T́m Kiếm

Một Chương Tŕnh Giáo Lư

Phù Hợp Cho Hôm Nay

 

Âu Phủ

A. Dẫn Nhập

 

1. Khái quát về nhu cầu của con người và đ̣i hỏi về sự thích ứng

 

1.1 Khát vọng chân lư và sự sống viên măn

 

1.2 Sự thay đổi và phát triển không ngừng của điều kiện sống

 

1.3 Giáo lư: sự thích ứng của việc học hỏi chân lư và thể hiện lẽ sống

 

 

2. Sơ lược về giáo lư qua các thời đại: bền vững và thay đổi

 

2.1 Khái quát về giáo lư

 

2.2 Giáo lư bền vững qua các thời đại (nội dung, mục đích và ư nghĩa)

 

2.3 Giáo lư thay đổi qua các thời đại (khái niệm, vai tṛ và phương pháp)

 

 

3. Đặc điểm của thời đại và một số tính chất cần thiết của giáo lư hôm nay

 

3.1 Giới hạn về không gian và thời gian được thu hẹp: Sự nên một của các h́nh thức sứ vụ lời Chúa trong sự liên hệ mật thiết với các hoạt động và lao động chuyên biệt

 

3.2 B́nh đẳng xă hội và các mối liên hệ xă hội trở nên quan trọng trong nền kinh tế, chính trị, và xă hội: Đối thoại trên mọi phương diện trở nên chuẩn mực trong giao tiếp và truyền đạt

 

3.3 Kiến thức và thông tin trở nên dồi dào và có tính thương mại: Phong cách sống và làm việc thay thế chỗ cho lời giáo huấn và truyện kể

 

B. Xây Dựng Chương Tŕnh Giáo Lư Của Ḍng Thánh Gia

(C̣n tiếp)

 

 

T́m Kiếm

Một Chương Tŕnh Giáo Lư

Phù Hợp Cho Hôm Nay

 

 

1. Khái quát về nhu cầu của con người và đ̣i hỏi về sự thích ứng

1.1 Khát vọng chân lư và sự sống viên măn

Những ǵ đă và đang diễn ra trong cuộc đời của con người, trước mắt của chúng ta, là cả một thế giới diệu kỳ. Trong thế giới với muôn vàn sự kiện và hiện tượng đó, chỉ một hiện tượng tầm thường và đơn giản mà mỗi người đều có thể bắt gặp hàng ngày, nếu được chiêm ngưỡng một giây lát, th́ nó cũng đủ làm cho chúng ta say đắm và ngây ngất.

Một ḍng sông nhỏ chảy ngang qua một khu làng quê hoặc nằm giữa một thành phố lớn cũng đă là một kiệt tác với muôn vàn ư nghĩa. Nó là nơi chứa đựng những rác rưởi và dơ bẩn. Nó cũng là nguồn thông thương cho tàu bè qua lại. Nó chuyên chở phù sa cho đồng ruộng và vườn tược. Nó mang lại tôm cá cho người chài lưới. Nó làm nên kư ức trong ḷng người đa t́nh. Nếu người này nhin xuống ḍng sông, chỉ thấy những rác rưởi; th́ người kia có thể nh́n thấy một bầu trời xanh với mây trắng và ánh mặt trời rạng rỡ được phản chiếu dưới ḷng sông. Nếu người này nh́n thấy những sinh hoạt đang diễn ra nơi ḍng sông, th́ người kia có thể thấy một thế giới kư ức của tuổi thơ, của tuổi lứa đôi, hoặc của những trăn trở một thời bên ḍng sông. Cứ như thế, có biết bao ư nghĩa từ một ḍng sông, một hiện tượng tầm thường mà con người đă quá quen thuộc.

Cuộc sống ch́m đắm trong biết bao sự diệu kỳ của những hiện tượng và sự kiện như thế: sự diệu kỳ của một bông hoa mỏng manh, của những v́ sao lấp lánh, của mặt trời hùng vỹ, của t́nh người bao la, của sự sống huyền nhiệm, và sự vô tận của những huyền nhiệm. Sự diệu kỳ của cuộc sống không chỉ diệu kỳ với những hiện tượng đang có, mà c̣n diệu kỳ hơn nữa với những ǵ sắp và có thể xảy ra, với những ǵ mà con người không thể tiên đoán được.

Cuộc sống thật diệu kỳ, nhưng sự diệu kỳ của cuộc sống không xa cách và tách biệt với con người. Ngược lại, con người không chỉ có khả năng chiêm ngưỡng và đón nhận sự diệu kỳ của cuộc sống vào nơi bản thân ḿnh, mà c̣n có khả năng đặt ḿnh vào ḍng chảy của huyền nhiệm, khả năng thông phần và biến ḿnh thành một diệu kỳ, và khả năng làm nên sự diệu kỳ.

Nếu một chiếc máy bay đă bay trên bầu trời thời trung cổ, th́ cả thế giới của thời đại ấy sẽ không khỏi kinh ngạc. Nếu người cổ đại ngồi nghe radio hoặc xem tivi, th́ sẽ không khỏi thắc mắc v́ sao người ta lại có thể chui vào và sống nổi trong một cái hộp nhỏ như thế. Khoa học tự nhiên đă mang lại biết bao những thành quả tốt đẹp phục vụ cho điều kiện sống của con người, th́ khoa học xă hội cũng đă góp phần lớn lao vào việc xây dựng nhận thức về con người, xây dựng lối sống lành mạnh của cá nhân, và h́nh thành những cơ cấu tổ chức xă hội công bằng, văn minh và hạnh phúc như ngày nay. Khả năng của con người đối với con người đă là một sự diệu kỳ.

Sự diệu kỳ của khả nămg t́m kiếm và làm nên sự diệu kỳ, như vậy, đă được đặt sẵn nơi con người. Nói một cách khác, con người được mời gọi chiêm ngưỡng, tham gia, và làm nên sự kỳ diệu ngay khi con người được h́nh thành.

Tuy nhiên, tuy có khả năng t́m kiếm, khám phá, và sáng tạo, con người đừng lầm tưởng hoặc tự kiêu rằng ḿnh là chủ và là chúa tể của thế giới. Nên nhớ rằng, con người chỉ là một trong muôn vàn sự kỳ diệu, và chính bản thân con người cũng được sinh ra trong sự kỳ diệu. Khoa học của sự sáng tạo được phát triển v́ nơi con người được đặt sẵn sự kỳ diệu của khả năng sáng tạo, v́ con người được mời gọi tham gia vào chương tŕnh kỳ diệu của thế giới. Bản thân con người là một sự kỳ diệu, nên con người luôn có thôi thúc và nhu cầu tham gia và tham gia một cách tích cực vào quá tŕnh làm nên sự diệu kỳ của thế giới, chứ không phải con người là chủ của thế giới.

Không chỉ dừng lại ở những ǵ có thể sờ mó cân đo đong đếm được, con người c̣n có khát vọng vươn tới cái “nguyên lư” tối hậu của cuộc sống, đó là chân lư và sự sống vĩnh hằng. Có thể nói, đây là sự kỳ diệu nhất và phổ quát nhất. Nó phổ quát v́ nó không chỉ cao hơn, mà c̣n bao gồm tất cả các sự kỳ diệu khác. Con người có thể cảm nghiệm được sự kỳ diệu của sự sống viên măn qua ba sắc thái cao nhất của đời sống tâm linh: Niềm Tin, Hy Vọng, và T́nh Yêu (1 Cor 13:13).

Sự trọn vẹn của cuộc sống, sự kỳ diệu cao nhất và bao gồm tất cả các sự kỳ diệu, có thể được tóm tất như sau: “Không có t́nh yêu nào cao quư hơn t́nh của Người hiến mạng sống ḿnh v́ bạn hữu.” (Ga 15:13) Thử h́nh dung, nếu thế giới không có t́nh yêu, th́ đó là thế giới chết. Như vậy, chính nơi t́nh yêu phát xuất ra muôn điều kỳ diệu; và cội nguồn của t́nh yêu trọn vẹn chính là chân lư và sự sống viên măn. Cho dù con người có muốn chối bỏ sự hiện hữu của Thượng Đế, th́ con người cũng khó có thể xua tan đi tiếng ḷng mời gọi yêu thương—hương vị của sự sống viên măn.

Chân lư và sự sống viên măn này không nằm trong trải nghiệm trực tiếp của khoa học tự nhiên và khoa học xă hội, nhưng là trải nhiệm trong đời sống tâm linh, đời sống tôn giáo. Như vậy, cũng như nhu cầu về t́m kiếm, khám phá và phát minh trong khoa học tự nhiên và xă hội, con người cũng có sự thôi thúc và nhu cầu tham gia một cách tích cực vào sự kỳ diệu của sự sống viên măn qua tôn giáo.

Lưu ư rằng, đời sống sinh lư, đời sống tâm lư xă hội, và đời sống tâm linh không loại trừ lẫn nhau, nhưng là hợp nhất và bổ túc cho nhau để tạo nên một thực tế: đó là đời sống của con người. Đối với Công giáo, người tín hữu tham gia vào sự sống viên măn bằng một đời sống với ba sắc thái chính: phụng tự, loan báo Tin Mừng, và phục vụ.

1.2  Sự thay đổi và phát triển không ngừng của điều kiện sống

Logic trong khoa học có tính bất biến và có thể được suy luận bởi trí óc con người. Ví dụ, 1+1=2. Đây là logic của toán hoc. Trong sinh học, khi một con thú hoặc một loài thú được quan sát trong một điều kiện sống cụ thể, th́ những hành vi và sự tồn vong của chúng có thể được biết trước bởi các nhà khoa học. Ngay cả đối với con người, th́ những hành vi cũng có thể được lư giải bởi các nhà tâm lư.

V́ tính bất biếm cao và có thể được suy luân theo một nguyên tắc nhất định, nên logic khoa học được xem như là chân lư của thế giới tự nhiên.  Chính v́ con người có khả năng nắm bắt được nguyên lư của tự nhiên, nên nhiều người đă tuyên bố rằng con người là chủ của thế giới. Chính v́ thế giới có  những nguyên tắc tự nhiên của nó, nên đối với nhiều người, thế giới dường như chỉ là những nguyên lư lạnh lùng, không sinh khí và vô nghĩa mà thôi.

Tuy nhiên, logic mà con người nắm bắt được trong khoa học  không thật sự tuyệt đối. Chẳng hạn, theo logic của vật lư th́ nước sôi ở 100°C, nhưng nếu nó được nấu ở dưới vực sâu hay trên đỉnh núi cao th́ nhiệt độ sôi có thể là thấp hơn hoặc cao hơn 100°C. Trong toán học: 1+1=2, nhưng trong thực tiễn cuộc sống: 1+1=X (bằng bao nhiêu th́ chẳng ai biết). Nếu 1+1=2 là một chân lư, th́ nó chỉ là một chân lư không sinh khí, một chân lư chết và vô nghĩa.

Thực chất, những logic  này chỉ là những cách diễn đạt hoặc phương tiện để sự sống viên măn được tỏ lộ. Những kiến thức khoa học không hoàn toàn vô nghĩa, nhưng đồng thời nó cũng không là chân lư tối hậu để con người tôn thờ. Có thể nói, kiến thức khoa học có giá trị thật sự khi nó giúp con người hướng về chân lư và sự sống viên măn trong khi con người đang sống trong những hoàn cảnh cụ thể, trong những điều kiện sống giới hạn và luôn thay đổi.

Lấy một ví dụ đơn giản, trong cuộc sống của tôi, về phương diện gia đ́nh và ở thời điểm hiện tại, một + một = mười một. Thật vậy, Bố tôi (1) + Mẹ tôi (1) = Gia đ́nh tôi gồm mười một người (11). Nếu theo thời gian, các anh chị em của tôi lập gia đ́nh và sinh ra các cháu, th́ một cộng với một kia sẽ bằng bao nhiêu tôi cũng không biết nữa. Như vậy, nếu diễn đạt một cách nôm na h́nh tượng theo công thức toán học th́: 1+1=♥ (một + một = t́nh yêu/ sự sống viên măn). Khoa học giúp con người có khái niệm về cuộc sống, biết trân trọng sự sống và biết hướng về sự sống viên măn.

Sự sống không mất đi và cũng không sơ cứng, nhưng biểu hiện của sự sống th́ muôn màu muôn vẻ và hiện diện một cách huyền nhiệm. Khoa học không làm chủ, nhưng là một công cụ phục vụ cho sự sống và đồng thời giúp con người biết hướng về sự thật giữa muôn sự phù phiếm, biết nếm trải sự sống viên măn ngay giữa thế giới đổi thay và mau qua.

Nếu nói về logic hoặc ngôn ngữ của xă hội loài người, th́ nó cũng hết sức phức tạp và biến hóa khôn lường. Các thời đại khác nhau đều có những cấu trúc xă hội khác nhau; và trong mỗi cấu trúc xă hội, lại có những kiểu liên hệ xă hội khác nhau. Trong cùng một thời đại, các dân tộc hoặc quốc gia khác nhau lại có những cơ cấu xă hội khác nhau. Ngay đối với một con người cụ thể, thi cũng có một ngôn ngữ liên hệ hết sức phức tạp. Mỗi người đều có những mối liên hệ khác nhau đối với từng đối tượng khác nhau; và trong một liên hệ tới một đối tượng nhưng trong nhũng hoàn cảnh hoặc thời điểm khác nhau lại có những sắc thái khác nhau. Người này đối với người kia là anh hùng hoặc là người đáng yêu, nhưng đối vời người khác th́ có thể lại là tội đồ hoặc đáng ghét.

Những thay đổi của xă hội loài người không nói lên rằng xă hội hoàn toàn hỗn loạn, nhưng nói lên rằng xă hội đang tiến triển theo một logic nhất định. Biến hóa nhưng không loại trừ nguyên tắc; thay đổi nhưng không loại trừ nguồn gốc. Những thay đổi của xă hội cũng không nói lên rằng mọi hiện tượng hoặc sự kiện diễn ra đều vô nghĩa, nhưng nói lên rằng con người cần đối thoại để khám phá và xây dựng ư nghĩa của cuộc đời cho chính ḿnh và đồng thời cũng là cho cả nhân loại.

Điều kiện sống của con người thay đổi và phát triển không ngừng, không chỉ v́ môi trường tự nhiên thay đổi, nhưng chính yếu là v́ con người có khả năng sáng tạo và làm nên sự thay đổi của điều kiện sống gồm môi trường và các liên kết xă hội. Đồng thời với khả năng sáng tạo là khả năng thích nghi. Tất cả những ǵ do con người lao động và sáng tạo nên đều nằm trong sự liên đới mật thiết với con người, đặc biệt là với người làm ra chúng. Ngay trong quá tŕnh sáng tạo th́ đă có sự thích nghi rồi. Những ǵ mới được tạo ra không phải là những ǵ xa lạ, nhưng rất gần và là một phần của người tạo ra chúng.

V́ sao một số người nông dân ở một số quốc gia nghèo c̣n xa lạ với máy vi tính? V́ sao chúng ta c̣n xa lạ với những công tŕnh hiện đại? V́ chúng ta có một khoảng cách về tŕnh độ sáng tạo và thích nghi so với những người khác. Để khỏi trở thành những con người xa lạ với thế giới hiện đại, chúng ta cần phải làm quen và thích nghi với máy tính cũng như những phương tiện hiện đại khác. Hơn thế nữa, để cùng song hành với những nhịp bước phát triển, mọi người c̣n cần phải sáng tạo và tham gia các hoạt động sáng tạo đương thời.

Khác với các loài vật khác, con người được đặt trong một môi trường luôn phát triển và biến đổi không ngừng. Sự biến đổi và phát triển của điều kiện sống không chỉ là một thách đố, nhưng c̣n là một nhu cầu của con người, v́ con người có khả năng sáng tạo và được mời gọi tham dự vào sự sống viên măn. V́ con người sống động và hướng tới sự sống viên măn, nên tất cả những ǵ liên quan đến con người cũng đều có sức sống và năng động, chứ không khô cứng và bất động. Như con người có được sự sống muôn đời và viên măn v́ được đặt trong sự liên hệ mật thiết với Thiên Chúa—Đấng Hằng Hữu—, th́ các sự vật khác như ḍng sông, bông hoa, trăng sao, điều kiện sống và các sản phẩm do con người làm ra, cũng có sức sống và sinh động, v́ chúng nằm trong sự liên hệ mật thiết với con người—loài thụ tạo mang h́nh ảnh của Đấng Hằng Hữu. Những ǵ có sức sống và sinh động th́ không khô cứng hay ù lỳ, nhưng luôn biến đổi và phát triển.

1.3  Giáo lư: sự thích ứng của việc học hỏi chân lư và thể hiện lẽ sống

Trong khi con người luôn khát khao về sự sống viên măn, th́ những ǵ con người đang trải nghiệm và phải đối diện lại là những thay đổi và bất định. Sự thay đổi và bất định của đời sống con người cho thấy rằng, chân lư và sự sống viên măn không nằm trong ḷng bàn tay con người, nhưng là vượt trên con người. Mặt khác, tuy cuộc sống bất định và mỏng gịn, nhưng lại có hương vị của sự sống bất diệt và viên măn: đó là niềm tin, hy vọng, và t́nh yêu. Những hương vị này đă được đặt sẵn nơi bản năng sinh tồn của con người. Tin tưởng lẫn nhau để có được b́nh an. Hy vọng vào ngày mai tốt đẹp để có thêm nghị lực. Yêu thương muôn loài để có được niềm vui và ư nghĩa. Những hương vị này nói lên rằng con người đang được mời gọi để thăng hoa chính ḿnh và thông phần vào sự sống hằng hữu viên măn.

Nếu chỉ dựa vào hương vị được khắc sâu trong bản năng, th́ con người, tuy nhận biết rằng có sự sống viên măn, cũng chẳng biết phải sống và đáp trả sự sống đó như thế nào, v́ chân lư và sự sống viên măn luôn vượt trên con người. Nhưng, như mạc khải mà chúng ta đă được đón nhận qua Chúa Giê-su, chúng ta đă được biết rằng, chúng ta không chỉ được yêu thương, mà c̣n được mời gọi thông phần vào sự sống viên măn của Thiên Chúa, và chúng ta được ban ơn sủng để cộng tác vào công tŕnh yêu thương của Ngài. Qua hoạt động của Chúa Thánh Thần, từ các Tông đồ, Giáo hội đă được đón nhận và được ủy thác việc làm chứng cho mạc khải, làm sống động mạc khải bằng việc sống mầu nhiệm những ǵ được mạc khải.

Những ǵ được mạc khải, Giáo hội đă cố gắng ǵn giữ và duy tŕ trong Thánh Kinh và Thánh Truyền. Để Thánh Kinh và Thánh Truyền không là những “viện bảo tàng” cất giữ những đồ cổ, những thứ của quá khứ, nhưng là nguồn sức sống cho con người thời hiện tại, bên cạnh việc sống chứng tá và sống mầu nhiệm các bí tích, Giáo hội c̣n truyền đạt Thánh Kinh và Thánh Truyền qua ngôn ngữ, cách tŕnh bày và những giải thích b́nh dân, thích hợp với mọi người trong hoàn cảnh hiện tại: đó là giáo lư.

Như vậy, Giáo lư là sự truyền đạt và học hỏi về chân lư được cảm nghiệm và được mạc khải; và như tính thích ứng của con người, sự tim kiếm và học hỏi về chân lư cũng là lẽ sống của con người. Giáo lư nhằm làm sống động và thích nghi chân lư được mạc khải vào một hoàn cảnh và một môi trường cụ thể. Tuy nhiên, hoàn cảnh và môi trường sống của con người th́ thay đổi và phát triển không ngừng. Để thích ứng với một hoàn cảnh cụ thể, th́ giáo lư cũng cần năng động và có tính sáng tạo.

Nh́n vào thực trạng giáo lư hôm nay, theo thiển nghĩ nhưng liều lĩnh dám nói, người viết cho rằng, chương tŕnh và hoạt động giảng dạy giáo lư mà chúng ta đang thực hiện hôm nay không phù hợp cho lắm đối với xă hội đương thời, có thể nói là khá cổ hủ. Nếu nói một cách h́nh tượng th́ giáo lư hiện tại giống như một người Trung Cổ—có lối ăn mặc, hành xử và suy nghĩ của thời Trung Cổ—đang đi giữa xă hội hiện đại với một thái độ lạ lẫm và xa lạ.  Đối với xă hội đương thời, khi nh́n vào giáo lư, có lẽ nó chằng nh́n nhận giáo lư như một người trong hoạt động đối tác của sinh hoạt đời sống hàng ngày, nhưng chỉ như là một người nghệ sỹ đang diễn và nhắc nhớ về những thời đại đă qua trong lịch sử.

Những ǵ được nói ở trên có thái quá hay không? Nếu có chỉ trích, th́ cũng xin hăy kiên nhẫn thêm một chút nữa, để chúng ta có thể cùng t́m hiểu thêm về giáo lư và thực trạng phù hợp giữa giáo lư và xă hội hôm nay.

2. Sơ lược về giáo lư qua các thời đại: bền vững và thay đổi

2.1 Khái quát về giáo lư

Giáo lư có thể được hiểu một cách khái quát là sự giáo dục về đức tin của một tôn giáo nhất định, bao gồm hệ thống lư thuyết cần phải tin và những hành vi thực tiễn cần phải thi hành. Trong giáo dục tôn giáo, điều tin và việc thi hành không tách rời nhau, nhưng luôn hỗ trợ và đồng thời giúp con người trưởng thành hơn trong đức tin. Giáo lư không chỉ là điều tin, nhưng c̣n là sự sống và điều phải làm. Đối với tín hữu Công giáo—người huấn giáo cũng như người thọ giáo—, giáo lư không ǵ hơn là nhắm vào sự lớn lên trong mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa bằng việc trở nên môn đệ trung tín của Chúa Giê-su nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.

Giáo lư Công giáo không là những điều do con người nghĩ ra và áp đặt trên người khác, nhưng là lẽ sống được trao ban và đă được mạc khải:

“Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đă truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:18-20)

Khi nói đến giáo lư, ta không chỉ h́nh dung đến một hệ thống những điều phải tin, được biên soạn và được tŕnh bày qua h́nh thức nói (truyền miệng) hoặc viết (sách), nhưng nó c̣n bao hàm cả một qúa tŕnh giảng dạy và truyền đạt.

Nếu được hiểu là những ǵ phải tin, th́

“Giáo lư là một bản tóm tắt hoặc sự tŕnh bày có tính chất giáo huấn, được sử dụng trong truyền thống giáo dục Thiên Chúa giáo từ thời Tân Ước cho đến hiện nay.”[1]

Nếu được hiểu như là việc giảng dạy về niềm tin, th́

“Việc dạy giáo lư là một hoạt động giáo dục về niềm tin dành cho trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn; là hoạt động bao gồm một cách đặc biệt việc dạy về học thuyết Thiên Chúa giáo—giáo huấn đă được giáo quyền phê chuẩn—, nói một cách khái quát, nghĩa là theo một cách thức có tính hệ thống và tổ chức, với mục đích là mang người nghe đến sự trọn vẹn của đời sống Ki-tô hữu.” (Giáo lư Công Giáo, 5)[2]

Khi nói đến giáo lư, ta cũng không quên rằng, nó chỉ là một h́nh thức trong sứ vụ về lời Chúa, và nó không hoàn toàn độc lập nhưng luôn gắn bó mật thiết với các h́nh thức khác. Có thể nhận biết bốn h́nh thức chính của sứ vụ về lời Chúa. (1) Trước tiên, đó là việc rao giảng Tin Mừng. H́nh thức này khơi dậy niềm tin (cf.  CD, 11, 13; AG, 6, 13, 14), từ đó người đón nhận sẽ giữ lấy lời Chúa trong cuộc đời ḿnh. (2) Kế đến, đó là h́nh thức giáo lư. (3) Kế đến nữa, đó là h́nh thức phụng tự, nằm trong khuân khổ của phụng vụ, đặc biệt là trong Thánh Lễ (chẳng hạn như bài giảng trong thánh lễ) (cf.  SC, 33, 52; Inter Oecum. 54). (4) Sau cùng, đó là thần học, một hệ thống nghiên cứu một cách khoa học về những sự thật về đức tin. Mặc dù có sự phân biệt, nhưng trong thực tế, các h́nh thức này đều ḥa quyện vào nhau một cách chặt chẽ.[3]

“Một chương tŕnh giáo lư phù hợp cho hôm nay” mà chúng ta đề cập đến trong bài viết này, tuy cũng bao gồm cả nội dung truyền đạt và hoạt động truyền đạt, nhưng chỉ hoạt động truyền đạt được ám chỉ và nhắm đến. Nội dung truyền đạt trong chương tŕnh giáo lư mà chúng ta t́m kiếm ở đây không có bất cứ điều ǵ mới lạ, nhưng nhất quán vẫn là những ǵ được giáo huấn và chuẩn nhận bởi Giáo hội Công Giáo. Nói một cách khác, cái mà chúng ta t́m kiếm không phải là một đức tin mới vào một chân lư mới, nhưng là một đức tin tông truyền được sống động trong hoàn cảnh hiện tại qua việc giảng dạy giáo lư một cách linh động, sáng tạo, và có sự liên hệ mật thiết với tất cả các h́nh thức khác của sứ vụ về lời Chúa và lối sống Ki-tô Giáo.

2.2 Giáo lư bền vững qua các thời đại (nội dung, mục đích và ư nghĩa)

Ở mọi nơi và qua mọi thời đại, giáo lư Công giáo chỉ có một nội dung duy nhất, đó là sự nhận biết về Thiên Chúa Cha qua sự mạc khải của Chúa Giê-su nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần. Sách “Giáo lư Công giáo” xác định nội dung của giáo lư như sau:

“Ở trọng tâm của giáo lư, chúng ta t́m kiếm, theo như bản chất, một Người, đó là Đức Giê-su Nazareth, Con Một của Thiên Chúa Cha… người đă chịu khổ h́nh và chết v́ chúng ta và người hiện nay, sau khi phục sinh, đang sống với chúng ta. Việc dạy giáo lư là việc giới thiệu Con Người của Đức Ki-tô, một Con Người thể hiện trọn vẹn về Thiên Chúa. Chúng ta được mời gọi để học biết về ư nghĩa của những hành động, lời nói, và những dấu chỉ mà Đức Ki-tô đă thực hiện. Giáo lư nhằm vào việc mang con người vào liên hệ với Chúa Giê-su Ki-tô: chỉ Người mới có thề dẫn dắt chúng ta đến nhận biết và yêu thương Thiên Chúa Cha qua Chúa Thánh Thần và làm cho chúng ta được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.”[4]

Nội dung này được thể hiện qua kinh Tin Kính, qua việc tuyên xưng đức tin của Giáo hội trong các nghi thức phụng vụ. Trong thần hoc, chúng ta có thể gọi đó là những tín điều. Những ǵ được xem là chân lư và phải tin th́ không hề thay đồi và luôn được duy tŕ cùng với sự hướng dẫn của thẩm quyền Giáo hội, như được quy định trong Giáo luật 1983, số 750.

Như vậy, giáo lư có một đối tượng nhất định và có tính hạn định (có tính hạn định chứ không phải là có hạn định). Tuy nhiên, giáo lư không chỉ dừng ở nhận thức, nhưng chính yếu là vươn tới sự sống. Sự sống th́ không thể quy định, mà chỉ có thể hướng tới. Chính v́ thế, giáo lư không chỉ là một học thuyết, nhưng chính yếu c̣n là một lẽ sống: nó truyền tải và hướng về sự sống. Sự sống hiện tại th́ ngắn ngủi và con người không ai vượt qua được cái chết. Hiện tại, con người chỉ có thể hướng về và cảm nhận sự sống viên măn qua niềm tin. Giáo lư nhằm vào một mục tiêu duy nhất và không đổi, đó là “làm gia tăng đức tin và đời sống đạo đức, và đó là làm triển nở mối giao ḥa gắn bó với Thiên Chúa và tha nhân.[5]

Giáo lư có thể mang lại sự sống, th́ tất nhiên nó phải có nguồn gốc từ Đấng Hằng Hữu. Đọc Thánh Kinh, chúng ta thấy Tiên tri Isaiah có một miêu tả thú vị về lời của Thiên Chúa: lời của Đấng Hằng Sống mang lại sự sống “như mưa và tuyết tuôn đổ từ trời cao, và không trở về trời cho đến khi đă tưới gội mặt đất, mang lại sự sinh sôi nảy nở và đơm hoa kết trái, mang lại hạt giống cho người giao trồng và bánh ăn cho con người.” (Is 55:10) Chẳng cần phải nói thêm th́ chúng ta cũng biết rằng, t́m hiểu về giáo lư th́ cũng là lắng nghe lời Chúa và đón nhận giáo lư cũng chính là đón nhận sự sống vậy. Qua muôn thế hệ và trong mọi hoàn cảnh, Thiên Chúa vẫn đang nói với con người và mời gọi con người đáp trả tiếng của Người.

2.3 Giáo lư thay đổi qua các thời đại (khái niệm, vai tṛ và phương pháp)

Cùng một nội dung nhưng có thể được tŕnh bày bằng nhiều h́nh thức khác nhau, sao cho phù hợp với đối tượng tiếp nhận và hoàn cảnh cụ thể. Cũng vậy, giáo lư truyền đạt một nội dung, nhưng để có tính hiệu quả cao, th́ cách thức truyền đạt phải có sự phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh tiếp nhận. Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, đă có biết bao thay đổi và phát triển, và giáo lư cũng đă trải qua biết bao sự chuyển ḿnh. Từ việc nh́n lại những thay đổi và phát triển của giáo lư, may ra chúng ta học được một điều quư giá nào đó, để có thể góp phần làm cho giáo lư tiếp tục được phát triển.

Vào thời kỳ các Tông đồ, khái niệm “giáo lư” chưa có một ư nghĩa chuyên biệt, mà chỉ bao hàm nghĩa khái quát: nó có tính truyền miệng và nó là sự truyền đạt lại những ǵ đă được nhận lănh. Bản thân Tân Ước là một chương tŕnh giáo lư (The NT itself is a catechesis). Sang thế kỷ thứ hai và ba, khái niệm “giáo lư” với một ư nghĩa chuyên biệt bắt đầu được h́nh thành. Hippolytus sử dụng khái niệm “giáo lư” cho việc chuẩn bị những người dự ṭng cho Bí tích Rửa tội (Traditio Apostolica, 17; cf. Constitutiones Apostolicae, VIII). Thời Trung cổ, khái niệm “giáo lư” được hiểu như là việc hướng dẫn đức tin dành cho trẻ em. Sau khi Luther xuất bản sách giáo lư của Tin Lành, sách có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, đặc biệt đối với trẻ em và những người b́nh dân, năm 1529, th́ các sách giáo lư được chú trọng. Trước Luther đă có một số sách giáo lư được xuất bản, và sau Luther sách giáo lư của Công giáo được chú trọng và xuất bản nhiều hơn, trong đó đáng chú ư là sách “Giáo lư Công giáo Roma của Công đồng Trent” (Catechismus Romanus) (1566). Khi đó khái niệm “giáo lư” được hiểu là đồng nhất với “Sách Giáo lư.” Sau ba thế kỷ, sự đồng nhất này đă thể hiện sự bất cập lớn trong việc làm triển nở và sống động lời hằng sống trong cộng đoàn người tín hữu, v́ giáo lư được hiểu không hơn kém là một sách giáo lư. Ngày nay, đang có sự cố gắng đặt giáo lư trở lại vị trí thích đáng của nó, đó là tŕnh bày lời Chúa như là lời hằng sống và sống động.[6]

Vâng lệnh truyền của Chúa Giê-su, chính các Tông đồ là người thực hiện việc giảng dạy giáo lư. Việc giảng dạy giáo lư  được thực hiện đồng thời với việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng. Việc giảng dạy của các ngài được miêu tả ngay trong các sách Tân Ước. Trong sách Công vụ Tông đồ, A-pô-lô được tường thuật là “giảng dạy [katechemenos, edoctus] chính xác những điều liên quan đến Đức Giê-su.” (Cv 18:25). Trong thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô, Giáo lư mà Phao-lô giảng dạy không xa lạ nhưng là dễ hiểu. Phao-lô viết, “Nhưng trong cộng đoàn, thà tôi nói dăm ba tiếng có thể hiểu được để dạy dỗ [katecheso, instruam][7] kẻ khác, c̣n hơn là nói hàng vạn lời bằng tiếng lạ.” (1 Cr 14:19) Khi các Tông đố dần chết đi, nhu cầu duy tŕ đức tin tông truyền trở nên bức thiết, th́ các sách Tân Ước chính là những sách giáo lư đầu tiên có tính chất giáo huấn về đức tin, tồn tại song song với các truyền thống nơi những cộng đoàn tín hữu.

Trong thời kỳ bắt bớ, dè chừng trong việc đón nhận những thành viên mới vào Giáo hội là cần thiết. Nguy cơ bỏ đạo và thậm chí phản bội là rất nhiều, nên cần có sự giáo dục kỹ lưỡng cả về tín lư và luân lư. Giáo lư cho người dự ṭng vào thời kỳ này là hết sức quan trọng. Người có trách nhiệm chính và trực tiếp là các Giám mục. Người xin vào đạo không được ban Bí tích Rửa tội lập tức như trong thời các Tông đồ, nhưng phải qua một thời gian dài dưới sự đào luyện về giáo lư, và phải trải qua nhiều giai đoạn th́ mới được đón nhận Bí tích Rửa tội.[8]

Khi thời kư bắt bớ đạo đă qua và Thiên Chúa giáo trở thành quốc giáo của đế quốc Roma, th́ giáo lư lại giữ một vai tṛ mới, đó là giáo dục đức tin cho trẻ em. Trẻ em không chỉ được giáo dục về đức tin tại gia đ́nh, mà c̣n được giáo dục qua các chương tŕnh sinh hoạt của nhà thờ. Cũng trong thời gian này, nhiều người xâm lược ngoại giáo gia nhập đạo. Việc làm cho họ ư thức và từ bỏ việc thờ cúng ngẫu tượng là cần thiết.[9]

Theo một số nhận xét, việc giáo dục đức tin tôn giáo bị lăng quên trong thời kỳ Trung Cổ, thời kỳ được xem là thời kỳ của đức tin. Đó thật là một nghịch lư! Và theo họ, những người Tin Lành là những người khôi phục lại việc giáo dục đức tin như thời Giáo hội sơ khai. Ngược lại, một số nhận xét khác lại cho rằng, việc giáo dục đức tin tôn giáo thời kỳ Trung Cổ không hề bị lăng quên, mà ngược lại được chú trọng và được giao một cách đặc biệt cho các Cha xứ. Tuy nhiên, nh́n một cách tổng thể, có thể nói rằng,  giáo dục tôn giáo thời Trung Cổ thiên về dạy luật của Giáo hội nhiều hơn là về lời Chúa.

Khi công nghệ in ấn được phát minh và thịnh hành, nhiều sách Giáo lư được xuất bản và chúng giữ một vai tṛ quan trọng trong việc giáo dục đức tin. Ngày nay, sách giáo lư vẫn rất quan trọng. Chúng được soạn thảo một cách khoa học, thích ứng với các lứa tuổi, tâm lư và tŕnh độ. Kèm theo những nội dung được soạn thảo kỹ lưỡng là những hướng dẫn sư phạm thích hợp với các đối tượng và hoàn cảnh. Tuy nhiên, như chúng ta đă nói, giáo lư không chỉ giới hạn ở sách giáo lư, nhưng c̣n liên quan và gắn liền một cách quan trọng hơn đến hoạt động truyền đạt và giáo dục giáo lư. Nói một cách cụ thể hơn, đó là đời sống giáo lư hoặc đời sống tận hiến cho Tin Mừng của người truyền đạt lẫn người thụ giáo, chứ không chỉ đơn thuần là việc trao đổi kiến thức. V́ tầm quan trọng của sinh hoạt và đời sống giáo lư, một h́nh thức sứ vụ về lời Chúa, nên vai tṛ của các giáo lư viên ngày càng được đánh giá cao. Một giáo lư viên là một người sống và tận tâm phục vụ một cách đặc biệt cho giáo dục đức tin, cho sinh hoạt và trau dồi Giáo lư, v́ vậy, có thể là một Giám mục, hoặc là một Linh mục, hoặc một tu sỹ nam/ nữ, và cũng có thể là một giáo dân.

Về phương pháp, thật là khó nói hết về những phương pháp đă được vận dụng, nhưng chúng ta có thể khái quát như sau: Trước kia, các phương pháp chú trọng đến việc học thuộc ḷng; ngày nay th́ chú trọng nhiều hơn vào sự hiểu biết và khả năng nắm bắt các khía cạnh của vấn đề.

Qua việc khái quát về giáo lư, những giá trị không thay đổi và những biến đổi của nó, bài viết này muốn nhấn mạnh về tầm quan trọng của giáo lư—sứ vụ về lời Chúa và sự quan tâm về sự triển nở của đời sống đức tin—và sự đ̣i hỏi về sự thích ứng của giáo lư trong những hoàn cảnh cụ thể. Một khi đă nhận định được tầm quan trọng của giáo lư, việc làm kế tiếp của chúng ta là: t́m hiểu về xă hội hôm nay và làm sống dậy giáo lư một cách thức thời với hoàn cảnh xă hội.

3. Đặc điểm của thời đại và một số tính chất cần thiết của giáo lư hôm nay

3.1 Giới hạn về không gian và thời gian được thu hẹp: Sự nên một của các h́nh thức sứ vụ lời Chúa trong sự liên hệ mật thiết với các hoạt động và lao động chuyên biệt

Xưa kia, việc di chuyển từ nơi này tới nơi kia thật là khó khăn. Để đến được một nơi xa, th́ người bộ hành cần đến nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần hoặc nhiều tháng cho việc đi lại. Phương tiện chính yếu của hầu hết mọi thường dân là đi bộ. Nếu giàu có một chút th́ có thể đi bằng xe ngựa hoặc các phương tiện vận chuyển thô sơ khác. Thuyền bè th́ không chỉ thô sơ và chậm chạp, mà c̣n nguy hiểm. Đi từ lục địa này tới lục địa kia quả là một cam go.

Trong bối cảnh như thế, khái niệm “đi truyền giáo” luôn gắn liền với h́nh ảnh những chuyến đi mạo hiểm đến những vùng đất xa xôi. H́nh ảnh một nhà truyền giáo, lạ lẫm như từ trên trời rơi xuống, cố gắng “khai hóa” người dân bản địa cả về văn minh khoa học và chân lư tôn giáo là một h́nh ảnh phổ biến và quen thuộc (cần phân biệt văn minh khoa học và văn minh văn hóa). Tiếp sau loan báo Tin Mừng là h́nh ảnh xây dựng những xóm đạo theo văn hóa Thiên Chúa giáo qua việc dạy giáo lư, tập luyện các thói quen tham dự các bí tích (Lúc này ta có thể nói là “theo văn hóa Thiên Chúa Giáo,” v́ việc xây dựng hoặc tiến tŕnh hội nhập văn hóa được thực hiện bởi chính người dân bản địa, chứ không phải do người khác mang lại). Kế tiếp nữa là việc đào sâu thêm về thần học, để người bản địa trưởng thành về đức tin cùng với việc tự quản khi có những giáo sỹ là người bản địa.

Cũng trong hoàn cảnh như thế, “sơ đồ” về sứ vụ Tin Mừng được “vẽ” và được sử dụng là “sơ đồ” chỉ có một chiều. Mọi thứ được bắt nguồn từ Roma và Châu Âu, và không có chiều ngược lại. Người truyền giáo đến từ đó, giáo huấn và các đường lối cũng đến từ đó.

Bên cạnh cảm thức về không gian mênh mông, đó là cảm thức về thời gian chậm răi và nhàn rỗi. Nền kinh tế chủ yếu xưa kia là nông nghiệp. Nhịp điệu cuộc sống trôi nhịp nhàng theo mùa vụ hàng năm. Người nông dân thường chỉ bận rộn vào những ngày thu hoạch mùa vụ. C̣n những ngày tháng c̣n lại th́ thảnh thơi, nhàn rỗi chờ đợi mùa thu hoạch tới. Những năm trước đây, khi các tỉnh Miền Tây của Việt Nam c̣n trồng lúa mùa, công việc gieo trồng ở đây thường được miêu tả là “làm chơi mà ăn thật.” Thật vậy, ngoài mùa thu hoạch bận rộn, chỉ có một lần trong một năm ra, th́ thời gian c̣n lại của cả một năm thật là chậm răi và nhàn hạ. Vào mùa nước cạn, người nông dân cày vữa ruộng ra, không cần gấp gáp, nếu không hôm nay th́ ngày mai cũng được. Sau đó chờ những cơn mưa đầu mùa đến, sạ những hạt giống khô xuống ruộng. Một cách tự nhiên, lúa sẽ mọc lên và lớn dần theo con nước. Thỉnh thoảng th́ ra thăm ruộng để nhổ cỏ hoặc cấy dặm vào những chỗ lúa thưa. Cũng ít khi cần đến thuốc sâu hoặc phân bón. Cứ vậy, thời gian êm đềm trôi cho đến mùa thu hoạch vào mùa khô năm tới.

Những ngày lễ hội nhộn nhịp được tính theo thời điểm của mùa vụ và một số ngày đặc biệt trong năm, như đầu năm hoặc ngày có trăng tṛn nhất. Tết th́ kéo dài nhiều ngày trong tháng Giêng, và những ngày tháng c̣n lại th́ cũng vẫn nhàn hạ, như câu dân ca thường ví von: “Tháng Một là tháng ăn chơi, tháng Hai…, tháng Ba…

Với cảm thức về thời gian chậm răi và thư thả như vậy, cùng với cảm thức về một thiên nhiên đầy những huyền bí do cảm thức về sự trải rộng mênh mông của không gian mang lại, người dân có thời gian và niềm vui quây quần bên nhau, chia sẻ và thưởng thức những câu truyện cổ tích, thần thoại, hoặc những thiên anh hùng ca… Trong hoàn cảnh này, việc quy tụ một lớp giáo lư là không khó. Những chuyện kể về Chúa Giê-su, các thánh Tông đồ và những chuyện trong Cựu Ước có sức ảnh hưởng hết sức lớn lao. Ngay cả việc lắng nghe những bài thuyết giáo khô khan thật dài, đối với người b́nh dân, th́ cũng không đến nỗi “đáng chán lắm,” v́ dầu sao th́ họ cũng “có thời gian;” và dù khô khan th́ bài thuyết giáo kia cũng huyền bí lắm, theo như tâm thức mà họ thấy cái ǵ cũng huyền bí.

Xă hội ngày nay th́ đă có quá nhiều thay đổi so với xă hội xưa kia. Không gian bị thu hẹp lại, đến độ chật hẹp và quá chật hẹp. Không gian không c̣n huyền bí nữa, nhưng đă do con người “làm chủ.” Reng…reng… Alô.. và một cuộc đàm thoại của hai người ở nửa bên này và nửa bên kia trái đất được bắt đầu. Không gian ở các thành phố lớn th́ chật chội quá sức, nơi ở th́ được tính bằng mét, và việc di chuyển th́ khó khăn, không phải v́ đường xá hiểm trở, nhưng là v́ kẹt xe, v́ đâu đâu cũng toàn là người và người. Hôm nay c̣n đang ở Việt Nam, nhưng ngày mai th́ có thể đă đang ở Hoa Kỳ hoặc Roma. Trái đất không rộng lớn nhưng là nhỏ bé và chật chội quá, nên con người đang đi t́m những ngôi nhà mới, những hành tinh mới trong vũ trụ.

Thời đại của công nghiệp và thông tin làm cho thời gian ngắn lại. Con người trở nên bận rộn và tất bật. Thời gian không c̣n được tính theo năm tháng hay mùa vụ, nhưng là theo ngày, giờ và phút. Lễ hội và thời gian vui chơi không c̣n được tính theo mùa, nhưng là được thu lai thành những ngày nghỉ cuối tuần và những buổi vui chơi gấp rút. Chưa hết Mùng Ba Tết, th́ người nông dân của thời đại lúa Thần Nông đă lo ra ruộng xịt thuốc bón phân. Người ở thành thị lại càng gấp gáp hơn. Sáng sớm lao ra đường lo công việc. Trưa tất tả ăn cho nhanh. Tối hối hả đi đến các câu lạc bộ vui chơi giải trí. Ngủ chưa kịp no giấc th́ ngày mới lại đă bắt đầu. Tốc độ công việc th́ vụt bay như tên bắn. Lợi nhuận được tính theo tốc độ thời gian nhanh chậm của thông tin. Sau một giờ, giá cả của thị trường có thể tăng vọt thật cao và cũng có thể tụt xuống thấp. Thời gian dường như ngắn lại, đời người dường như ngắn lại. Bài giảng 15 phút trong Thánh Lễ là quá dài! Sống và hành động. Không có thời gian ngồi nghe giáo lư. Suy tư về các chuyện thần thánh là phung phí thời gian “hiện sinh” của đời người ngắn ngủi.

Tuy có bốn h́nh thức sứ vụ về lời Chúa (như đă nói ở 2.1) v́ chúng có những quy luật riêng, nhưng sự phân biệt về chúng chỉ có giá trị trong nghiên cứu lư thuyết, c̣n trong thực tiễn th́ chúng không thể tồn tại tách rời nhau. Trong hoàn cảnh xă hội xưa kia, từng h́nh thức [(1) loan báo Tin Mừng—(2) giáo lư—(3) giảng thuyết—và (4) thần học] được nhấn mạnh một cách riêng biệt và theo một tŕnh tự nhất định là thích hợp và cần thiết, v́ chúng tương thích với các khoảng không gian dường như tách biệt nhau và các khoảng thời gian dường như chỉ được phân định theo mùa. Nhưng trong hoàn cảnh hôm nay, tất cả bốn h́nh thức nên được gom lại và nhấn mạnh đồng thời, v́ điều kiện và cảm thức về không gian và thời gian đă khác, v́ giới hạn về không gian và thời gian dường như không c̣n nữa, v́ không gian và thời gian như bị dồn lại thành một: đó là giây phút hiện tại, như ta đă nói ở trên. Vẫn biết rằng “mưa lâu thấm đất,” nhưng nếu cần, chẳng hạn như, đối với những công nhân trẻ, những người phải làm thêm ca hoặc làm nhiều công việc cùng lúc, th́ bài giảng trong Thánh Lễ chỉ cần ngắn gọn bằng một câu, nhưng trong một hoàn cảnh được quan tâm nhiều bằng cả con tim, th́ một câu kia cũng đă có thể là một bải giảng hoản hảo, một loan báo Tin Mừng thuyết phục, một bài giáo lư đích thực, và là một bài suy luân thần học xuất chúng: đó là một “cơn mưa lớn” đủ để “thấm đất.”

Trong cùng một khu phố hoặc một xóm làng, có thể có nhiều người thuộc nhiều tôn giáo và người vô thần cùng cư ngụ. Họ không cùng làm một ngành nghề, không làm chung một công ty, không có những giờ làm việc giống nhau, và không có những thời gian sinh hoạt vui chơi hoặc nghỉ ngơi giống nhau. Tuy nhiên, họ không phải là hoàn toàn không liên quan đến nhau, ngược lại, đang liên quan và có thể là gắn bó với nhau một cách chặt chẽ, dù họ có ư thức hay không về điều đó. Trong một không gian giới hạn, một môi trường và hoàn cảnh giới hạn, mỗi hoạt động của người này đều có sự tác động đến người kia, ít nhất là về điều kiện sống, môi trường và hoàn cảnh. Tuy nhiên, vượt trên cấu trúc của môi trường tự nhiên, nếu xét về mặt liên đới, th́ dù cùng sống chung trong một khu tập thể nhỏ bé và chen chúc, th́ cũng có thể chẳng có sự liên quan ǵ đến nhau. Đó là nghịch lư và là thực trạng của xă hội hôm nay.

Sứ vụ lời Chúa nhắm tới tương quan: tương quan với Thiên Chúa và tương quan với tha nhân, nên nó vượt trên cấu trúc của môi trường tự nhiên. Tuy vượt trên, nhưng sứ vụ lời Chúa không thoát ly khỏi điều kiện sống, không tồn tại trên không khí, nhưng là được diễn ra ngay nơi môi trường sống hàng ngày. Như vậy, một trong những yếu tố cần thiết cần có ở một chương tŕnh giáo lư cho ngày hôm nay là phải vượt qua được cái nghịch lư trên, cái nghịch lư “sống chung mà lại chẳng liên quan.”

Chúng ta không kết án, nhưng nên đón nhận và cùng đồng hành với xă hội trong hoàn cảnh thực tại của nó. Tuy quy luật phân công lao động của xă hội hiện đại đ̣i hỏi con người cần có sự chuyên biệt về lao động, và sinh hoạt đời sống sẽ chịu ảnh hưởng theo, tạo nên sự phức tạp hơn về cơ cấu xă hội và hoàn cảnh sống, nhưng nó không hoàn toàn bất lợi cho sứ vụ lời Chúa. Trong hoàn cảnh này, để giải quyết được cái nghịch lư “sống chung mà lại chẳng liên quan,” th́ sứ vụ lời Chúa trước tiên cần tác động đến ư thức “sống chung và có liên quan.” Theo như sự phân công lao động, mỗi người đều có một ngành nghề chuyên biệt, th́ chương tŕnh giáo lư hôm nay có thể tiếp nhận và vận dụng đặc điểm này để phát huy sức sống của nó. Nghĩa là, mọi nghành nghề và mọi hoạt động đều có thể là một phương tiện cho việc giảng dạy và trau dồi giáo lư. Điều cốt yếu là chú tâm và thực hiện chúng theo một niềm tin sống động trong hoàn cảnh thực tại. Mỗi tác động vật lư đều có những ảnh hưởng vật lư kèm theo. Cũng vậy, mỗi tác động có ư thức về sự liên quan th́ cũng sẽ có những ảnh hưởng đến ư thức về sự tương quan. V́ giáo lư vượt trên môi trường vật lư và sinh học, nhưng được thực hiện qua tự nhiên, nên một thầy giáo cũng có thể là một giáo lư viên, một chủ nhà trọ có thể là một giáo lư viên, một anh kỹ sư cũng có thể là một giáo lư viên, và một Linh mục cũng có thể là một giáo lư viên.

Xưa kia, bản đồ truyền giáo chỉ có một “chiều,” và mọi thứ được mang từ Roma và phương Tây đến đều rất “thánh:” Đạo Thánh. Sách Thánh. Và mọi thứ đă hiến tế đều có tính chất thánh. Các nhà truyền giáo dường như không là người, mà là thánh và từ nơi xa xôi thánh thiêng tới. Ngày nay, sự huyền bí của những nơi xa xôi và những con người từ những nơi xa xôi ấy không c̣n nữa; mà ngược lại, những ǵ từ phương Tây thậm chí lại được xem như là rất phàm tục và rất thực dụng. Giờ đây, nhu cầu truyền giáo và dạy giáo lư ngược trở lại Roma và phương Tây lại là điều rất đáng được quan tâm. Dĩ nhiên, giáo lư thánh mà chúng ta có thể dạy và truyền bá trở lại phương Tây không khoác chiếc áo “thánh” siêu phàm như ngày xưa, nhưng giáo lư thánh của hôm nay lại rất cần tính chất “người.” Càng người th́ lại càng là thánh. Người giáo lư viên hôm nay không là những đấng bậc siêu phàm, nhưng là con người chân thật, tuy mang đầy những yếu đuối và tội lỗi nhưng vững một niềm tin và chan chứa một t́nh yêu trong Thiên Chúa và tha nhân.

Đến đây, chúng ta thấy rằng, việc dạy và trau dồi giáo lư được hiểu như là sứ vụ lời Chúa nói chung. Sứ vụ lời Chúa, trong hoàn cảnh xă hội có sự phân công lao động theo chuyên ngành, có thể được thực hiện thông qua bất cứ ngành nghề hay công việc ǵ. Tuy nhiên, như chúng ta đă biết, điều học hỏi và hướng về Thiên Chúa th́ không giới hạn, nhưng v́ con người có giới hạn nên giáo lư có tính quy định và tính hệ thống, như nó được hướng dẫn theo quyền giáo huấn của Giáo hội, nên trong thực tiễn cần có một chương tŕnh giáo lư cụ thể để hướng dẫn và cấu thành một phần nội dung của các hoạt động hoặc lao động mà nó được hợp nhất với.

Một trong những yếu tố cần thiết cần có trong một chương tŕnh giáo lư hôm này là: chính giáo lư, như là sứ vụ về lời hằng sống, phải là một yếu tố quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong các nghành nghề  chuyên biệt cũng như trong các khía cạnh sinh hoạt của đời sống. Với yếu tố này, khái niệm giáo lư không c̣n bị giới hạn bởi lĩnh vực nhận thức, nhưng nó được hiểu như là một thực tại của đời sống hàng ngày.

3.2 B́nh đẳng xă hội và các mối liên hệ xă hội trở nên quan trọng trong nền kinh tế, chính trị, và xă hội: Đối thoại trên mọi phương diện trở nên chuẩn mực trong giao tiếp và truyền đạt

Xă hội xưa kia được thiết lập trên nền tảng các mối liên hệ bất b́nh đẳng: vua—tôi, chủ—tớ , thầy—tṛ, và các mối liên hệ khác. Dĩ nhiên, những mối liên hệ này cần thiết và không thể thiếu trong xă hội hôm nay, nhưng tính chất và mức độ nhấn mạnh một số khía cạnh của chúng th́ có sự khác biệt.

Mối liên hệ chuẩn mực mà chúng ta cần thiết lập đă được nhắc nhở và kêu gọi cách đây hai ngàn năm:

“Anh em biết: thủ lănh các dân th́ lấy quyền mà thống trị dân, những người làm lớn th́ dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em th́ không được như vậy: Ai muốn làm lớn giưa anh em, th́ phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em th́ phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộng muôn người.” (Mt 20:25-28)

Thực hiện theo lời dạy này của Chúa Giê-su quả là không đễ. Không chỉ kinh nghiệm bản thân cho thấy điều này khó, nhưng chính lịch sử cũng đă chứng minh rằng loài người đă từng thất bại trong việc xây dựng xă hội b́nh đẳng và yêu thương. Xưa kia, vua là chúa tể và dân là sở hữu của vua. Vương quốc là vương quốc của vua. Dân là dân của vua. Đất đai và thiên nhiên cũng là của vua. Dưới cấp bậc vua—tôi th́ có liên hệ chủ—tớ. Chế độ nô lệ là một điển h́nh cho sự bất b́nh đẳng nghiệt ngă của loài người. Người nô lệ chỉ là vật sở hữu của người chủ, và không hơn. Sự bất b́nh đẳng c̣n hiện diện ngay trong giáo dục, được thể hiện trong tương quan thầy—tṛ, thật thiêng liêng nhưng cũng không kém phần ràng buộc áp chế. “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.” (Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy.) Một khi đă là thầy, th́ muôn đời là thầy và phải luôn được kính trọng. Ngay cả liên hệ vợ chồng, liên hệ của những người bạn đời, cũng nhuốm thẫm một màu bất công của tư tưởng “chồng chúa vợ tôi.”

Thiên Chúa giáo được mệnh danh là đạo của yêu thương, nhưng trong lịch sử của Giáo hội, sự bất công đă không vắng bóng, mà thậm chí có lúc đă tạo nên những sự bất công tàn nhẫn mà nhân loại đă từng chứng kiến. Nhiều vị Giáo hoàng và Giám mục thực sự là những vị vua, theo nghĩa đen. Một điển h́nh nhất cho sự bất công của Giáo hội, đó là Ṭa án dị giáo. Biết bao người đă bị thiêu sống, bị treo cổ hoặc bị chém đầu và tra tấn v́ có sự không thuận với Giáo hội về đức tin.

Ở đây, chúng ta không kết án tiền nhân về sự bất công trong quá khứ, v́ chúng ta hiểu rằng, con người không chỉ có tính xă hội mà c̣n có tính lịch sử, nên trong những hoàn cảnh nhất định, con người không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhắc lại những hạn chế trong qúa khứ, là nhằm để học hỏi và tránh đi những hạn chế đó. Nếu chúng ta đă thấy và đă biết mà vẫn nhắm mắt làm ngơ để tiếp tục sai phạm, th́ người đáng bị trách chính là chúng ta.

Với sự đề cao quyền con người, chủ nghĩa nhân văn đă thổi một luồng gió mới làm tươi mát nhân loại. Tuy rằng đây đó vẫn có sự kết án những đ̣i hỏi được cho là quá đáng về quyền con người, những đ̣i hỏi được xem là đă vượt qua giới hạn của luân thường đạo lư, nhưng nh́n chung quyền của con người ngày càng được thừa nhận và trân trọng hơn. Chính Giáo hội đă có những tiếp thu lớn từ những chuyền ḿnh của xă hội. Không chỉ tiếp thu, mà ngày nay chính Giáo hội đang ra sức bảo vệ và cổ vơ cho quyền sống, quyền tự do tôn giáo và những quyền cơ bản khác của con người, ngoài việc chăm lo ơn cứu rỗi của linh hồn.

Hiện nay, một số nước vẫn c̣n vua hoặc nữ hoàng, nhưng vua chúa cũng chỉ là những công dân của đất nước họ mà thôi, chứ không c̣n là chúa tể nữa. Quan hệ chủ—tớ có một sự khác biệt lớn đối với xưa kia. Ngoài quan hệ công việc th́ người chủ không có quyền ǵ nữa trên đời sống riêng tư của người thuộc cấp hoặc người làm thuê. Quan hệ thầy—tṛ vẫn là một quan hệ thiêng liêng và phổ biến, nhưng tính chất ràng buộc không c̣n gay gắt nữa. Hôm nay làm thầy, nhưng ngày mai lại rất có thể là tṛ hoặc là người thuộc cấp của tṛ. Trong kinh doanh buôn bán, cạnh tranh b́nh đẳng và lành mạnh được khích lệ, và cạnh tranh có tính độc quyền th́ sẽ bị pháp luật trừng phạt. Trong tương quan xă hội, những h́nh thức áp bức đều bị lên án và loại trừ. Ngay trong phạm vi gia đ́nh, hành vi thiếu sự tôn trọng và gây tổn thương cho con cái, cho cha mẹ hay cho vợ hoặc chồng, th́ bị xem là ngược đăi và sẽ bị kết án bởi công luận. Hiển nhiên rằng xă hội mà chúng ta đang sống chưa hoàn hảo, nhưng giá trị b́nh đẳng giữa người và người đă được quan tâm và có một vị trí quan trọng trong đời sống xă hội hôm nay.

Khi nói đến b́nh đẳng, th́ đồng thời chúng ta cũng phải nói đến tương quan và liên hệ, v́ nếu không có liên hệ th́ b́nh đẳng vô nghĩa. B́nh đẳng không có nghĩa là không liên quan đến người khác, nhưng ngược lại, cần có liên quan và liên quan này là liên quan trong sự tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau. V́ vậy, bên cạnh giá trị b́nh đẳng, các mối liên hệ xă hội rộng răi có một vai tṛ hết sức quan trọng. Các mối liên hệ xă hội không đơn thuần là một tương quan về t́nh cảm, mà nó c̣n là một năng lực của xă hội. Một đất nước tự cô lập, cắt đứt các mối liên hệ quốc tế, th́ đất nước đó sẽ bị suy thoái, lạc hậu và nghèo đói. Việt Nam thời đóng cửa những năm trước đây là một ví dụ cụ thể. Càng có nhiều liên hệ xă hội rộng răi, tôn trọng và nâng đỡ, th́ càng có thêm sức mạnh, sự giàu có, và phát triển. Người càng có nhiều mối liên hệ rộng răi, tôn trọng và nâng đỡ, th́ càng có thêm trợ lực và ủng hộ, như chiến thuật của các nhà chính trị kinh điển: “Được ḷng dân là được cả thiên hạ.” Trong kinh doanh cũng vậy, càng mở rộng quan hệ tương trợ và b́nh đằng, th́ lợi nhuận càng cao. Nếu có lợi nhuận 1 đồng/ 1 đối tác, th́ người có 100 đối tác kiếm được 100 đồng tiền lời, và người có 1.000.000 đối tác sẽ kiếm được 1.000.000 đồng. Không chỉ có sức mạnh và lợi nhuận, mà các mối liên hệ này c̣n là nguồn lực phát triển của xă hội. Nếu 1 người trở thành 1 đối tác trong chuỗi liên hệ xă hội, nghĩa là 1 người đă kiếm được công ăn việc làm, th́ xă hội có được 1 nguồn lực phát triển. Nếu Việt Nam, trong mối liên hệ quốc tế tốt đẹp, hết thảy 85 triệu người đều có công ăn việc làm th́ Việt Nam sẽ ổn định và cường thịnh biết mấy!!!

Khi mà b́nh đẳng và các mối quan hệ xă hội có giá trị rất lớn trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và xă hội, th́ chắc rằng nó cũng có một vai tṛ không nhỏ trong lĩnh vực tôn giáo. Biết rằng không phải bất cứ thứ ǵ có giá trị trong lĩnh vực đời cũng đều có giá trị như thế trong lĩnh vực đạo, nhưng nếu chúng ta lắng nghe và noi gương theo thầy Giê-su, th́ chúng ta sẽ càng bị thuyết phục rằng, b́nh đẳng và tương quan con người là rất cần thiết, v́ chúng là hai trong số những yếu tố của người môn đệ của Đức Ki-tô. Chính Chúa Giê-su đă gọi các môn đệ là “bạn hữu” (Ga 15:15,…) và dạy các ông hăy đối xử với nhau như bạn hữu băng việc “rửa chân cho nhau” (Ga 13:14). Về tương quan, th́ không chỉ giới hạn ở bất cứ một quốc gia nào, nhưng là “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28:19).

Bằng cách nào để có thể có được các mối liên hệ b́nh đẳng và yêu thương? Chúng ta biết rằng, nhờ Ngôi Lời mà vạn vật được tạo thành (Ga 1:3), nên chính nhờ Ngôi Lời mà hết thảy chúng ta có được sự liên hệ. Ngôi Lời đă làm người và trở nên bạn của hết thảy mọi người. Là “bạn,” Người đă “nói” cho nghe những ǵ Người nghe biết nơi Chúa Cha, và “mời gọi” hết thảy cùng đáp trả t́nh yêu của Thiên Chúa. Theo ngôn ngữ của loài người, chúng ta có thể nói rằng, qua đối thoại Thiên Chúa đă sáng tạo và mời gọi con người tham dự vào sự sống viên măn nơi Ngài. Nếu thế th́ chúng ta cũng phải qua đối thoại, qua Ngôi Lời và đối thoại con người, để đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa.

Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II trong “Lời Nhắn Nhủ Đến Người Dân Á Châu” (Message to the People of Asia, Manila, 21 February, 1981) đă dạy:

“Tất cả những người Ki-tô hữu phải tận tâm vào việc đối thoại với các tín hữu thuộc các tôn giáo khác, để từ đó sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác lẫn nhau có thể tiến triển; để từ đó những giá trị đạo đức có thể được củng cố; để từ đó Thiên Chúa được cả sáng nơi tất cả vạn vật. Tất cả các cách thức phải được vận dụng để làm cho đối thoại này trở nên hiện thực khắp nơi, nhưng một cách đặc biệt tại Á Châu, một lục địa từng là cái nôi của các nền văn hóa và tôn giáo cổ kính”[10]

Thiết nghĩ cũng nên giải thích thêm rằng, đối thoại của con người không chỉ đơn thuần là sự giao tiếp bằng lời nói hay chữ viết, nhưng là liên hệ qua lại bằng tất cả các phương diện của đời sống, chẳng hạn như: đối thoại qua đời sống, đối thoại bằng hành động, đối thoại bằng sự trao đổi thần học, và đối thoại bằng trải nghiệm tôn giáo.[11]

Khi đối thoại trở nên một hiện thực khắp nơi, th́ trong lĩnh vực giáo lư tất nhiên là nó cũng không thể vắng bóng. Đối thoại là yếu tố cần phải có, và để đối thoại được thiết lập và tiến triển th́ đối thoại cần được xây dựng trên tinh thần cởi mở, tôn trọng và sẫn sàng đón nhận nhau. Nếu trong giao tiếp mà có lời nói, thái độ hay ư định sát phạt nhau, th́ đối thoại đó đă đến lúc đi đến kết thúc và thất bại. Nếu giáo lư không là một đối thoại trong tinh thần cởi mở, tôn trọng và tiếp nhận th́ giáo lư đó không là giáo lư của xă hội hôm nay—một xă hội được xây dựng trên nền tảng các mối liên hệ b́nh đẳng và liên đới.

“Khẩu khí” của các thánh Tổ Phụ xưa kia trong giáo dục đức tin là: “Ngoài Giáo hội, không có ơn cứu độ” (Cyprian và nhiều thánh Tổ Phụ khác). Đối với cái nh́n ngày nay của chúng ta, nói theo ngôn ngữ trong phim chưởng Tàu, th́ ngôn ngữ đó đầy “sát khí;” nhưng trong hoàn cảnh xưa kia, và trong những hoàn cảnh cụ thể mà nó được sử dụng[12], th́ nó lại có tính chất thông thường, thích hợp và chấp nhận được.

Xưa kia, trái đất được xem là trung tâm của vũ trụ, Rô-ma được xem là thế giới loài người (cũng như Trung Hoa xem Trung Hoa là cái “rốn” của vũ trụ), Thiên Chúa Giáo được xem là quốc giáo và là tôn giáo duy nhất, t́nh yêu Thiên Chúa và tha nhân được xem là duy nhất trong sự hợp nhất với Giáo hội. Tất cả chỉ như thế mà thôi. Thế giới nếu không hợp th́ tan, thuộc Rô-ma hay là chống lại Rô-ma, thuộc về Thiên Chúa trong sự hợp nhất với Hội Thánh hay chống lại Thiên Chúa bằng việc tách khỏi sự nên một qua Hội Thánh, và chỉ như vậy mà thôi. Với cái nh́n có tính chất quy chiếu và trắng đen như thế, phổ biến với hết mọi người, có thể nói là như vậy, th́ việc sử dụng ngôn ngữ có tính chất quy chiếu và trắng đen trong giao tiếp hàng ngày là một điều thường t́nh, và thậm chí rất cần thiết cho sự dễ hiểu đối với con người đương thời.

Nhưng ngày nay, cái nh́n về con người và vũ trụ đă khác: trái đất không phải là trung tâm nhưng như là một hạt bụi bay trong vũ trụ. Có nhiều quốc gia ngoài Ư và các quốc gia đều có những luật lệ riêng. Thiên Chúa giáo chỉ là một trong nhiều tôn giáo lớn…. Với quan điểm và nhận thức mới, nếu chúng ta vẫn sử dụng ngôn ngữ và cách nói xưa kia, th́ rơ ràng là không phù hợp và không chấp nhận được. Lời nói thông thường và dễ hiểu đối với ngày xưa, “Ngoài giáo hội không có ơn cứu độ,” nếu được sử dụng một cách máy móc lại trong hoàn cảnh hôm nay th́ nó quả là trịch thượng và kiêu ngạo.

3.3 Kiến thức và thông tin trở nên dồi dào và có tính thương mại: Hệ thống các hoạt động tôn giáo và xă hội của đời sống hàng ngày thay thế chỗ cho lời giáo huấn và truyện kể

Thời đại mà chúng ta đang sống được mệnh danh là “thời đại của thông tin.” Cái danh này quả là thích hợp, v́ nó vừa miêu tả được thực trạng vừa nói lên được tính chất của xă hội hôm nay. Thực trạng của xă hội hôm nay là sự phong phú về thông tin và sự đa dạng của các phương tiện truyền thông. Truyền thanh và truyền h́nh được phát sóng ngày và đêm. Nhiều đài khác nhau. Sách báo tràn ngập. Internet được nối tới từng nhà. Điện thoại có trong tay mỗi người. Sự trao đổi thông tin không chỉ là hiện tượng, mà nó c̣n là một tính chất của xă hội hôm nay. Con người ta đă không chỉ sống bằng cơm bánh, mà c̣n sống bằng thông tin. Một ngày không được nghe tin tức trên ra-di-ô, không được xem thời sự trên ti-vi, hoặc không được đọc thư từ báo chí trên Internet, th́ cũng khó chịu như việc ăn chưa no ngủ chưa kỹ.

Tuy thông tin tràn lan, nhưng nó không được cho đi một cách “cho không biếu không.” V́ nó là một nhu cầu lớn của con người hiện đại và do con người quản lư, nên nó là một món hàng có tính thương mại rất cao, đặc biệt đối với những nhà kinh doanh thông tin. Cần một thông tin nào đó, ta chỉ cần gơ phím vào computer hoặc mở đài hoặc sách báo th́ thông tin sẽ xuất hiện trước mắt. Tưởng như thông tin đă có sẵn và chúng ta có chúng một cách miễn phí; nhưng không, tất cả chúng đều đă được tính và thanh toán bằng tiền. Nếu chúng ta không phải trả cước phí cho dịch vụ thông tin, nếu chúng ta không phải trả tiền ly cà-phê trong khi ngồi coi bóng đá, mà chỉ xem “ké” ti-vi người hàng xóm thôi, th́ chúng ta cũng đă hoặc sẽ có sự thanh toán với nhà cung cấp thông tin rồi, dù là gián tiếp. Đó là sự thanh toán khi chúng ta mua những món hàng được quảng cáo, hoặc chúng ta (một cách vô thức) truyền bá hoặc tuân theo những ǵ được thông tin—làm theo theo ư đồ của nhà cung cấp thông tin, như một người làm công trả nợ cho chủ. Thông tin và các giá trị khác của con người được thương mại hóa và cụ thể hóa bằng tiền là một đặc điểm khác của xă hội hôm nay.

Với cảm thức về tính thương mại của thông tin, người ta cũng sẽ rất dễ nh́n nhận những nhận biết về Thiên Chúa, những truyện kể về Chúa Giê-su, về các thánh và các tiên tri như là những thông tin thương mại đáp ứng nhu cầu thông tin của con người xă hội. Xưa kia truyện kể và Giáo thuyết có thể mang lại đức tin, nhưng ngày nay, với sự thống trị của tính thương mại của thông tin, th́ truyện kể và giáo thuyết về Thiên Chúa và đời sống của các thánh nhân có thể chỉ được đón nhận như là một h́nh thức thông tin giải trí trong số những thông tin giải trí được trả tiền.

Nhiều thiếu nhi nơi thành thị cũng như miền quê thích đọc truyện tranh viễn tưởng và truyện ma. Chúng đọc một cách thích thú và không sợ hăi ǵ, v́ chúng biết rằng đó là những ǵ không có thật, ngoài giá trị giải trí (trừ một số em bị ám ảnh v́ tâm lư chưa ổn định hoặc chưa được h́nh thành một cách lành mạnh). Đối với những thanh thiếu niên đọc truyện tranh nhiều, xem ti-vi nhiều, chơi game nhiều, và học hành với bài vở và thi cử nhiều, th́ liệu bài giảng và truyện kể có đủ sức tác động và khơi dậy đức tin?

Đời sống hiện thực được chú trọng và nhấn mạnh là một trong những đặc điểm tiêu biểu của xă hội hôm nay. Biết rằng đời sống của con người được mời gọi để hướng tới một đời sống viên măn nơi Thiên Chúa, nhưng không phải v́ thế mà những giá trị và chất lượng của cuộc sống ở đời tạm này đáng bị khinh khi và miệt thị. Tất cả những ǵ được sáng tạo bởi Thiên Chúa th́ đều tốt đẹp (St 1:31) và chính Thiên Chúa đă mặc lấy xác phàm và ở giữa chúng ta. V́ vậy, biết quư trọng đời sống này, biết quy hướng thông tin và các giá trị tới sự phồn thịnh của đời sống con người,  không hẳn là một tham muốn xấu của kẻ theo chủ nghĩa thực dụng hay duy vật, nhưng có thể là những ước ao thánh thiện của một thánh nhân, một người biết tôn thờ Thiên Chúa qua những ǵ Ngài đă ban, biết làm sinh lợi “nén bạc” của cuộc đời được trao phó, và biết miêu tả sự sống viên măn của Thiên Chúa trong một hoàn cảnh giới hạn và cụ thể của đời người.

Khi mọi người đang hướng về một cuộc sống thực tiễn, một hướng nh́n đúng đắn, th́ giáo lư không có lư do ǵ để phân tán hướng nh́n đó. Hơn thế nữa, từ một trọng tâm này, giáo lư có thể hướng con người đến một trọng tâm khác, một đích đến đích thực của con người: đó là sự sống viên măn nơi Thiên Chúa.

Thông tin và các giá trị được quy về lợi ích thực tiễn, v́ thế, không chỉ là một xu hướng phát triển của xă hội, mà đồng thời c̣n là một phương tiện hữu hiệu để hướng con người đến sự quư giá khôn lường của sự sống, đặc biệt là sự sống viên măn—cội nguồn và đích đến của đời người.

Trong hoàn cảnh như thế, giáo lư của sự cam chịu để được rỗi linh hồn, v́ thế, sẽ khó có thể được đón nhận; nhưng giáo lư của sự yêu mến cuộc sống và sự xây dựng những điều tốt đẹp v́ sự sống viên măn đang chờ đón sẽ có thể được dễ dàng đón nhận hơn.

Mà để xây dựng cuộc sống tốt đẹp th́ cần đến những kế hoạch và hành động cụ thể, những kế hoạch và hành động mang lại sự ổn định và phong phú cho điều kiện sống. Tuy nhiên, thực hiện theo lối này, một vấn đề có thể được đặt ra là, liệu giáo lư có bị phàm tục hóa không? Có thể là có, nếu giáo lư được nhân danh cho mục đích hưởng lợi vật chất mà thôi và bất chấp mọi giá trị của tâm linh. Và cũng có thể là không bị phàm tục hóa chút nào, nếu cái lợi vật chất mang lại cái lợi cho linh hồn.

Bằng việc đồng hành với việc xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc của con người, giáo lư ngày nay, như thế, có thể được gọi là giáo lư thực hành, giáo lư không chỉ được trao đổi bằng môi miệng, bằng học thuộc và trả bài, bằng suy diễn và liên tưởng viễn vông, mà thực sự tác động đến cuộc sống thực tại và chứng tá cho sự sống viên măn ẩn sau cái chết của đời này. Nói một cách khác, giáo lư ngày nay không nên gói gọn trong những cuốn sách giáo lư, và cũng không nên giới hạn trong phạm vi những lớp học hoặc những lĩnh vực được xem là của riêng tôn giáo, nhưng nên được mở rộng tới tất cả các lĩnh vực của đời sống hàng ngày, tới những phạm vi hiện thực và trần thế.

Tóm lại, giáo lư của hôm nay không chỉ là những giáo thuyết và truyện kể, nhưng nên “mặc lấy xác thịt” của con người đương thời, những con người đang quan tâm đến tiền bạc, đang quan tâm đến việc học hành thi cử, đang quan tâm đến công ăn việc làm, và đang quan tâm đến biết bao điều khác nữa của thân phận một con người.

Yếu tố cần có trong một chương tŕnh giáo lư là sự chăm lo về cuộc sống (đời này và đời sau).


 

[1] http://encyclopedia.thefreedictionary.com/catechism. (Nguyên văn: “A catechism (κατηχισμός in Greek) is a summary or exposition of doctrine, traditionally used in Christian religious teaching from New Testament times to the present.”), truy cập ngày 23/4/2009

[2] Catechism of the Catholic Church, 5. (Nguyên văn: "Catechesis is an education in the faith of children, young people and adults which includes especially the teaching of Christian doctrine imparted, generally speaking, in an organic and systematic way, with a view to initiating the hearers into the fullness of Christian life.")

[3] Sacred Congregation for the Clergy, General Catechetical Directory, 17

[4] Catechism of the Catholic Church, 426. (Nguyên văn: “At the heart of catechesis we find, in essence, a Person, the Person of Jesus of Nazareth, the only Son from the Father ... who suffered and died for us and who now, after rising, is living with us forever. To catechize is to reveal in the Person of Christ the whole of God’s eternal design reaching fulfillment in that Person. It is to seek to understand the meaning of Christ’s actions and words and of the signs worked by him. Catechesis aims at putting people ... in communion ... with Jesus Christ: only he can lead us to the love of the Father in the Spirit and make us share in the life of the Holy Trinity.”)

[5] Sacred Congregation for the Clergy, General Catechetical Directory, 104. (Nguyên văn: “must pertain to the growth of faith and morality among Christians and to a strengthening of their relationships with God and neighbor.”)

[6] Jacques Audinet, “Catechesis”, in Encyclopedia of Theology: A Concise Sacramentum Mundi, ed. Karl Rahner (Mumbai: St Pauls, 2004), 173-175.

[7] Trích theo http://www.newadvent.org/cathen/05075b.htm, truy cập ngày 23/4/2009.

[8] http://www.newadvent.org/cathen/05075b.htm, (4).

[9] Như trên, (5).

[10] J. Neuner and J. Dupuis, The Chrítian Faith (in the Doctrinal Documents of the Catholic Church), ed. J. Dupuis, 7th Rivised and Enlarged Edition (New York: Alba House, 2001), 1040, #5. Nguyên văn: “All Christians must therefore be commited to dialogue with the believers of all religions, so that mutual understanding and collaboration may grow; so that moral values may be strengthened; so that God may be praised in all creation. Ways must be developed to make this dialogue become a reality everywhere, but especially in Asia, the continent that is the cradle of ancient cultures and religions.”

[11] Pontifical Council for Inter-religious Dialogue & Congregation for the Evangelisation of the Peoples, Dialogue and Proclamation (Reflections and Orientations on Interreligious Dialogue and the Proclamation of the Gospel of Jesus Christ), May 19, 1991, #42, Nguyên văn: “the dialogue of life,” “the dialogue of action,” “the dialogue of theological exchange,” “the dialogue of religious experience”

[12] Trong những hoàn cảnh cụ thể mà thánh Cyprian viết, được J. Dupuis nhận định như sau: “It must, however, be noted that in each instance Cyprian addressed his warnings to people in danger of being separated from the Church or already separated from it, always supposing personal guilt on their part.” J. Dupuis, Toward a Christian Theology of Religious Pluralism (New York: Orbis Books, 2001), 88.