạc khải và cập nhật hoá về phương pháp, và có thể dùng để giáo dục các thế hệ Kitô hữu tương lai cho có một Đức tin vững chắc.
Những cách thức và phương tiện của việc dạy Giáo lư hiện đại được nhắc đến cách vắn tắt này không phải là tất cả các đề nghị được các Nghị phụ của Thượng Hội đồng Giám mục đưa ra. Thật là đáng khích lệ khi nghĩ rằng lúc này mọi quốc gia đều thấy giá trị của việc hợp tác để có một cuộc canh tân các phương diện này của việc dạy Giáo lư một cách có tổ chức và chắc chắn hơn. Nhờ ơn Chúa, chắc chắn rằng Giáo Hội sẽ t́m thấy các chuyên gia và những phương tiện đúng để đáp ứng những nhu cầu phức tạp trong việc truyền thông với dân chúng ngày nay.
51. Tuổi tác và sự phát triển về trí thức của các Kitô hữu, mức độ trưởng thành về Giáo Hội và nhiều hoàn cảnh cá nhân khác đ̣i hỏi rằng việc dạy Giáo lư phải áp dụng rộng răi nhiều phương pháp khác nhau để đạt được mục đích riêng của nó là giáo dục Đức tin. Trên một b́nh diện chung, các hoàn cảnh xă hội và văn hoá mà trong đó Giáo Hội thực thi việc dạy Giáo lư cũng đ̣i hỏi các phương pháp khác nhau này.
Sự đa dạng của các phương pháp được sử dụng là một dấu chỉ của sự sống động và sung túc. Các Nghị phụ của Đại hội lần 4 của Thượng Hội đồng Giám mục đă nghĩ như thế, tuy nhiên, các ngài cũng chú tâm đến các điều kiện cần thiết cho sự đa dạng này được hữu dụng mà không phương hại đến tính thống nhất của việc dạy về Đức tin.
52. Câu hỏi chung đầu tiên được đặt ra ở đây về những nguy hiểm và cám dỗ trong việc pha lẫn việc dạy Giáo lư cách không hợp lư với các quan niệm ư thức hệ hoặc công khai hoặc tiềm ẩn, nhất là những tư tưởng chính trị hay xă hội, hoặc với những chọn lựa chính trị có tính cách cá nhân. Khi đặt những ư thức hệ như thế trên sứ điệp chính được truyền thụ, đến nỗi làm lu mờ nó, và xếp nó xuống vị thế thứ yếu, hay chỉ chỉ dùng nó làm b́nh phong để đạt được mục đích riêng, th́ việc dạy Giáo lư bị hoàn toàn bóp méo. Thượng Hội đồng Giám mục khẳng định đúng về việc phải đặt Giáo lư lên trên các khuynh hướng một chiều - để tránh “phân đôi” - ngay cả trong phạm vi giải thích thần học về những vấn đề ấy. Chính trên căn bản mạc khải mà việc dạy Giáo lư sẽ cố gắng đưa ra quy luật cho ḿnh, mạc khải như được truyền lại từ Huấn Quyền phổ quát của Giáo Hội, dưới h́nh thức trọng thể hay thông thường. Mạc khải này nói cho chúng ta về việc tạo dựng và cứu độ của Thiên Chúa, mà Con của Ngài đă đến giữa chúng ta bằng nhục thể và đi vào, không những chỉ lịch sử riêng của mỗi cá nhân, mà c̣n vào chính lịch sử nhân loại, bằng cách trở nên trọng tâm của nó. Như thế, mạc khải này nói về sự thay đổi toàn diện của con người và vũ trụ, của tất cả những ǵ làm thành mạng lưới nhân loại dưới ảnh hưởng Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Nếu nhận thức được như thế, th́ việc dạy Giáo lư sẽ vượt trên mọi thứ duy luân lư có tính cách h́nh thức, mặc dù nó bao gồm cả việc dạy về luân lư Kitô thật. Điều chính là nó vượt trên mọi loại “cứu chúa thuyết” trần thế, xă hội hay chính trị, mà t́m cách đi vào đáy ḷng con người.
53. Bây giờ đến vấn đề thứ nh́. Như gần đây tôi đă nói với thành viên của Uỷ ban Thánh Kinh: “Từ ‘hoà hợp văn hoá’ hay ‘hội nhập văn hoá’ có thể là những từ mới, nhưng nó diễn tả rất đúng một yếu tố của mầu nhiệm Nhập Thể cao cả”[8]. Chúng ta có thể nói về việc dạy Giáo lư, cũng như việc Phúc Âm hoá cách chung, là được gọi để mang quyền năng của Tin Mừng vào tận tâm hồn của văn hoá và các nền văn hoá. V́ mục đích này mà môn Giáo lư sẽ t́m cách biết các văn hoá này và các thành phần chính của chúng; nó sẽ học cách diễn tả có ư nghĩa nhất; nó sẽ tôn trọng những giá trị và sự phong phú riêng của chúng. Bằng cách này nó sẽ có thể cống hiến cho các nền văn hoá ấy sự hiểu biết về mầu nhiệm c̣n bị che giấu[9] và giúp chúng làm nảy sinh ra từ chính truyền thống sống động của chúng những sự diễn tả nguyên thuỷ của đời sống, cử hành và tư tưởng Kitô. Tuy nhiên, phải nhớ 2 điều:
· Một đàng, không thể cô lập sứ điệp Tin Mừng cách hoàn toàn hay cách đơn thuần khỏi nền văn hoá mà trong đó nó được đưa vào lần đầu (thế giới Thánh Kinh hay cụ thể hơn, cái khung cảnh văn hoá mà trong đó Chúa Giêsu thành Nazareth đă sống), hoặc cũng không thể cô lập nó khỏi các nền văn hoá mà trong đó nó đă được diễn tả từ nhiều kỷ nguyên, mà không tạo ra một mất mát lớn lao; nó không th́nh ĺnh mọc lên từ bất cứ thửa đất văn hoá nào; nó luôn được truyền bá bằng cách đối thoại tông đồ, mà không tránh được việc trở thành một phần của cuộc đối thoại nào đó với các nền văn hoá.
Quên điều này người ta sẽ đi đến điều mà Thánh Phaolô gọi một cách hùng hồn là: “Làm cho Thập giá Đức Kitô ra vô hiệu”[10].
Khi dùng sự khôn ngoan mà phân biệt để lấy ra một vài yếu tố nào đó, dù là tôn giáo hay không tôn giáo, là một phần của gia sản văn hoá của một nhóm người, và dùng chúng để giúp các phần tử của nền văn hoá này hiểu rơ ràng hơn toàn thể mầu nhiệm Kitô giáo là một vấn đề khác. Môn Giáo lư chân chính biết rằng dạy Giáo lư là “nhập thể” trong những nền văn hoá và khung cảnh khác nhau: một người phải nghĩ đến các dân với những sự khác biệt lớn lao, về giới trẻ hiện đại, về nhiều hoàn cảnh khác nhau mà người ta gặp phải ngày nay. Nhưng người ta từ chối chấp nhận một sự bần cùng hoá của môn Giáo lư qua việc từ bỏ hay làm cho sứ điệp của Giáo lư bị tối nghĩa, qua những sự thích nghi, dù trong ngôn ngữ, mà có thể làm “cái kho tàng Đức tin quư giá” bị nguy hiểm[11], hoặc qua việc nhượng bộ về những vấn đề Đức tin và luân lư. Họ xác tín rằng môn Giáo lư thật sẽ phong phú hoá những nền văn hoá này bằng cách giúp chúng vượt qua tất cả những nét thiếu sót hay ngay cả vô nhân đạo trong chúng, và qua việc truyền thông cho chúng những giá trị chân chính của sự sung măn của Đức Kitô[12].
54. Một câu hỏi khác về phương pháp có liên quan đến việc sử dụng những yếu tố hợp lệ của việc sùng kinh phổ thông trong việc dạy Giáo lư. Tôi đă nghĩ đến các cách sùng kính của các tín hữu trong những vùng nào đó với nhiệt t́nh và ư ngay lành, dù niềm tin làm nền tảng cho chúng cần phải được thanh lọc hay điều chỉnh về nhiều phương diện. Tôi cũng đă nghĩ đến một số hành vi trong các thói quen sùng kính chứng tỏ ước muốn chân thành để ăn năn hối cải hay để làm đẹp ḷng Chúa. Khi nhấn mạnh đến hầu hết các kinh nguyện hay thói quen này, ngoài những yếu tố nên bỏ đi, th́ có những yếu tố khác, nếu dùng đúng cách, có thể phục vụ rất tốt để giúp người ta tiến đến sự hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô và sứ điệp của Người: t́nh yêu và ḷng thương xót của Thiên Chúa, sự Nhập thể của Đức Kitô, Thập giá cứu độ và sự Phục sinh của Người, hoạt động của Chúa Thánh Thần trong mỗi Kitô hữu và trong Giáo Hội, mầu nhiệm đời sau, các nhân đức theo Tin Mừng để thực hành, sự hiện diện của Kitô hữu trong thế gian... Và tại sao chúng ta lại nại đến những yếu tố ngoài Kitô giáo - và ngay cả chống Kitô giáo - trong khi từ chối không chịu xây dựng trên những yếu tố, dù cần phải xét lại hay cải tiến, nhưng có một điều ǵ có tính Kitô giáo ngay tận nguồn gốc của chúng?
55. Ít ra nên nhấn mạnh đến vần đề cuối cùng về phương pháp đă được Thượng Hội đồng Giám mục bàn luận khá nhiều, đó là học thuộc ḷng. Việc dạy Giáo lư Kitô trong những thời gian đầu tiên, trùng hợp với nền văn hoá đặc biệt truyền khẩu, nên dùng đến trí nhớ rất nhiều. Từ đó, việc học Giáo lư được biết là có một truyền thống học các chân lư căn bản bằng phương pháp thuộc ḷng. Tất cả chúng ta đều ư thức rằng phương pháp này có thể có một số bất lợi, ít là nó đưa đến việc thiếu hiểu biết hay không hiểu biết ǵ cả; nó biến tất cả mọi kiến thức thành công thức được lặp đi lặp lại mà không hiểu chính xác. Các bất lợi này và những đặc tính khác của nền văn hoá mà chúng ta có ở vài nơi đưa đến việc hoàn toàn loại bỏ - theo một số người là dứt khoát phải loại bỏ - việc học thuộc ḷng trong môn Giáo lư. Nhưng trong Đại hội của Thượng Hội đồng Giám mục, chúng ta nghe được một số tiếng nói có thẩm quyền kêu gọi phục hồi một sự cân bằng cách thận trọng giữa sự suy nghĩ và bộc phát, giữa đối thoại và im lặng, giữa việc viết và việc học thuộc ḷng. Hơn nữa, một số nền văn hoá c̣n rất tôn trọng việc học thuộc ḷng.
Ở thời điểm mà trong việc dạy các môn học đời ở một số quốc gia, người ta đang than phiền về hậu quả đáng tiếc của việc coi thường khả năng trí nhớ của con người, vậy tại sao chúng ta lại không thử sử dụng khả năng này một cách khôn ngoan và ngay cả bằng phương thức nguyên thuỷ trong việc dạy Giáo lư, và hơn nữa bởi v́ việc cử hành hay “tưởng niệm” các biến cố vĩ đại trong lịch sử cứu độ đ̣i hỏi một sự hiểu biết chính xác về chúng? Việc học thuộc ḷng một số lời của Chúa Giêsu, các câu Thánh Kinh quan trọng, Mười Điều Răn, các công thức của việc tuyên xưng Đức tin, các kinh trong Phụng vụ, các kinh nguyện cần thiết, các tư tưởng giáo thuyết chính… thay v́ làm giảm nhân phẩm của các Kitô hữu trẻ, hay là một trở ngại cho việc nói chuyện riêng với Chúa, th́ lại là điều thật sự cần thiết, như các Nghị phụ đă mạnh mẽ nhắc nhở. Chúng ta phải có óc thực tế. Các bông hoa này của Đức tin và ḷng đạo đức, nếu chúng ta có thể gọi như thế, không thể mọc trong các nơi hoang địa của việc dạy Giáo lư mà không có trí nhớ (Ces fleurs, si l'on peut dire, de la foi et de la piété ne poussent pas dans les espaces désertiques d'une catéchèse sans mémoire). Điều cần thiết là những ǵ phải nhớ cũng phải được từ từ hiểu biết một cách sâu xa, để chúng trở thành nguồn mạch của đời sống Kitô hữu ở mức độ riêng và mức độ cộng đoàn.
Việc có nhiều phương pháp trong việc dạy Giáo lư hiện đại có thể là dấu chỉ của khả năng tồn tại và tài khéo léo. Trong mọi trường hợp, phương pháp được chọn lựa phải quy chiếu tuyệt đối vào một luật căn bản cho toàn thể đời sống Giáo Hội là luật trung thành với Thiên Chúa và với con người bằng một thái độ yêu thương duy nhất.
56. Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy khó khăn mà trong đó mối lo âu v́ thấy những sáng tạo tốt nhất của con người vượt ra khỏi tầm tay họ và chống lại họ, tạo ra một bầu không khí bất ổn[13]. Trong thế giới này, việc dạy Giáo lư phải giúp cho các Kitô hữu trở thành “ánh sáng” và “muối” cho chính ḿnh được vui và để phục vụ mọi người[14]. Chắc chắn rằng điều này đ̣i hỏi việc dạy Giáo lư phải làm cho họ vững mạnh trong đặc tính của họ và phải luôn khác cái bầu khí ngần ngại, bất ổn và tẻ nhạt chung quanh nó. Mỗi khó khăn trong nhiều khó khăn là một thách đố cho Đức tin, tôi sẽ vạch ra một số để giúp việc dạy Giáo lư thắng vượt được chúng.
57. Một ít năm vừa qua, người ta nói nhiều về thế giới trần tục, thời đại hậu Kitô. Thời trang thay đổi, nhưng thực tại chính vẫn không thay đổi. Các Kitô hữu ngày nay phải được đào luyện để sống trong một thế giới mà phần lớn người ta không đếm xỉa ǵ đến Thiên Chúa, hay thay v́ một cuộc đối thoại thân hữu và chính xác về các vấn đề tôn giáo để khuyến khích mọi người, th́ người ta nếu không có một thái độ khinh miệt “nghi kỵ” nhân danh những tiến bộ đă đạt được về b́nh diện “giải thích” theo khoa học, th́ họ cũng xiêu vẹo trong trong chủ thờ ơ thấp hèn. Để giúp các Kitô hữu “đứng vững” trong thế giới này, và để cống hiến cho mọi người “một cuộc đối thoại về ơn cứu độ”[15] mà trong đó mỗi người cảm thấy được tôn trọng theo phẩm giá căn bản nhất, phẩm giá của một người đang t́m kiếm Thiên Chúa, chúng ta cần dạy Giáo lư cho những người trẻ và người trưởng thành của cộng đoàn chúng ta để họ tiếp tục hiểu rành mạch và kiên định trong Đức tin của họ, để xác tín cách rơ ràng tính chất Kitô và Công giáo của họ, để “thấy Đấng vô h́nh”[16] và gắn bó chặt chẽ với tính tuyệt đối của Thiên Chúa, để họ có thể làm nhân chứng cho Ngài trong một nền văn minh vật chất đang chối từ Ngài.
58. Tính chất độc đáo không thể giảm thiểu được của đặc tính Kitô giáo có được như là kết quả và điều kiện của một phương pháp sư phạm không kém ǵ độc đáo so sánh với Đức tin. Trong những khoa học thời danh nhất của con người mà ngày nay đạt được tiến bộ rộng lớn nhất, th́ ngành sư phạm là một ngành khoa học quan trọng nhất. Các thành quả của những khoa học khác như sinh vật học, tâm lư học và xă hội học cung cấp cho nó những yếu tố giá trị. Khoa học giáo dục và nghệ thuật sư phạm đang tiếp tục và được xét lại thường xuyên, để làm cho chúng thích nghi và có hiệu quả hơn, với những mức độ thành công khác nhau.
Tuy nhiên, cũng có một phương pháp sư phạm của Đức tin, và không bao giờ diễn tả đủ những ǵ phương pháp này đem lại cho việc dạy Giáo lư. Đương nhiên là cần phải thích ứng những kỹ thuật đă được hoàn bị hoá và thử nghiệm cho việc giáo dục thông thường vào việc giáo dục Đức tin. Tuy nhiên, cũng luôn phải kể đến nguồn gốc tuyệt đối của Đức tin. Phương pháp sư phạm Đức tin không phải là vấn đề truyền thụ kiến thức của con người, dù cao sâu đến đâu đi nữa; nó là vấn đề truyền thụ trọn vẹn mạc khải của Thiên Chúa. Qua suốt ḍng lịch sử thánh, nhất là trong Tin Mừng, Chính Thiên Chúa đă dùng một phương pháp sư phạm, và phương pháp này phải tiếp tục là khuôn mẫu cho phương pháp sư phạm về Đức tin. Một phương pháp chỉ có giá trị trong việc dạy Giáo lư nếu nó phục vụ Đức tin được truyền thụ và được học hỏi, nếu không nó sẽ không có giá trị ǵ cả.
59. Một vấn đề liên quan mật thiết đến vấn đề trên là ngôn ngữ. Đây thật là một vấn đề nóng bỏng thời nay. Thật là ngược đời khi thấy rằng, trong khi các nghiên cứu hiện đại, ví dụ như trong ngành truyền thông, ngữ học và nghệ thuật diễn đạt bằng biểu tượng, nhấn mạnh đến vai tṛ quan trọng của ngôn ngữ, th́ ngày nay người ta đă lạm dụng ngôn ngữ để gây ra t́nh trạng hoang mang về ư thức hệ, để làm cho mọi người phải đồng tư tưởng với số đông, và hạ con người xuống thành đồ vật.
Tất cả những điều này có ảnh hưởng sâu đậm đến phạm vi dạy Giáo lư. V́ việc dạy Giáo lư có một nhiệm vụ thúc bách phải nói một ngôn ngữ thích hợp với trẻ em và người trẻ thời nay cách chung và với nhiều loại người khác - ngôn ngữ của sinh viên, các nhà trí thức và khoa học gia, ngôn ngữ của những người thất học, hoặc của những người của nền văn hoá đơn giản, ngôn ngữ của những người khuyết tật… Thánh Augustinô đă chạm trán với cùng một vấn đề và đă đóng góp một giải pháp cho thời đại của chính ngài bằng tác phẩm nổi danh De Cetechizandis Radibus. Trong môn Giáo lư cũng như trong thần học, chắc chắn rằng vấn đề ngôn ngữ được đặt lên hàng đầu. Nhưng có một lư do chính đáng cần nhắc lại ở đây là môn Giáo lư không được thu nhập bất cứ ngôn ngữ nào mà hậu quả là thay đổi bản chất của nội dung Kinh Tin Kính, v́ bất cứ lư do nào, ngay cả lư do khoa học. Những ngôn ngữ dối trá hay sảo ngữ cũng chẳng tốt hơn. Ngược lại, luật quan trọng nhất là những tiến bộ lớn lao trong khoa học ngôn ngữ phải được sử dụng để phục vụ việc dạy Giáo lư, để giúp nó “nói” hay “truyền thông” với trẻ em, thanh thiếu niên, người trẻ và người trưởng thành hôm nay toàn thể nội dung Đức tin mà không bị bóp méo.
60. Một thách đố tinh vi hơn thỉnh thoảng xảy đến từ ngay cách mà người ta nhận thức về Đức tin. Có một vài trường phái triết học hiện đại, có vẻ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến một số chiều hướng thần học và qua chúng đến việc mục vụ, như là việc nhấn mạnh rằng thái độ căn bản của con người là t́m sự vô cùng, một sự t́m kiếm không bao giờ có thể đạt được mục tiêu. Trong thần học, quan điểm này về sự vật khẳng định rằng Đức tin không phải là sự chắc chắn nhưng là một sự chất vấn, không phải là điều rơ ràng, nhưng là một bước nhảy vào trong bóng tối.
Những ḍng tư tưởng này chắc chắn có lợi điểm là nhắc nhở chúng ta rằng Đức tin liên quan đến những ǵ chúng ta chưa chiếm hữu, nhưng đang hy vọng có được; như là chúng ta chỉ thấy “một cách lờ mờ trong gương”[17]; và Thiên Chúa luôn ngự trong ánh sáng không đến gần được[18]. Chúng giúp chúng ta biến Đức tin Kitô giáo thành Đức tin của một kẻ lữ hành trên đường tiến lên như với ông Abraham, chứ không phải của một người đă đến nơi. Hơn nữa, một người nên tránh tŕnh bày những ǵ không chắc chắn như là chắc chắn.
Tuy nhiên, chúng ta không được rơi vào t́nh trạng cực đoan ngược lại, như thường xảy ra. Thư gửi tín hữu Do Thái nói rằng: “Đức tin là đảm bảo cho những điều chúng ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều chúng ta không trông thấy”[19]. Dù chúng ta không hoàn toàn chiếm hữu, nhưng chúng ta có một bảo đảm và một bằng chứng. Khi giáo dục trẻ em, thanh thiếu niên, và ngưởi trẻ, đừng cho các em những tư tưởng về Đức tin quá tiêu cực - như là chúng ta tuyệt đối không biết ǵ, một thứ đui mù, một thế giới tối tăm - nhưng hăy cho các em thấy một sự khiêm nhường, nhưng can đảm t́m kiếm của người có đức tin, thay v́ khởi đầu từ hư vô, trong một sự tự lừa dối ḿnh, một ư kiến có thể sai lầm và không chắc chắn, th́ sự t́m kiếm này dựa vào Lời Thiên Chúa là Đấng không thể lừa dối và cũng không bị lừa dối, và không ngừng được xây dựng trên đá của Lời này. Đây là sự t́m kiếm của Ba Vua dưới sự hướng dẫn của ngôi sao[20], sự t́m kiếm của Pascal, dùng câu nói của Thánh Augustinô, được viết thật xúc tích: “Ngươi đă không t́m kiếm Ta nếu người đă không t́m thấy Ta”[21].
Một mục tiêu nữa của việc dạy Giáo lư là cho các dự ṭng trẻ một sự chắc chắn tuy đơn giản nhưng vững chắc rằng nó sẽ giúp các em t́m biết Chúa nhiều hơn và tốt hơn.
61. Trong phạm vi này, tôi muốn chắc chắn rằng sự liên quan giữa việc dạy Giáo lư và thần học cần phải được hiểu rành mạch. Hiển nhiên là sự liên quan này thật sâu đậm và quan trọng đối với những người hiểu sứ mạng không thể thay thế được của môn thần học trong việc phục vụ Đức tin. V́ thế, chúng ta không ngạc nhiên rằng mỗi xáo động trong khoa thần học đều vang dội trong khoa Giáo lư. Trong giai đoạn ngay sau Công Đồng, Giáo Hội trải qua một thời điểm quan trọng nhưng nguy hiểm về nghiên cứu thần học. Cũng có thể nói như thế về khoa chú giải trong việc giải thích Thánh Kinh.
Các Nghị phụ của Thượng Hội Đồng từ tất cả các lục địa đă giải quyết vấn đề này cách rất thẳng thắn: các ngài nói về nguy hiểm của một sự “thiếu cân bằng” trong việc chuyển từ thần học sang Giáo lư và nhấn mạnh đến sự cần thiết phải làm ǵ với khó khăn này. Chính Đức Thánh Cha Phaolô VI đă giải quyết vấn đề này một cách không kém thẳng thắn trong khi giới thiệu Bài Tuyên xưng Đức tin Trọng Thể của ngài[22] và trong Tông huấn đánh dấu đệ ngũ chu niên ngày bế mạc Công đồng Vatican II[23].
Cần phải nhấn mạnh lại điều này. Ư thức được ảnh hưởng của các nghiên cứu và các lời tuyên bố của ḿnh trên việc dạy Giáo lư, các thần học gia và các nhà chú giải Thánh Kinh phải rất thận trọng để dân chúng không cho là điều chắc chắn những ǵ thật ra thuộc về phạm vi các vấn đề đang được bàn căi hay thảo luận giữa các nhà chuyên môn. Phần các Giáo lư viên, phải khôn ngoan chọn lấy từ lĩnh vực nghiên cứu thần học những điểm có thể soi sáng những suy tư riêng của ḿnh và sự giảng dạy của ḿnh, được múc từ nguồn mạch chính, dưới ánh sáng của Huấn Quyền, cũng giống như trường hợp các nhà thần học. Họ phải từ chối làm tâm trí của các trẻ em và người trẻ bị bối rối ở giai đoạn này của việc học Giáo lư, bằng những lư thuyết kỳ dị, những vấn đề vô ích, và những thảo luận vô bổ, là những điều mà Thánh Phaolô lên án trong các thư mục vụ của ngài[24].
Một món quà quư giá nhất mà Giáo Hội có thể tặng cho thế giới hoang mang và lo âu của thời đại chúng ta là h́nh thành trong thế giới này những Kitô hữu tin chắc vào những điều ǵ là thiết yếu và vui mừng cách khiêm nhường trong Đức tin của ḿnh. Môn Giáo lư sẽ dạy điều này cho họ và cũng được hưởng ích lợi đầu tiên từ việc này: “Người nào muốn hiểu rơ ḿnh - không theo những khuôn mẫu hay mực thước nhất thời, thiếu sót, thường th́ chỉ phiến diện, hay ảo giác về bản chất của ḿnh - phải đem sự thao thức và không chắc chắn của ḿnh, cùng cả t́nh trạng yếu đuối và tội lỗi, với sự sống và sự chết của ḿnh đến cùng Đức Kitô. Người ấy phải đi vào trong Đức Kitô với toàn thể con người của ḿnh, phải ‘chiếm hữu’ Đức Kitô và đồng hoá toàn thể thực tại của sự Nhập thể và cứu độ để t́m thấy chính ḿnh”[25].
62. Giờ đây, các hiền huynh và các con yêu dấu, tôi muốn lời của tôi, có ư là lời khuyên nhủ chân thành và tận đáy ḷng của tôi trong tác vụ là mục tử của Giáo Hội hoàn vũ, để đốt cháy ḷng anh em, như các thư của Thánh Phaolô gửi cho các cộng sự viên trong Thánh Kinh là Titô và Timôthê, hoặc như Thánh Augustinô viết cho phó tế Deogratias, khi phó thế này nản ḷng trước công tác làm Giáo lư viên của ḿnh, một tiểu luận về niềm vui dạy Giáo lư[26]. Phải, tôi muốn gieo thật nhiều can đảm, hy vọng và sự hăng say trong ḷng tất cả những người khác nhau có nhiệm vụ dạy về tôn giáo và huấn luyện về đời sống qua việc làm theo Tin Mừng.
63. Để bắt đầu tôi xin quay sang các huynh đệ của tôi là các giám mục: Công đồng Vatican II đă dứt khoát nhắc nhở cho các hiền huynh về nhiệm vụ của các huyền huynh trong lĩnh vực dạy Giáo lư[27], và các Nghị phụ của Đại hội lần 4 của Thượng Hội Đồng đă nhấn mạnh điều ấy. Các hiền huynh thân mến, các hiền huynh có ở đây một sứ vụ đặc biệt trong các Giáo Hội của ḿnh: trên tất cả những người khác, các hiền huynh có nhiệm vụ chính yếu trong việc dạy Giáo lư, là Giáo lư viên đích thực nhất. Cùng với Đức Thánh Cha, trong tinh thần giám mục tập thể, các hiền huynh chịu trách nhiệm về dạy Giáo lư khắp nơi trong Giáo Hội. Cho nên hăy đón nhận điều mà tôi nói với các hiền huynh tận đáy ḷng của tôi.
Tôi biết rằng thừa tác vụ của các hiền huynh là giám mục càng ngày càng thêm phức tạp và nặng nề. Các hiền huynh có cả ngàn nhiệm vụ: từ việc huấn luyện các tân linh mục đến việc phải hiện diện tích cực với các cộng đoàn tín hữu, từ việc sống và cử hành cách xứng đáng các bí tích và các việc thờ phượng đến việc lo lắng cho sự tiến triển của con người và bảo vệ nhân quyền. Nhưng với bất cứ giá nào, đừng để việc dạy Giáo lư cách hiệu quả phải nhường bước cho bất cứ việc nào khác. Sự quan tâm này sẽ dẫn đưa các hiền huynh đến việc truyền thông cách riêng đến các tín hữu của các hiền huynh Giáo lư ban sự sống. Nhưng nó cũng dẫn đưa các hiền huynh đến việc đảm nhiệm công việc điều hành hàng đầu việc dạy Giáo lư theo chương tŕnh mà Hội đồng Giám mục của các hiền huynh đề ra, đồng thời cũng tụ tập quanh ḿnh các phụ tá có khả năng và đáng tin cậy. Vai tṛ chính của các hiền huynh là tạo ra và duy tŕ trong các Giáo Hội của các hiền huynh một sự say mê dạy Giáo lư thật sự, một sự say mê được thể hiện qua một tổ chức thích đáng và hữu hiệu, vận dụng nhân sự, phương tiện và dụng cụ cũng như tài nguyên cần thiết. Các hiền huynh nên biết rằng, nếu việc dạy Giáo lư được thi hành tốt đẹp trong các Giáo Hội địa phương của các hiền huynh, th́ tất cả các điều khác sẽ trở nên dễ dàng. Và không cần nói, nhiều khi sự nhiệt thành của các hiền huynh buộc các hiền huynh phải lănh công tác mà không ai nhớ ơn cả là lên án những lệch lạc, sửa chữa những sai lầm, nó thường sẽ đem lại cho các hiền huynh niềm vui và an ủi là thấy Giáo Hội của các hiền huynh phát triển v́ việc dạy Giáo lư được thi hành ở đó như Ư Chúa.
64. Phần các con, hỡi các linh mục, ở đây các con có một lĩnh vực mà các con là những người phụ tá trực tiếp của giám mục của các con. Công Đồng đă gọi các con là “những thầy dạy Đức tin”[28]; không có cách nào tốt hơn cho các con để thành những thầy dạy như thế hơn là dồn hết nỗ lực tốt nhất để làm cho cộng đồng của các con được tăng trưởng trong Đức tin. Dù các con coi sóc một giáo xứ hay là tuyên uư của các trường trung, tiểu học hay đại học, hay có các nhiệm vụ về các hoạt động mục tử ở bất cứ mức độ nào, hoặc là người lănh đạo các cộng đồng lớn hay nhỏ, nhất là các nhóm trẻ, Giáo Hội kỳ vọng rằng các con không bỏ sót bất cứ điều ǵ cần thiết cho nỗ lực dạy Giáo lư có tổ chức vững chắc và định hướng đúng đắn. Các phó tế hay các thừa tác viên khác mà chúng con may mắn có với các con đương nhiên là những người phụ tá của các con trong việc này. Tất cả mọi tín hữu có quyền được học Giáo lư; và tất cả mọi mục tử có nhiệm vụ cung ứng việc dạy Giáo lư. Cha sẽ luôn đ̣i hỏi các nhà lănh đạo dân sự phải tôn trọng sự tự do của việc dạy Giáo lư; nhưng với hết sức ḿnh, cha nài nỉ các con, các thừa tác viên của Đức Kitô: đừng v́ thiếu nhiệt tâm hay v́ những thành kiến đáng tiếc nào đó mà để cho các tín hữu không được học Giáo lư. Đừng để người ta nói rằng: “Con cái nài xin thức ăn, mà không ai cho chúng”[29].
65. Nhiều ḍng tu cho nam giới và nữ giới được thành lập với mục đích để gíáo dục về Kitô giáo cho trẻ em và người trẻ, nhất là những em hầu như bị bỏ rơi. Trong lịch sử, các tu sĩ nam nữ đă tận tâm dấn thân phục vụ các công tác dạy Giáo lư trong Giáo Hội, bằng cách chu toàn các công tác cách thích đáng và hiệu quả. Vào thời điểm mà những liên kết giữa các tu sĩ và các mục tử cần được nhấn mạnh cũng như sự hiện diện tích cực của các ḍng tu và các thành viên của họ trong các chương tŕnh mục vụ của các Giáo Hội địa phương, Cha hết ḷng khuyên nhủ các con, là những người mà sự thánh hiến tu tŕ phải làm cho các con sẵn sàng hơn để phục vụ Giáo Hội, phải chuẩn bị càng kỹ lưỡng càng tốt cho công tác dạy Giáo lư tuỳ theo ơn gọi khác nhau của ḍng các con và sứ vụ được trao phó cho các con, và phải mang sự quan tâm này đi khắp nơi. Các cộng đoàn hăy dành hết khả năng và phương tiện của ḿnh cho công tác đặc biệt dạy Giáo lư này.
66. Nhân danh Giáo Hội, Cha xin cám ơn các con, các thầy cô và Giáo lư viên giáo dân trong các giáo xứ, các thanh niên cũng như rất nhiều thiếu nữ trên khắp thế giới đang hiến thân phục vụ việc giáo dục về tôn giáo cho nhiều thế hệ. Công việc của các con thường là khiêm hạ và âm thầm nhưng được thực hiện với ḷng nhiệt thành hăng say và quảng đại, và là một h́nh thức xuất xắc của việc tông đồ giáo dân, một h́nh thức quan trọng đặc biệt ở những nơi mà các trẻ em và người trẻ không được huấn luyện về tôn giáo một cách thích hợp trong gia đ́nh v́ nhiều lư do khác nhau. Bao nhiêu người trong chúng ta đă nhận được từ những người như các con những khái niệm đầu tiên về Giáo lư và việc sửa soạn cho việc Xưng Tội, Rước Lễ Lần đầu và Thêm Sức! Đại hội lần 4 của Thượng Hội đồng Giám mục đă không quên các con. Cha cũng hợp thỉnh để khích lệ các con tiếp tục cộng tác v́ đời sống Giáo Hội.
Nhưng trên hết, từ “Giáo lư viên” thuộc về tất cả các Giáo lư viên trong các xứ truyền giáo. Được sinh ra trong một gia đ́nh Kitô giáo hay đă trở lại Kitô ở một thời điểm nào đó, và được các nhà truyền giáo hay một Giáo lư viên khác dạy dỗ, rồi sau đó họ thánh hiến đời sống, năm này qua năm khác, để dạy Giáo lư cho trẻ em và người lớn trong quốc gia của họ. Các Giáo Hội hôm nay đang phồn thịnh đă không được xây dựng nếu không có họ. Cha hân hoan v́ những cố gắng mà Bộ Phúc Âm hoá các Dân tộc đă làm để mỗi ngày một cải tiến việc đào luyện các Giáo lư viên này. Cha tưởng nhớ đến những người đă được Chúa gọi về với Ngài với ḷng biết ơn. Cha cầu xin những người đă được các vị tiền nhiệm của Cha nâng lên vinh quang bàn thờ cầu bầu cho chúng ta. Cha thành tâm khuyến khích tất cả những ai đang phục vụ công tác này. Cha mong muốn rằng nhiều người khác sẽ tiếp nối công việc của họ, và mong rằng số người này càng ngày càng đông để phục vụ một công tác thật là cần thiết cho việc truyền giáo.
67. Giờ đây, tôi xin nói đến địa điểm thật sự mà tất cả các Giáo lư viên này thường làm việc. Lúc này, tôi trở lại nói một cách tổng quát hơn về “những địa điểm” để dạy Giáo lư, mà một số địa điểm đă được nhắc tới trong chương VI là: giáo xứ, gia đ́nh, trường học và các đoàn thể.
Thật đúng khi nói rằng có thể dạy Giáo lư ở bất cứ nơi nào, nhưng tôi muốn nhấn mạnh, theo ḷng mong ước của nhiếu giám mục, th́ cộng đồng giáo xứ phải tiếp tục là động lực chính và địa điểm ưu tiên cho việc dạy Giáo lư. Phải thú nhận rằng, ở nhiều quốc gia, giáo xứ đă bị lung lay v́ hiện tượng đô thị hoá. Có thể nhiều người đă dễ dàng chấp nhận rằng giáo xứ phải được coi là lỗi thời, nếu không đương nhiên là sẽ biến mất, để nhường chỗ cho những cộng đồng nhỏ thích hợp và hiệu quả hơn. Dù người ta nghĩ thế nào đi nữa th́ giáo xứ vẫn là một tiêu điểm chính cho dân Kitô giáo, ngay cả cho những kẻ không hành đạo. Cũng thế, thực tế và sự khôn ngoan đ̣i hỏi chúng ta phải tiếp tục con đường nhằm phục hồi giáo xứ, nếu cần, với những cơ cấu đầy đủ hơn, và trên hết là một động năng mới qua việc gia tăng sự hợp tác của các thành viên có khả năng, trách nhiệm và đại lượng. Điều này được biết và kể đến sự đa dạng cần thiết của các nơi để dạy Giáo lư (như là trong giáo xứ, trong các gia đ́nh đón nhân trẻ em và thanh thiếu niên, pḥng tuyên uư của các trường công lập, các cơ sở giáo dục Công giáo, các phong trào tông đồ có những khoá dạy Giáo lư, các hội đoàn mở ra cho giới trẻ nói chung, các khoá đào luyện tâm linh cuối tuần…), điều rất quan trọng là tất cả những phương thế dạy Giáo lư này đều phải hội tụ về cùng một tuyên xưng Đức tin, cùng là thành viên của Giáo Hội, và về cùng những quyết tâm sống cùng một tinh thần Tin Mừng trong xă hội: “Một Chúa, một Đức Tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa và Cha”[30]. Đó là lư do mà tại sao mọi giáo xứ lớn, hay một nhóm giáo xứ ít giáo dân, có nhiệm vụ quan trọng là huấn luyện những người hoàn toàn hiến thân để làm nhiệm vụ lănh đạo Giáo lư (các linh mục, tu sĩ nam nữ, và giáo dân), để cung cấp các công cụ cần thiết cho việc dạy Giáo lư về mọi mặt, để gia tăng và thích nghi các địa điểm dạy Giáo lư nếu có thể được và có ích khi làm như thế, và cũng phải lưu ư đến phẩm chất của việc đào luyện về tôn giáo của các nhóm khác nhau và việc hội nhập các nhóm này vào cộng đồng Giáo Hội. Tóm lại, không độc quyền hay đ̣i phải có sự đồng nhất, nhưng như tôi đă nói, giáo xứ phải là địa điểm ưu tiên nhất cho việc dạy Giáo lư. Giáo xứ phải tái khám phá ơn gọi của ḿnh, là một gia đ́nh trong t́nh huynh đệ và hiếu khách, là nơi mà những người đă được Rửa Tội và Thêm Sức ư thức được rằng ḿnh hợp thành Dân Thiên Chúa. Trong căn nhà ấy, bánh Giáo lư chân chính và Bánh Thánh Thể được bẻ ra cho họ cách dư dật, trong khung cảnh của một hành vi phụng tự duy nhất[31]; và mỗi ngày họ được sai đi từ căn nhà này để thi hành sứ vụ tông đồ truyền giáo của họ trong tất cả các trung tâm sinh hoạt của đời sống thế giới.
68. Hoạt động dạy Giáo lư của gia đ́nh có một đặc tính riêng biệt, theo một nghĩa là không thể thay thế được. Đặc tính riêng biệt này đă được Giáo Hội, nhất là Công đồng Vatican II, nhấn mạnh[32]. Việc giáo dục trong Đức tin bởi cha mẹ, phải được bắt đầu từ tuổi măng sữa[33], đă được thực hiện khi các phần tử trong gia đ́nh giúp nhau lớn lên trong Đức tin bằng việc làm chứng cho đời sống Kitô, một chứng từ thường không phải bằng lời nói, nhưng qua việc kiên tŕ sống một đời sống thường nhật theo Tin Mừng. Việc dạy Giáo lư này càng thêm sâu sắc khi trong các biến cố của gia đ́nh (như lănh nhận các bí tích, mừng các lễ lớn trong năm Phụng vụ, ngày sinh nhật của một đứa con, ngày tang chế), cha mẹ cẩn thận giải thích nội dung tôn giáo hay Kitô giáo của các biến cố này trong gia đ́nh. Nhưng như thế chưa đủ: các cha mẹ Kitô phải cố gắng làm theo, và lặp đi lặp lại, trong khung cảnh đời sống gia đ́nh, các giáo huấn có phương pháp nhận được ở những nơi khác. Thực ra, các chân lư này về những vấn đề chính của Đức tin và đời sống Kitô được lặp đi lặp lại như thế trong khung cảnh gia đ́nh thấm nhuần bằng t́nh yêu và sự kính trọng thường sẽ có thể ảnh hưởng đứa bé một cách mănh liệt suốt đời. Chính cha mẹ cũng được ích lợi nhờ cố gắng mà điều này đ̣i hỏi, v́ trong việc đối thoại về Giáo lư cách này, mỗi cá nhân cả 2 bên đều nhận được và cho đi.
Như thế, việc dạy Giáo lư trong gia đ́nh đi trước, đi theo và phong phú hoá tất cả mọi h́nh thức dạy Giáo lư khác. Hơn nữa, ở những nơi có những luật lệ chống tôn giáo đang cố ư ngăn cản việc giáo dục về Đức tin, và ở nơi mà vô tín ngưỡng hay chủ nghĩa thế tục lan tràn, làm tôn giáo không thể tăng trưởng được, th́ chỉ c̣n lại “Giáo Hội tại gia”[34] là nơi mà các trẻ em và người trẻ được học Giáo lư cách chân chính. Cho nên việc cha mẹ Kitô giáo sửa soạn cho thừa tác vụ này, là trở thành các Giáo lư viên cho chính con cái ḿnh và thi hành với một nhiệt t́nh bền bỉ, không phải là một cố gắng vĩ đại. Cũng phải khuyến khích các cá nhân hay các cơ quan mà qua việc tiếp xúc cá nhân, các buổi hội họp, và nhiều phương tiện giáo dục khác, đă giúp các phụ huynh thi hành công tác của họ: các việc phục vụ họ đang làm cho việc dạy Giáo lư thật là vô giá.
69. Cùng với gia đ́nh và liên hệ với gia đ́nh, trường học cũng cống hiến cho việc dạy Giáo lư những khả năng đáng kể. Trong các quốc gia, tuy càng ngày càng hoạ hiếm, mà ở đó việc dạy về Đức tin có thể được thực hiện trong khuôn khổ nhà trường, th́ Giáo Hội có nhiệm vụ thi hành việc này càng chu đáo càng tốt. Đương nhiên là điều này trước nhất và trên hết là nói về các trường Công giáo: bất kể trường đó sáng giá cách mấy v́ tŕnh độ dạy học cao về những vấn đề không liên quan đến tôn giáo, nó vẫn không đáng được gọi là trường Công giáo nếu có những lư do chính đáng để khiển trách nó v́ lơ là hay lệch lạc trong việc giáo dục tôn giáo cách đúng đắn. Không được nói rằng việc giáo dục (tôn giáo) luôn được thực hiện cách kín đáo hay gián tiếp. Đặc tính riêng biệt và cũng là lư do sâu xa của trường Công giáo, và lư do tại sao phụ huynh chọn nó, chính là phẩm chất của việc giáo dục tôn giáo được lồng trong việc giáo dục các học sinh. Trong khi các cơ sở Công giáo phải tôn trọng sự tự do lương tâm, nghĩa là tránh áp đặt trên lương tâm những áp lực về thể chất hay luân lư từ bên ngoài, nhất là trong trường hợp các sinh hoạt tôn giáo của thanh thiếu niên, nhưng các cơ sở này vẫn có nhiệm vụ quan trọng là đưa ra việc đào luyện về tôn giáo thích hợp với hoàn cảnh tôn giáo thường th́ rất đa dạng của các học sinh. Các cơ sở này cũng có nhiệm vụ làm cho các em hiểu rằng, mặc dù lời Thiên Chúa mời gọi phụng sự Ngài trong Thần Khí và Chân Lư, theo các Điều Răn của Thiên Chúa và các điều răn Giáo Hội, không ép buộc con người, cũng không bó buộc cả lương tâm.
Nhưng tôi cũng nghĩ đến các trường không thuộc về tôn giáo hay các trường công lập. Tôi tha thiết mong ước rằng, để đáp ứng quyền lợi rất rơ ràng của con người và của gia đ́nh, và v́ tôn trọng tự do tín ngưỡng của mọi người, tất cả các học sinh Công giáo có thể được phát triển trong việc đào luyện tâm linh của các em với sự trợ giúp của giáo dục tôn giáo tuỳ thuộc vào Giáo Hội, nhưng tuỳ theo hoàn cảnh của từng quốc gia, có thể được dạy trong trường học hay trong khung cảnh trường học, hay trong phạm vi của môt thoả thuận với công quyền về chương tŕnh của nhà trường, nếu việc dạy Giáo lư chỉ xảy ra trong giáo xứ hay một trung tâm mục vụ khác. Thực ra, ngay cả ở những nơi có những khó khăn bên ngoài, cũng có thể xắp xếp chương tŕnh nhà trường một cách nào đó để có thể giúp các học sinh Công giáo đào sâu Đức tin và kinh nghiệm tôn giáo, với các thầy cô có khả năng, dù là linh mục hay giáo dân.
Phải công nhận rằng, ngoài trường học ra, c̣n có những yếu tố khác trong đời sống có ảnh hưởng đến năo trạng của người trẻ, ví dụ, giải trí, hoàn cảnh xă hội và môi trường làm việc. Nhưng những ai học ǵ th́ phải mang dấu của điều ḿnh học, được hội nhập vào các giá trị văn hoá hay luân lư trong bầu khí của nơi mà người ấy được giáo dục, và phải đương đầu với nhiều tư tưởng gặp phải ở nhà trường. Việc dạy Giáo lư cần phải hết sức lưu tâm đến ảnh hưởng này của trường học trên các học sinh để thực nối kết với những yếu tố khác trong sự hiểu biết và giáo dục của học sinh; như thế, Tin Mừng sẽ thấm nhuần năo trạng của các em trong lĩnh vực giáo dục của các em, và sẽ đạt được sự hoà hợp của nền văn hoá của các em trong ánh sáng Đức tin. V́ thế, Cha khuyến khích các linh mục, các tu sĩ và giáo dân là những ngưởi đang dấn thân để nuôi dưỡng Đức tin của các học sinh này. Hơn nữa, đây cũng là một dịp cho tôi tái xác nhận sự xác tín của tôi rằng việc tỏ ra tôn trọng Đức tin Công giáo của người trẻ trong phạm vi làm cho dễ dàng việc giáo dục, việc ghi nhớ, củng cố, cùng sự tự do tuyên xưng và thực hành của các em chắc chắn phải là một vinh dự cho bất cứ một chính phủ nào, bất kể dựa trên một chế độ nào hay ư thức hệ mà từ đó chế độ này rút ra được cảm hứng của ḿnh.
70. Sau cùng, phải khuyến khích các đoàn thể, phong trào, và các nhóm giáo dân, dù mục đích là thực hành các việc đạo đức, làm việc tông đồ trực tiếp, làm việc từ thiện hay cứu trợ, hay chứng tỏ sự hiện diện Kitô trong những vấn đề trần thế. Tất cả các đoàn thể này sẽ đạt được mục đích của ḿnh, và phục vụ Giáo Hội cách tốt hơn, nếu họ biết thật sự dành cho việc huấn luyện về tôn giáo của các thành viên một chỗ đứng quan trọng trong việc tổ chức nội bộ và các phương pháp hành động của họ. Bằng cách này, th́ theo định nghĩa, mọi đoàn thể của các tín hữu trong Giáo Hội có nhiệm vụ giáo dục Đức tin.
Điều này chứng tỏ rơ ràng vai tṛ của giáo dân trong việc dạy Giáo lư hôm nay, luôn luôn dưới sự hướng dẫn mục vụ của các giám mục, như những đề nghị mà Thượng Hội đồng Giám mục đă để lại và đă được nhấn mạnh vài lần.
71. Chúng ta phải cảm tạ Chúa v́ sự đóng góp này của giáo dân, nhưng cũng là thách đố cho nhiệm vụ của chúng ta là các mục tử, v́ những Giáo lư viên giáo dân này cần phải được chuẩn bị chu đáo cho một nhiệm vụ ít ra là rất quan trọng trong Giáo Hội, tuy không phải là một thừa tác vụ được chính thức thiết lập. Việc chuẩn bị cho họ đ̣i hỏi chúng ta phải tổ chức những trung tâm và học viện đặc biệt, mà các giám mục phải chuyên cần chú tâm đến. Đây là lĩnh vực mà trong đó sự hợp tác trong giáo phận, liên giáo phận, hay quốc gia chứng tỏ là phong phú và có kết quả. Cũng ở đây, sự trợ giúp về vật chất của các Giáo Hội giàu dành cho các Giáo Hội nghèo xem ra rất hữu hiệu, v́ có sự giúp đỡ nào của một Giáo Hội này có thể cung cấp cho Giáo Hội khác hơn là giúp cho nó phát triển như một Giáo Hội với sức mạnh riêng của ḿnh?
Cha cũng muốn nhắc lại cho những ai đang làm việc cách quảng đại trong việc phục vụ Tin Mừng, và với họ, Cha đă diễn tả rơ ràng ở đây sự khích lệ sống động của Cha, lời dặn bảo của đấng tiền nhiệm của Cha là Đức Thánh Cha Phaolô VI: “Là những người Rao giảng Tin Mừng, chúng ta phải cống hiến… một h́nh ảnh của những người trưởng thành trong Đức tin và có khả năng t́m thấy một điểm gặp gỡ đằng sau những căng thẳng thật sự, nhờ việc cùng nhau t́m kiếm chân lư cách thành khẩn và vô vị lợi. Phải, vận mệnh của việc Phúc Âm hoá chắc chắn được gắn liền với việc làm nhân chứng cho sự hợp nhất của Giáo Hội. Đó là một nguồn mạch của trách nhiệm và cũng của niềm an ủi”[35].
72. Ở cuối của Tông huấn này, ḷng tôi hướng về Ngài là Đấng linh hứng tất cả mọi công việc của Giáo lư và tất cả những người thi hành công việc này - Thần Khí của Chúa Cha và Chúa Con, là Chúa Thánh Thần.
Để diễn tả sứ vụ của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội, Chúa Giêsu đă dùng những lời đầy ư nghĩa: “Ngài sẽ dạy các con mọi sự, và nhắc nhở cho các con tất cả những ǵ Thầy đă nói với các con”[36]. Và Người nói thêm: “Khi Thần Chân Lư đến, Ngài sẽ hường dẫn các con đến tất cả chân lư… Ngài sẽ công bố cho các con những ǵ sẽ xảy đến”[37].
Như thế, Chúa hứa Thần Chân Lư cho Giáo Hội và cho từng Kitô hữu như một vị Thầy nội tâm, là Đấng hoạt động cách bí mật trong lương tâm và tâm hồn, làm cho một người hiểu điều người ấy đă nghe nhưng chưa có khả năng hiểu. Thánh Augustinô nói về điều này: “Ngay cả bây giờ, Chúa Thánh Thần dạy các tín hữu tuỳ theo khả năng tâm linh của mỗi người. Và Ngài đốt ḷng họ bằng những ao ước lớn lao hơn tuỳ theo sự tiến bộ của mỗi người trong đức ái, là nhân đức làm cho người ấy yêu điều người ấy đă biết và ao ước điều người ấy chưa biết”[38].
Hơn nữa, Chúa Thánh Thần cũng có sứ vụ biến đổi các môn đệ thành nhân chứng cho Đức Kitô: “Ngài sẽ làm chứng về Thầy; và các con cũng là nhân chứng”[39].
Nhưng như thế chưa hết. Theo Thánh Phaolô, là người tổng hợp một thần học về điểm này, là một thần học tiềm tàng khắp nơi trong Tân Ước, th́ toàn thể “con người Kitô hữu”, toàn thể đời sống Kitô, đời sống mới của con cái Thiên Chúa là một đời sống theo Chúa Thánh Thần[40]. Chí có Chúa Thánh Thần có thể làm cho chúng ta thưa cùng Thiên Chúa: “Abba, Lạy Cha!”[41]. Không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể nói: “Chúa Giêsu là Chúa”[42]. Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta các đặc sủng để xây dựng Giáo Hội, là cộng đồng các Kitô hữu[43].
Chính theo nghĩa này mà Thánh Phaolô dạy bảo mỗi môn đệ của Đức Kitô rằng: “Hăy được tràn đầy Thần Khí”[44]. Thánh Augustinô nói thẳng: “Cả hai (việc chúng ta tin và việc chúng ta làm) là của chúng ta v́ đó là sự chọn lựa của ư chí chúng ta, nhưng cả hai cũng là hồng ân của Thần Khí của Đức tin và Đức ái”[45].
Việc học Giáo lư, sự lớn lên trong Đức tin và sự trưởng thành của đời sống Kitô hữu tiến đến sung măn là kết quả việc làm của Chúa Thánh Thần, một công việc chỉ ḿnh Ngài có thể khởi sự và giữ vững trong Giáo Hội.
Nhận thức này, dựa vào những câu dẫn chứng ở trên và nhiều câu khác trong Tân Ước, thuyết phục chúng ta 2 điều.
Trước hết, rơ ràng là khi thi hành sứ vụ dạy Giáo lư, Giáo Hội - cũng như mỗi cá nhân Kitô hữu hiến thân cho sứ vụ ấy trong Giáo Hội và nhân danh Giáo Hội - phải ư thức rơ ràng rằng ḿnh hành động như một công cụ sống động và mềm dẻo của Chúa Thánh Thần. Phải cầu khẩn Thánh Thần này không ngừng, hiệp thông với Ngài, cố gắng hiểu biết những ǵ Ngài thật sự linh hứng, đó phải là thái độ của Giáo Hội và của mỗi Giáo lư viên.
Thứ đến, mong ước sâu xa để hiểu rơ hơn tác động của Chúa Thánh Thần và phó thác chính ḿnh cho Ngài cách trọn vẹn - ở thời điểm khi mà “trong Giáo Hội chúng ta đang sống mùa thuận lợi của Chúa Thánh Thần”, như đấng tiền nhiệm của tôi là Đức Thánh Cha Phaolô VI đă nhận xét trong Tông huấn Evangelii nuntiandi[46]: phải đem lại một nhận thức rơ ràng về việc dạy Giáo lư. Để việc “canh tân trong Chúa Thánh Thần” được chân chính và có nhiều kết quả thật sự trong Giáo Hội, không tuỳ theo việc nó gây ra nhiều đặc sủng phi thường, nhưng tuỳ theo việc đó dẫn đưa càng nhiều tín hữu, trong khi họ lữ hành trên đường hằng ngày, đến việc cố gắng cách khiêm nhường, kiên nhẫn, và kiên tŕ để biết mầu nhiệm Đức Kitô mỗi ngày một hơn, và làm nhân chứng cho mầu nhiệm này.
Tôi khẩn cầu Thần Khí của Đức Chúa Cha và Đức Chúa con xuống trên Giáo Hội, và nài xin Ngài canh tân động lực dạy Giáo lư trong Giáo Hội.
73. Nguyện xin Đức Nữ Trinh của Lễ Ngũ Tuần cho chúng ta được điều này qua lời chuyển cầu của Mẹ. Nhờ một ơn gọi đặc biệt, Mẹ đă thấy Con Mẹ là Chúa Giêsu “càng lớn càng thêm khôn ngoan, và đẹp ḷng (Thiên Chúa và con người)”[47]. Như khi Người ngồi trong ḷng Mẹ, và sau này khi Người nghe lời Mẹ trong suốt đời ẩn dật tại Nazareth, Người Con này là “Con Một từ Chúa Cha”, “đầy ân sủng và chân lư”, được Mẹ đào luyện kiến thức nhân loại về Thánh Kinh và lịch sử của chương tŕnh Thiên Chúa dành cho dân Ngài, trong sự tôn thờ Đức Chúa Cha[48]. C̣n Mẹ lại là môn đệ đầu tiên của Chúa. Mẹ là môn đệ đầu tiên trong thời gian, bởi v́ ngay cả khi Mẹ t́m thấy Người Con thời niên thiếu của Mẹ trong Đền thờ, Mẹ đă học được của Người bài học mà Mẹ giữ kín trong ḷng[49]. Mẹ là môn đệ đầu tiên trên những người khác v́ không ai đă “được Thiên Chúa dạy”[50] ở một chiều sâu như thế. Mẹ “vừa là Mẹ vừa là môn đệ” như Thánh Augustinô đă nói về Mẹ, mà c̣n dám nói thêm rằng, đối với Mẹ, việc làm môn đệ của Mẹ quan trọng hơn làm Mẹ[51]. Cho nên, không phải là vô lư khi trong Thượng Hội Đồng có những tôn vinh Mẹ là “một sách Giáo lư sống” và là “Mẹ và Gương mẫu của các Giáo lư viên”.
Nguyện xin sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ Maria, ban cho Giáo Hội một ḷng hăng say vô tiền khoáng hậu trong công việc dạy Giáo lư, là một việc thiết yếu cho Giáo Hội. Nhờ đó, Giáo Hội có thể thi hành một cách hữu hiệu, trong thời điểm ân sủng này, sứ vụ bất khả nhượng và phổ quát này, là sứ vụ mà Vị Thầy của Giáo Hội đă trao phó cho Giáo Hội: “Vậy các con hăy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ”[52].
Ban hành tại Rôma, Quảng trường Thánh Phêrô, ngày 16-10-1970, năm thứ hai của giáo triều của tôi.
Gioan Phaolô II
Phaolô Phạm Xuân Khôi
chuyển ngữ
Tham
chiếu cả bản Anh ngữ và Pháp ngữ
Mùa hè 2007
[1] Lc 12,32.
[2] x. for example, CĐ Vatican II, Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong Thế giới Hiện đại, Gaudium et Spes, AAS 58 (1966), tr. 1025-1120; ĐTC Phaolô VI, Thông điệp Populorum Proressio: AAS 59 (1967), tr. 257-299; Apostolic Letter Octogesima Adveniens: AAS 63 (1971), tr. 401-441; Tông huấn Evangelii Nuntiandi: AAS 68 (1976), tr. 5-76.
[3] Mt 1,16.
[4] x. CĐ Vatican II, Sắc lệnh về Chức vụ Mục vụ của Giám mục trong Giáo Hội Christus Dominus, 14: AAS 58 (1966), tr. 679; Sắc lệnh về Hoạt động Truyền giáo của Giáo Hội Ad Gentes, 14: AAS 58 (1966), tr. 962-963; Bộ Giáo sĩ, Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum Generale 20: AAS 64 (1972), tr. 112; cũng x. Sắc lệnh Khai tâm Kitô giáo cho Người Trưởng thành, Ordo Initiationis Christianae Adultorum.
[5] x. 58: AAS 68 (1976), tr. 46-49
[6] x. Thượng Hội đồng Giám mục, Synodus Episcoporum, Về việc Dạy Giáo lư cho Trẻ em và Thiếu niên trong Thời đại Chúng ta, De catechesi hoc nostro tempore tradenda praesertim pueris atque iuvenibus, Ad Populum Dei Nuntius, 7-10: loc. cit., tr. 9-12; xem "L'Osservatore Romano," ngày 30-10-1977, tr. 3.
[7] x. Bộ Giáo sĩ, Chỉ Nam về Dạy Giáo lư, Directorium Catechisticum Generale, 119-121; 134: AAS 64 (1972), tr. 166-167; 172.
[8] x. AAS 71 (1979), tr. 607.
[9] x. Rm 16,25; Ep 3,5.
[10] 1 Cr 1,17.
[11] x. 2 Tm 1,14.
[12] x. Ga 1,16; Ep 1,10.
[13] x. Thông điệp Redemptor Hominis, 15-16: AAS 71 (1979), tr. 286-295.
[14] x. Mt 5,13-16.
[15] x. ĐTC Phaolô VI, Thông điệp Ecclesiam Suam, Phần 3, AAS 56 (1964), tr. 637-659.
[16] x. Dt 11,27.
[17] 1 Cr 13,12.
[18] x. 1 Tm 6,16.
[19] Dt 11, 1.
[20] x. Mt 2,1ff.
[21] Blaise Pascal, Le mystere de Jesus: Pensees 553.
[22] ĐTC Phaolô VI, Sollemnis Professio Fidei, 4: AAS 60 (1968), tr. 434.
[23] ĐTC Phaolô VI, Tông huấn Quinque Iam Anni: AAS 63 (1971), tr. 99.
[24] x. 1 Tm 1,3ff.; 4:1ff.; 2 Tm 2,14ff.; 4,1-5; Tt 1,10-12; cũng x. Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 78: AAS 68 (1976), tr. 70.
[25] Thông điệp Redemptor Hominis, 10: AAS 71 (1979), tr. 274.
[26] De Catechizandis Rudibus, PL 40, 310-347.
[27] x. Sắc lệnh về Chức vụ Mục vụ của Giám mục trong Giáo Hội Christus Dominus, 14: AAS 58 (1966), tr. 679.
[28] Sắc lệnh về Mục vụ và Đời sống Linh mục, Presbyterorum Ordinis, 6: AAS 58 (l966), tr. 999.
[29] Lam. 4:4.
[30] Ep 4,5-6.
[31] x. CĐ Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 35, 52: AAS 56 (1964), tr. 109, 114; cũng x. Institutio Generalis Misalis Romani, được công bố bởi Sắc lệnh của Bộ Phụng tự ngày 6-4-1969, 33, và những điều nói ở trên về Bài Giảng.
[32] Từ cuối thời Trung Cổ, các công đồng địa phương đă nhấn mạnh đến nhiệm vụ của phụ huynh trong việc giáo dục Đức tin của con em: x. CĐ Arles thứ VI (813), Canon 19, CĐ Mainz (813), Điều khoản 45, 47; CĐ Paris thứ VI (829), Quyển 1, Chương 7: Mansi, Sacrorum Conciliorum Nova et Amplissima Collectio, XIV, 62, 74, 542. Trong số những tài liệu gần đây của Huấn Quyền, có Thông điệp Divini illius Magistri của ĐTC Piô XI ngày 31-12-1929: AAS 22 (1930), tr. 49-86; nhiều bài giảng huấn và sứ điệp của ĐTC Piô XII; và nhất là các bản văn của CĐ Vatican II: Hiến chế Tín lư về Giáo Hội Lumen Gentium, 11, 35: AAS 57 (l965), tr. 15, 40; Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân Apostolicam Actuositatem, 11, 30: AAS 58(l966), tr. 847, 860; Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong Thế giới Hiện đại, Gaudium et Spes, n. 52: AAS 58 (l966) tr. 1073; và đặc biệt là Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo Gravissimum Educationis, 3: AAS 58 (1966), tr. 731.
[33] x. CĐ Vatican II, Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo Gravissimum Educationis, 3: AAS 58 (1966), tr. 731.
[34] CĐ Vatican II, Hiến chế Tín lư về Giáo Hội Lumen Gentium, 11: AAS 57 (1965), tr. 16; x. Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân Apostolicam Actuositatem, 11: AAS 58 (1966), tr. 848.
[35] Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 77: AAS 68 (1976), tr. 69
[36] Ga 14,26.
[37] Ga 16,13.
[38] In Ioannis Evangelium Tractatus, 97, 1: PL 35, 1877.
[39] Ga 15,26-27.
[40] x. Rm 8,14-17; Gl 4,6.
[41] Rm 8,15.
[42] 1 Cr 12,3.
[43] x. 1 Cr 12,4-11.
[44] Ep 5,18.
[45] Retractationum Liber I, 23, 2: PL 32, 621.
[46] 75: AAS 68 (1976), tr. 66.
[47] x. Lc 2,52.
[48] x. Ga 1,14; Dt 10,5; Tổng lược Thần học, III, Q. 12, a. 2; a. 3, ad 3.
[49] x. Lc 2,51.
[50] x. Ga 6,45.
[51] x. Sermo 25, 7: PL 46, 937-938.
[52] Mt 28,19.