SƯ PHẠM GIÁO LƯ CĂN BẢN

Tài liệu Sư Phạm Giáo Lư của Lm. Nguyễn Văn Hiền ( Lm. Quang Uy biên tập )


Dẫn Nhập: Giáo Hội Ngày Nay Tùy Thuộc Giáo Lư Hôm Nay

Bài 1: Dạy Giáo Lư là ǵ?

Bài 2: Ba Nguyên Tắc Trong Việc Dạy Giáo Lư

Bài 3: Tính Cách Quy Kitô trong Giáo Lư

Bài 4: Đức Kitô, Bậc Thầy của Giáo Lư Viên

Bài 5: Tổ Chức Một Lớp Giáo Lư

Bài 6: Diễn Tiến Một Buổi Học Giáo Lư

Bài 7: Phương Pháp Tŕnh Bày Giáo Lư

Bài 8: Nghệ Thuật Đặt Câu Hỏi Giáo Lư

Bài 9: Bầu Khí Một Lớp Giáo Lư

bài 10: Cầu Nguyện Trong Giáo Lư 

Bài 11: Phương Pháp Cầu Nguyện Bốn Bước Dành Cho Giáo Lư Viên 

Bài 12: T́m Hiểu Tâm Lư Trẻ Em - Phần 1

Bài 13: T́m Hiểu Tâm Lư Trẻ Em - Phần 2 

Bài 14: Những Rối Loạn Tâm Sinh Lư của Tuổi Mới Lớn

 

Dẫn nhập

Giáo Hội Ngày Nay Tùy Thuộc Giáo Lư Hôm Nay

Việc dạy Giáo Lư không đơn thuần chỉ là việc dạy và học. Nó là, và nó phải là một tiến tŕnh liên vị giữa 3 phía: Thiên Chúa, Giáo Lư Viên và người học Giáo Lư. Chính Giáo Lư Viên và người học Giáo Lư phải được biến đổi, trở nên phong phú hơn trong quá tŕnh dạy và học này. Dù cho chỉ tập trung học Giáo Lư mỗi tuần có một buổi vỏn vẹn hơn kém một giờ đồng hồ, th́ Giáo Lư vẫn là một tiến tŕnh kéo dài suốt cả ngày, cả năm, cả đời ḿnh. Mục đích của mỗi buổi học là dẫn trẻ đến gần Chúa hơn, nhờ vậy trẻ sẽ tiến bộ về mọi mặt, phát triển những thái độ và ứng xử đúng đắn đối với Thiên Chúa, tha nhân và chính bản thân.
Các Đức Giáo Hoàng Phao-lô đệ lục và Gio-an Phao-lô đệ nhị đă nhấn mạnh đến việc dạy Giáo Lư, hiểu như là việc huấn luyện Đức Tin , chính là hoạt động chính yếu của Giáo Hội, phải được ưu tiên hàng đầu cả về nhân lực lẫn tài lực. Giáo Hội ngày mai tùy thuộc vào việc dạy Giáo Lư hôm nay.


GIÁO HỘI NGÀY MAI TÙY THUỘC GIÁO LƯ HÔM NAY


Thay cho phần dẫn nhập, xin mượn lời của Linh Mục R.H. Lesser, người Anh, phụ trách về Giáo Lư tại một Giáo Phận truyền giáo ở Ấn-độ, được trích từ Báo Asia Focus số ra ngày 10.4.1991, như sau:

Thay cho phần dẫn nhập, xin mượn lời của Linh Mục R.H. Lesser, người Anh, phụ trách về Giáo Lư tại một Giáo Phận truyền giáo ở Ấn-độ, được trích từ Báo Asia Focus số ra ngày 10.4.1991, như sau:

Cho đến nay, chúng ta vẫn dạy và học Giáo Lư. Thế nhưng, chúng ta đă dạy và học một cách từ chương về Thiên Chúa và về Giáo Hội, bằng cách vận dụng trí nhớ của chúng ta. Các bài Giáo Lư không đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa. Cuộc sống của chúng ta cũng không tiến triển về tâm linh và luân lư. Chỉ thông tin mà không có huấn luyện ( Only information was given, not formation ! )

Việc dạy Giáo Lư không đơn thuần chỉ là việc dạy và học. Nó là, và nó phải là một tiến tŕnh liên vị giữa 3 phía: Thiên Chúa, Giáo Lư Viên và người học Giáo Lư. Chính Giáo Lư Viên và người học Giáo Lư phải được biến đổi, trở nên phong phú hơn trong quá tŕnh dạy và học này. Dù cho chỉ tập trung học Giáo Lư mỗi tuần có một buổi vỏn vẹn hơn kém một giờ đồng hồ, th́ Giáo Lư vẫn là một tiến tŕnh kéo dài suốt cả ngày, cả năm, cả đời ḿnh. Mục đích của mỗi buổi học là dẫn trẻ đến gần Chúa hơn, nhờ vậy trẻ sẽ tiến bộ về mọi mặt, phát triển những thái độ và ứng xử đúng đắn đối với Thiên Chúa, tha nhân và chính bản thân.

Để tiếp xúc, thu hút và khơi lên sự ham thích nơi trẻ, mỗi buổi học phải nên được khởi sự từ những kinh nghiệm sống. Sau đó, đề tài sẽ được khai triển qua một đoạn Kinh Thánh, được nội tâm hóa bằng việc cử hành cầu nguyện ngay tại lớp. Tiếp theo là phần sinh hoạt để củng cố. Cứ thế, trẻ bắt đầu hiểu và yêu mến Đức Ki-tô. Hạt giống đă được gieo. Sự khao khát triển nở, trẻ sẽ t́m ṭi để biết nhiều hơn, gặp gỡ thường xuyên hơn với Đấng mà trẻ yêu mến, từ đó Đức Tin được h́nh thành và khắc sâu.

Các Đức Giáo Hoàng Phao-lô đệ lục và Gio-an Phao-lô đệ nhị đă nhấn mạnh đến việc dạy Giáo Lư, hiểu như là việc huấn luyện Đức Tin , chính là hoạt động chính yếu của Giáo Hội, phải được ưu tiên hàng đầu cả về nhân lực lẫn tài lực. Giáo Hội ngày mai tùy thuộc vào việc dạy Giáo Lư hôm nay.

 

 

Bài 1

Dạy Giáo Lư là ǵ?

Dạy Giáo Lư chính là: tŕnh bày Lời Chúa một cách đơn giản, cụ thể và sống động, để giúp các em có thể hiểu và sống Đức Tin. Từ rất sớm, người ta đă dùng thuật ngữ “Dạy Giáo Lư” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Giáo Hội nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp mọi người tin rằng Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, để rồi nhờ Đức Tin và nhờ việc dạy dỗ ấy, họ được sống nhân danh Đức Ki-tô ngay giữa ḷng đời, góp phần xây dựng Thân Ḿnh của Đức Ki-tô là Giáo Hội.


DẠY GIÁO LƯ LÀ G̀ ?


I.   NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆC DẠY GIÁO LƯ LÂU NAY:

Trước tiên chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và cách làm lâu nay về công việc dạy Giáo Lư, đặc biệt đối với người Việt Nam chúng ta, với những hoàn cảnh thời đại và xă hội có quá nhiều hạn chế.

1.    Dạy Giáo Lư không phải là dạy hỏi – thưa:

Do mức độ c̣n hạn chế tùy từng nơi, từng vùng, nhất là ở ngoại thành và thôn quê, một số chương tŕnh Giáo Lư hiện nay vẫn xoay chung quanh việc hỏi – thưa, một cách hệ thống ngắn gọn, chắc ăn, dễ triển khai, dễ kiểm tra. Dù vậy, Giáo Lư Viên trong trường hợp này, vẫn phải tránh lối học từ chương, mà phải luôn cố gắng tổ chức buổi dạy Giáo Lư một cách sống động, có đối thoại, có hội thoại trao đổi, sao cho nội dung Giáo Lư không dừng lại ở từng câu từng chữ giảng máy móc và học thuộc ḷng rồi trả bài làu làu như... vẹt !

2.    Dạy Giáo Lư không phải là học kinh hạt:

Trong giai đoạn c̣n quá khó khăn trước đây, khi c̣n thiếu nhiều Linh Mục, lại thiếu các Giáo Lư Viên được đào tạo có hệ thống, rất nhiều nơi đă phải đành chấp nhận chỉ dạy kinh hạt cho các em thiếu nhi thay v́ dạy Giáo Lư. Một số Giáo Phận cũng đă cố gắng chuyển tải các điểm cốt yếu trong Giáo Lư bằng những bài thơ lục bát để giúp các em dễ nhớ, dễ thuộc. Dẫu sao, đó chỉ là cách ứng phó tạm thời và hạn chế ở mức độ thấp nhất của việc dạy Giáo Lư.

3.    Dạy Giáo Lư không phải là dạy luân lư:

Đương nhiên nội dung Giáo Lư có đưa ra một nếp sống luân lư Ky-tô giáo sâu sắc, nhưng không v́ thế Giáo Lư Viên dừng lại ở mức độ liệt kê cho các học viên một loạt các điều cho phép được làm và một loạt các điều cấm không được làm trong đời sống đạo. Dạy Giáo Lư vượt lên trên cả những điều ấy khi mở ra cho người học một mối tương quan mật thiết và thấm thía với Thiên Chúa, với Giáo Hội và với tha nhân chung quanh trong cuộc đời.

4.    Dạy Giáo Lư không phải là dạy thần học:

Thần học là một khoa học chuyên biệt, với nhiều trường phái và quan điểm khảo cứu về Thiên Chúa ( Théologie ), nó cung cấp rất nhiều kiến thức, lư luận, nhận định có hệ thống chặt chẽ về Thiên Chúa, tuy đôi khi vẫn c̣n có thể gây ra nhiều tranh căi đưa tới nhiều canh tân đổi mới.

Trong khi đó, việc dạy Giáo Lư, dẫu có vận dụng đến một số điểm thần học căn bản, lại muốn đưa các em đến Ḷng Tin, Ḷng Yêu Mến và Ḷng Cậy Trông chân thành đối với Thiên Chúa, để rồi thể hiện cụ thể ra trong đời sống của ḿnh, vượt qua mọi thứ kiến thức và lư luận của lư trí. Do vậy, học Giáo Lư dứt khoát không phải là để nghe những bài thuyết tŕnh hùng hồn hấp dẫn về Thiên Chúa.

5.    Dạy Giáo Lư không phải là loan báo Tin Mừng:

Việc loan báo Tin Mừng là hoạt động truyền giáo, đem Lời Chúa đến với người chưa hề biết đạo là ǵ, chưa hề biết Chúa là Ai. Thường th́ việc loan báo Tin Mừng đi trước, kế ngay sau đó là việc giảng dạy Giáo Lư.

Một số vùng truyền giáo ở thượng du phía Bắc và ở Tây Nguyên dành cho người dân tộc hiện nay, sau khi đă được loan báo Tin Mừng, dự ṭng là người lớn và cả trẻ em có thể có nhiều năm liền để học Giáo Lư, trong khi bản thân họ vẫn mau mắn quay trở về loan báo Tin Mừng cho những người khác.

6.    Dạy Giáo Lư không phải là dạy học như ở Phổ Thông:

Việc dạy Giáo Lư, cho dẫu cũng dựa trên một số nguyên tắc sư phạm ( pédagogie ) và phương pháp giáo dục ( méthodologie ) chung, nhưng lại vượt xa việc dạy học ở trường Phổ Thông ở chỗ: Giáo Lư giúp các em gặp gỡ Lời Chúa, gặp gỡ chính Thiên Chúa, khơi gợi và tăng cường Đức Tin ở tận thâm sâu tâm hồn các em và chuyển thành sự sống tôn giáo thiêng liêng.

7.    Dạy Giáo Lư cũng chẳng phải là sinh hoạt tập thể:

Khi dạy Giáo Lư ở các độ tuổi thiếu nhi và thiếu niên, đương nhiên cần phải có những sinh hoạt vui chơi hát ḥ, nhưng đó chỉ là một phương cách phụ trợ để gây bầu khí sống động hấp dẫn, góp phần rèn luyện cũng như giáo dục nhân bản cho các em. Cái chính yếu của việc dạy Giáo Lư vẫn là nhắm đến việc đào tạo các Ki-tô hữu, những môn đệ của Đức Ki-tô.

II.  ĐỊNH NGHĨA VIỆC DẠY GIÁO LƯ:

Tắt một lời, việc dạy Giáo Lư chính là: tŕnh bày Lời Chúa một cách đơn giản, cụ thể và sống động, để giúp các em có thể hiểu và sống Đức Tin. Chữ dạy ở đây, theo nguyên ngữ Hy-lạp, không phải là “didaskein” ( dạy các lư thuyết và kiến thức ), nhưng là “mateutein” ( đào tạo thành những môn đệ ). Từ rất sớm, người ta đă dùng thuật ngữ “Dạy Giáo Lư” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Giáo Hội nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp mọi người tin rằng Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, để rồi nhờ Đức Tin và nhờ việc dạy dỗ ấy, họ được sống nhân danh Đức Ki-tô ngay giữa ḷng đời, góp phần xây dựng Thân Ḿnh của Đức Ki-tô là Giáo Hội.

Trong Tông Huấn Catechesi Tradendae ( CT ), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 đă ân cần dặn ḍ như sau:

Dạy Giáo Lư là một giai đoạn hay một khía cạnh của việc Tin Mừng hóa, do đó, nội dung của Giáo Lư không ǵ khác hơn nội dung của Tin Mừng hóa: cũng một sứ điệp Tin Mừng cứu độ đă được nghe hằng trăm lần, và được tiếp nhận với tất cả ḷng quư mến, sẽ luôn được đào sâu nhờ suy tư và nghiên cứu có hệ thống trong Giáo Lư ( CT 26 ).

Dạy Giáo Lư bao giờ cũng lấy nội dung từ nguồn mạch sống động là Lời Chúa được lưu truyền qua Thánh Truyền và Thánh Kinh, v́ Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành kho tàng thánh thiện duy nhất chứa đựng Lời Chúa và được giao phó cho Giáo Hội ( CT 27 ).

III.  DẠY GIÁO LƯ TRONG HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ CỦA GIÁO HỘI:

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến riêng hoạt động mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội bên cạnh việc cử hành các Bí Tích, tổ chức và quản trị cộng đoàn, tổ chức đời sống và các việc bác ái.

Mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội gồm có:

·         Tiền Phúc Âm hóa ( Pré-Évangélisation )

·         Phúc Âm hóa hay loan báo Tin Mừng ( Kérygme – Évangélisation  )

·         Dạy Giáo Lư ( Catéchèse )

·         Giảng thuyết ( Homélie )

·         Thần Học ( Didascalie )

Mục vụ Giáo Lư là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu được học Giáo Lư của mọi thành phần tín hữu, để đưa cả cộng đoàn lẫn bản thân người tín hữu tới chỗ trưởng thành trong Đức Tin. Đặc biệt đối với trẻ em, sứ mệnh cao cả mà Thiên Chúa và Giáo Hội đă ủy thác cho các Giáo Lư Viên chính là: làm cho Ngôi Lời được sinh ra và lớn lên trong các em.

Ngoài ra, Tông Huấn Catechesi Tradendae c̣n nhắc nhở:

Bản chất của việc dạy Giáo Lư gắn liền với tất cả các hoạt động Phụng Vụ và các Bí Tích, v́ chính các Bí Tích và nhất là Bí Tích Thánh Thể là nơi Đức Ki-tô hoạt động một cách sung măn để biến đổi nhân loại. Việc dạy Giáo Lư sửa soạn cho việc lănh nhận các Bí Tích ( CT 23 ).

Việc dạy Giáo Lư là cần thiết, không những để làm cho Đức Tin của các Ki-tô hữu thêm chín chắn, mà c̣n để họ làm chứng trên toàn thế giới, sẵn sàng trả lời cho tất cả những ai chất vấn về niềm hy vọng của họ ( CT 25 ).

Để được như thế, phải phân tích và đánh giá t́nh h́nh để t́m phương cách hoạt động hữu hiệu cho từng đối tượng. Việc giảng dạy Giáo Lư phải có đường hướng và nguyên tắc chỉ dẫn, có chương tŕnh và kế hoạch, có tổ chức và phương pháp thích hợp, cũng như phải có những phương tiện cần thiết.

IV. VIỆC DẠY GIÁO LƯ CẦN ĐƯỢC CANH TÂN KHÔNG NGỪNG:

Việc dạy Giáo Lư luôn luôn cần được canh tân cùng với từng biến chuyển lớn của thời đại và xă hội. Khi so sánh với Lời Chúa, Giáo Lư chỉ có giá trị tương đối. Lời Chúa mới có tính chất tuyệt đối. Do đó, Giáo Lư có thể và cần phải được thay đổi và cải tiến. Việc dạy Giáo Lư phải được canh tân không ngừng để Lời Chúa được diễn đạt đúng hơn, dơ hơn, sống động và hợp thời hơn.

Chính Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 4 năm 1977 đă khẳng định trong Tông Huấn Catechesi Tradendae:

Việc canh tân Giáo Lư là một ân huệ quư giá của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội ngày nay ( CT 3 ).

Việc dạy Giáo Lư cần được canh tân liên tục và quân b́nh về phương pháp, về việc t́m kiếm một ngôn ngữ thích hợp, về việc khai thác các phương tiện mới mẻ để truyền thông sứ điệp ( CT 17 ).

Giáo Hội phải tỏ ra khôn ngoan, can đảm và trung thành với Tin Mừng trong việc t́m kiếm và vận dụng các đường lối và bối cảnh mới mẻ cho việc dạy Giáo Lư ( CT 17 ).

Việc dạy Giáo Lư hiện nay cần được canh tân v́  2 lư do:

·         Thế giới ngày nay biến chuyển không ngừng biến chuyển một cách sâu xa, khoa học kỹ thuật phát triển quá nhanh đưa tới t́nh trạng tục hóa, giải thiêng. Thời chiến tranh lạnh giữa các cường quốc đă chấm dứt. Mặt khác, nhân loại đặc biệt coi trọng các giá trị nhân văn và xă hội, đặt nặng tinh thần phục vụ hữu hiệu.

·         Trong khi đó, chính đời sống của Giáo Hội cũng có những đổi thay khi các giá trị cổ truyền bị lung lay, một đông tín hữu tỏ ra lănh đạm với các sinh hoạt tôn giáo, thậm chí đánh mất Đức Tin. Ngược lại, Công Đồng Va-ti-ca-nô 2 được triệu tập, cùng với việc xuất hiện rất nhiều phong trào thiêng liêng hoạt động rất tích cực, đă khiến cho Giáo Hội mở ra cả một b́nh minh rực rỡ và lạc quan.

V.   KẾT LUẬN:

Như vậy, mọi thành phần trong Giáo Hội cần phải đổi mới cách nh́n ( tư duy ), nhận thức việc dạy Giáo Lư là một nhiệm vụ ưu tiên và tối quan trọng của Giáo Hội, là nhiệm vụ của mọi Ki-tô hữu nhằm giáo dục Đức Tin và đào tạo nên những người Ki-tô hữu trưởng thành. Ngoài ra, c̣n phải đổi mới cả cách làm ( hành động ) trong việc soạn thảo những nội dung chương tŕnh hợp lư và sâu sắc, chọn được những h́nh thức giảng dạy phong phú, đầu tư vật chất và nhân sự của Giáo Hội cho việc dạy Giáo Lư.

Riêng với các Giáo Lư Viên, trong tư cách là người đảm nhận việc dạy Giáo Lư, phải luôn chuyên cần học hỏi Lời Chúa, phải kết thân sâu xa với Đức Ki-tô, phải có tinh thần cầu nguyện, biết sẵn sàng từ bỏ chính ḿnh trong công việc phục vụ.

 

 

Bài 2

Ba Nguyên Tắc Trong Việc Dạy Giáo Lư

Bài này được trích từ bộ sách Nổi Lửa cho Đời 3 của Cha Lê Quang Uy, tŕnh bày ba nguyên tắc chính trong việc dạy Giáo Lư là: nguyên tắc toàn vẹn, nguyêntắc thích ứng và nguyên tắc sống động. Việc dạy Giáo Lư phải bao gồm tất cả nội dung của Giáo Lư và phải ảnh hưửng đến toàn diện con người học viên. Phương pháp phải thích ứng với lứa tuổi, tâm lư và văn hóa của học viên, và các lớp Giáo Lư phải được tŕnh bày cách sinh động.


BA NGUYÊN TẮC TRONG VIỆC DẠY GIÁO LƯ


I. NGUYÊN TẮC TOÀN VẸN ( INTÉGRITÉ ):

Nguyên tắc toàn vẹn được trải ra trong 2 mặt chính yếu:

1.    TOÀN VẸN VỀ NỘI DUNG DẠY GIÁO LƯ:

Tông Huấn Catechesi Tradendae ( CT 30 ) dặn ḍ chúng ta 3 điểm quan trọng sau đây về sự toàn vẹn của nội dung Giáo Lư:

2.    TOÀN VẸN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LƯ:

Giáo Lư phải có ảnh hưởng trên toàn diện con người gồm có cả tâm hồn và thể xác, lư trí, t́nh cảm và các hoạt động, phải chi phối toàn bộ cuộc sống và môi trường sống của con người ( nhất là ở độ tuổi thanh thiếu niên ) như gia đ́nh, học đường, Giáo Xứ, khu phố, làng xóm..., và cũng đồng thời chi phối toàn bộ cuộc đời của họ, chứ không chỉ dừng lại ở những năm tháng theo học Giáo Lư, lănh nhận các Bí Tích xong rồi là hết chuyện như lâu nay nhiều người vẫn quan niệm !

II. NGUYÊN TẮC THÍCH ỨNG ( ADAPTATION ):

Việc dạy Giáo Lư phải luôn luôn được cân nhắc trong việc soạn thảo nội dung và chương tŕnh, cũng như trong việc lo liệu áp dụng các h́nh thức và phương pháp để tŕnh bày, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong khoa Sư Phạm Giáo Lư của Giáo Hội toàn cầu, sao cho thích ứng với 2 mặt sau đây:

1.     TÂM LƯ CÁC ĐỘ TUỔI:

Vẫn tôn trọng sự toàn vẹn thống nhất của sứ điệp Giáo Lư, nhưng nội dung sẽ lần lượt được dàn trải một cách tiệm tiến, được diễn đạt bằng các h́nh thức phù hợp với tâm lư của từng độ tuổi các em.

Về cách chia các độ tuổi tâm lư, xin tham khảo thêm phần T́m Hiểu Tâm Lư Trẻ Em trong Vui Đời Phục Vụ tập 13; phần Giáo Dục Đức Tin Cho Từng Lứa Tuổi trong cuốn Sư Phạm Huấn Giáo của cố Linh Mục Nguyễn Văn Tuyên; và phần phụ chương 4 Lịch Tŕnh Tiến Triển Tâm Lư trong tập Sư Phạm Huấn Giáo của Ban Mục Vụ Giới Trẻ Giáo Phận Sài-g̣n.

Ở đây, chúng tôi xin đề nghị một cách chia độ tuổi đặc trưng theo mức độ tham gia vào các đoàn thể tương ứng với Giáo Lư như sau:

2.       HOÀN CẢNH VÀ MÔI TRƯỜNG:

Tùy theo những hoàn cảnh đặc thù của xă hội và thời đại, cũng như tùy theo từng môi trường khác biệt của từng miền, từng vùng, từng Giáo Phận, chương tŕnh và h́nh thức chuyên chở nội dung Giáo Lư có thể có những uyển chuyển chính đáng.

Địa bàn dân cư toàn ṭng hoặc giáo dân ở tản mạn, nội thành hay ngoại thành, tỉnh lỵ hay thôn quê, đồng bằng hay thượng du, người Kinh hay người dân tộc... tất cả đ̣i hỏi một sự cân nhắc cần thiết để Lời Chúa và Giáo Lư đến được với mọi tầng lớp tín hữu.

III.  NGUYÊN TẮC SỐNG ĐỘNG ( VIVANT ):

Chương tŕnh chung của Ban Giáo Lư một Giáo Phận, một Giáo Xứ, cũng như bầu khí riêng ở từng lớp Giáo Lư phải luôn giữ được tính cách sống động phấn khởi, để việc dạy và học trở thành một niềm vui. Cần phải tránh rơi vào khuôn khổ cứng ngắc, đơn điệu, kém hiệu quả. Dứt khoát không chủ trương “nhồi sọ”, “học vẹt”, “so kè thành tích”, “biểu dương lực lượng” hoặc “qua loa đại khái” cho xong nhiệm vụ... Muốn được như thế, đ̣i hỏi cả 2 phía cùng song hành, ăn khớp nhịp nhàng với nhau:

IV. KẾT LUẬN:

Trên đây là những nguyên tắc quan trọng để việc dạy Giáo Lư đi đúng đường hướng của Giáo Hội.

Xin các vị Giám Mục, các Linh Mục quản xứ, các Linh phụ trách Ban Giáo Lư cần thường xuyên nhắc nhở, hằng năm nên tổ chức một khóa bồi dưỡng nhiều mặt về Sư Phạm Giáo Lư, trong đó có đề cập lại về các nguyên tắc này, để các Giáo Lư Viên, vốn là những người trực tiếp đứng lớp giảng dạy, có thể nắm vững các nguyên tắc, không bỏ sót, không xem nhẹ bất cứ nguyên tắc nào.

 

Bài 3

Tính Cách Quy Kitô trong Giáo Lư

Trọng tâm của môn Giáo Lư là Đức Chúa Giếu Kitô. Người là Thầy, là Đấng dạy Giáo Lư, c̣n các Giáo Lư viên chỉ là phát ngôn viên của Người. Hay nói đúng hơn, Người dùng miệng họ mà giảng dạy. Nhưng Đức Kitô cũng chính là đề tài của môn Giáo Lư. Dạy Giáo Lư chính là tỏ bày trong Đức Giê-su Ki-tô tất cả ư định vĩnh cửu của Thiên Chúa, dạy Giáo Lư là dạy về chính Đức Ki-tô. Đồng thời muốn dạy Giáo Lư cho có hiệu quả, cần phải dạy theo cách của Đức Kitô.


TÍNH CÁCH QUY KI-TÔ TRONG GIÁO LƯ


I.  KHÁI NIỆM QUY KI-TÔ:

Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 4 năm 1977 nhấn mạnh đến tính cách Quy Ki-tô ( Christocentrisme ) trong việc dạy Giáo Lư.

Ở trọng tâm của khoa Giáo Lư, cốt yếu có một Ngôi Vị là Đức Giê-su Ki-tô, để rồi chúng ta chỉ có một câu trả lời duy nhất là chính Đức Giê-su Ki-tô cho cả 3 câu hỏi thiết yếu trong việc dạy Giáo Lư như sau:

II.   AI DẠY GIÁO LƯ ?

Trước hết, chính Đức Ki-tô là Đấng giảng dạy, các Giáo Lư Viên chỉ là phát ngôn viên của Người, là những người trung thành và trung thực truyền đạt lại những ǵ đă được Đức Ki-tô trao phó. “Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đă truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28, 18 – 20 ).

Một Giáo Lư Viên chân chính có thể bộc bạch chân thành theo như Thánh Phao-lô rằng: Không phải là tôi dạy Giáo Lư, mà là chính Đức Ki-tô, Người dạy Giáo Lư cho mọi người nơi tôi, qua tôi, và trong tôi. “Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” ( Gl 2, 20 ).

III.    DẠY GIÁO LƯ VỀ AI ?

Dạy Giáo Lư chính là tỏ bày trong Đức Giê-su Ki-tô tất cả ư định vĩnh cửu của Thiên Chúa, là thông truyền Giáo Lư của Đức Ki-tô, thông truyền chân lư của Người. Do việc, dạy Giáo Lư là dạy về chính Đức Ki-tô.

Muốn tŕnh bày về Chúa Cha, không ǵ hơn là công bố những ǵ Đức Giê-su Ki-tô đă giới thiệu về Cha của Người cũng là Cha của chúng ta. “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ) “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha... Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” ( Ga 14, 11 ).

Muốn đề cập đến Chúa Thánh Thần, chúng ta cũng phải xác tín rằng chính Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh. “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn măi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, v́ thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. C̣n anh em biết Người, v́ Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” ( Ga 14, 16 – 17 ).

Muốn học về Đức Ma-ri-a, chúng ta cũng phải dơi mắt nh́n vào biến cố Nhập Thể của Đức Giê-su Ki-tô, để Mẹ được trở nên E-và mới, hạ sinh Đức Giê-su Ki-tô, trở nên Mẹ của Thiên Chúa và là Mẹ của nhân loại. "Này ông Giu-se, là con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, v́ người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, v́ chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." ( Mt 1, 20 – 21 ).

Muốn t́m hiểu về Giáo Hội, chúng ta không thể quên chính Đức Giê-su Ki-tô là Đầu của Hội Thánh, là vị Tân Lang chung thủy sắt son, c̣n Hội Thánh chính là Thân Ḿnh của Người, là Hiền Thê yêu dấu của Người. “Chính Đức Ki-tô là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người” ( Ep 5, 23 – 24 ). Mọi hoạt động của đời sống Ki-tô hữu cũng đều hướng về Đức Giê-su Ki-tô là trung tâm, là đỉnh cao, là điểm hội tụ, là hệ quy chiếu, là tiêu chuẩn, là mẫu mực tuyệt đối, là trọn vẹn, là tất cả những ǵ mà Thiên Chúa muốn mặc khải nhờ Người và trong Người. “Đây là điều răn của Thầy: anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em”  ( Ga 15, 12 ). “Anh em có làm ǵ, nói ǵ, th́ hăy làm và hăy nói nhân danh Chúa Giê-su, và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha.” ( Cl 3, 17 ). IV.  DẠY GIÁO LƯ THEO CÁCH THỨC CỦA AI ? Mẫu mực đời sống và công việc phục vụ của người Giáo Lư Viên chính là Đức Ki-tô chứ không phải là ai khác ! Đức Giê-su Ki-tô đă để lại cho chúng ta không những một khoa Sư Phạm Giáo Lư độc đáo và sâu sắc, Người c̣n lưu lại một cung cách mô phạm của một bậc Tôn Sư vừa đầy quyền năng xuất phát từ Thiên Chúa ( x. Mc 1, 22 ), lại vừa chan chứa ḷng trắc ẩn yêu thương đối với mọi người ( x. Mt 15, 32 ), nhất là với những kẻ tội lỗi ( x. Lc 5, 32 ), những người nghèo khổ tật bệnh ( x. Mt 15, 30; Mc, 3, 10; Lc 4, 40 ), và sẵn sàng tha thứ cho cả kẻ thù đă hăm hại Người ( x. Lc 23, 34 ). Mặt khác, Đức Giê-su Ki-tô đặt nền tảng cho các hoạt động rao giảng bằng đời sống cầu nguyện. Trước khi khởi đầu sứ vụ công khai, Người đă vào hoang địa để được Chúa Thánh Thần hướng dẫn cầu nguyện và tĩnh tâm suốt 40 ngày ( x. Lc 4, 1 – 2 ). Khởi sự một ngày hoạt động của Người luôn luôn là cầu nguyện ( x. Mc 1, 35 ). Người cầu nguyện suốt đêm trước khi chọn Nhóm Mười Hai ( x. Lc 6, 12 ). Kết thúc một ngày tất bật, Người lại lánh ḿnh đi cầu nguyện (  x. Lc 5, 16 ). Bắt đầu bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su Ki-tô cầu nguyện với các môn đệ trong bữa ăn cuối cùng ( x. Ga 17 ), nơi vườn Ghết-xê-ma-ni trước khi Người bị bắt ( x. Lc 22, 39 – 44 ) và trong giây phút Người sắp ĺa đời trên Thập Giá ( x. Lc 23, 46 ). Tắt một lời, sứ điệp Đức Giê-su Ki-tô rao giảng và chính bản thân Người là một, không có sự tách biệt, so le, hay mâu thuẫn. Người loan báo Tin Mừng Yêu Thương và cũng chính Người là T́nh Yêu Thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. “Không có t́nh thương nào cao cả hơn t́nh thương của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh” ( Ga 15, 13 ). V.  KẾT LUẬN: Xin mượn lời của Tông Huấn Catechesi Tradendae: “Người Giáo Lư Viên theo chân Đức Giê-su Ki-tô, phải luôn chuyên cần học hỏi Lời Chúa do Huấn Quyền của Giáo Hội thông truyền, phải luôn kết thân sâu xa với Đức Ki-tô và với Chúa Cha, phải có được tinh thần cầu nguyện, từ bỏ bản thân, hoàn toàn để Chúa Thánh Thần làm việc nơi ḿnh trong mọi sự và mọi lúc” ( CT 5 và 6 ).

 

Bài 4

Đức Kitô, Bậc Thầy của Giáo Lư Viên

Chúng ta đă đặt vấn đề dạy Giáo Lư theo cách thức của Đức Giê-su Ki-tô. Vậy không ǵ hơn là chúng ta hăy phân tích để học hỏi đường lối dạy Giáo Lư của chính Đức Giê-su Ki-tô đă áp dụng. Xin liệt kê 8 nguyên tắc rất đơn giản mà hiệu nghiệm:


ĐỨC KI-TÔ, BẬC THẦY CỦA GIÁO LƯ VIÊN


Chúng ta đă đặt vấn đề dạy Giáo Lư theo cách thức của Đức Giê-su Ki-tô. Vậy không ǵ hơn là chúng ta hăy phân tích để học hỏi đường lối dạy Giáo Lư của chính Đức Giê-su Ki-tô đă áp dụng. Xin liệt kê 8 nguyên tắc rất đơn giản mà hiệu nghiệm:

I.  TRỰC TIẾP NÓI VỚI NGƯỜI NGHE:

Đức Giê-su Ki-tô quả thật là một con người của quần chúng. Người đi khắp nơi trong suốt cả cuộc đời để gặp gỡ quần chúng. Chung quanh Người luôn có một đám đông t́m đến để lắng nghe, và Người đă chạnh ḷng thương họ, không quản ngại giảng dạy cho họ, nhiều khi đến kiệt sức.

Trên núi, trong hoang địa, dưới thuyền, ngoài băi biển, trong Hội Đường, nơi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, tại bàn ăn, giữa tiệc cưới, ở mọi góc phố, và cả trên Thập Giá, ở đâu Người cũng có những lời giảng dạy về Chúa Cha, về Nước Trời, về giới răn Yêu Thương, về ḷng tha thứ...

Người tiếp xúc với đủ mọi hạng người: kẻ giàu người nghèo, kẻ bệnh tật, người đang gặp khổ đau, người Pha-ri-sêu, các Luật Sĩ, sĩ quan Rô-ma, người miền Sa-ma-ri, các cô gái điếm, người thu thuế, kẻ tử tù... miễn là họ có ḷng chân thành sám hối, muốn đi theo con đường Đức Giê-su mời gọi.

Đức Giê-su không hề biên soạn và viết ra một tác phẩm nào cho mục đích giảng dạy gián tiếp, Người trực tiếp nói với mọi người, đối thoại một cách ân cần, khi nhỏ nhẹ, lúc hùng hồn, và đặc biệt là yêu quư trẻ em lúc nào cũng quấn quít bên Người ( x. Mt 18, 2; Mc 10, 14).

II. TR̀NH BÀY VỪA TẦM NGƯỜI NGHE:

Đa số thính giả của Đức Giê-su là người b́nh dân chất phác, lao động chân tay, mù chữ hoặc ít học. Người đă dùng ngôn ngữ của chính họ và những h́nh ảnh minh họa gần gũi dễ hiểu để giảng dạy và tṛ chuyện thân t́nh với họ, tận tụy giải đáp các thắc mắc của họ và không tiếc lời khen ngợi, khích lệ những ai có thành tâm thiện chí.

Ngược lại, đối với những  một số ít người có học, hoặc khi họ muốn tranh luận bắt bẻ, Đức Giê-su cũng sẵn sàng lư luận, trưng dẫn Kinh Thánh (x. Mt 11, 10; 12, 40; 15, 4. 8) vận dụng Luật Mô-sê ( x. Mt 5, 21. 27. 31. 33. 38. 43), viện lẽ khôn ngoan trong cuộc sống ( x. Mt 5, 15; 6, 24; 12, 25. 29. 33; Lc 6, 39 – 40; 48 – 49) để thuyết phục họ, hoặc thẳng thắn phi bác, cho thấy họ đă lầm lạc hay ngoan cố.

III. DÙNG CÁI DỄ HIỂU ĐỂ NÓI VỀ CÁI KHÓ HIỂU:

Khi muốn dạy một chân lư cao siêu, một mầu nhiệm khó hiểu, mới lạ và khó tin, Đức Giê-su đă chọn những sự việc và sự vật  cụ thể, mượn những khái niệm gần gũi, những h́nh ảnh quen thuộc, những kinh nghiệm sống động của đời thường làm dẫn chứng hay minh họa.

Có thể nói, Người đă vận dụng phương pháp quy nạp đơn sơ hơn là phương pháp diễn giải phức tạp; dùng lối ẩn dụ so sánh để đi tới kết luận hơn là chọn những luận lư kinh viện bác học.

Đức Giê-su c̣n thường dùng các dụ ngôn ( Paraboles) để giảng dạy. Thay cho những định nghĩa trừu tượng, các chân lư và mầu nhiệm đă được gói ghém trong một câu truyện kể ngắn gọn, với đầy đủ t́nh tiết hấp dẫn mà hợp lư hợp t́nh, nghe xong là tự khắc hiểu được bài học, tự ḿnh rút ra được một số yếu tố siêu việt của Nước Trời và có thể áp dụng ngay vào đời sống thường nhật hiện tại.

IV. ĐÚC KẾT THÀNH NHỮNG CÂU DỄ NHỚ:

Sau khi đă diễn giải một chân lư, một mầu nhiệm, một giới luật mới để giúp người nghe hiểu được một cách sáng tỏ, bao giờ Đức Giê-su cũng có những lời đúc kết ngắn gọn và giản dị để giúp họ ghi nhớ sâu xa và thấm thía, đồng thời sẵn sàng đem ra thực hành một cách dễ dàng.

Xin đơn cử những câu kết luận như thế trong Tin Mừng:

·         Về việc cầu nguyện: “Ai xin th́ sẽ được, ai t́m th́ sẽ thấy, ai gơ cửa th́ sẽ mở cho” ( Lc 11, 9).

·         Về đức khiêm tốn: “Ai nâng ḿnh lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ ḿnh xuống sẽ được nâng lên” ( Lc 14, 11).

·         Về tinh thần phục vụ: “Thầy đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ” ( Mc 10, 41).

·         Về sự bền đỗ: “Kẻ được gọi th́ nhiều, nhưng người được chọn th́ lại ít” ( Mt 22, 14).

·         Về ḷng t́nh yêu thương: “Anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em” ( Ga 15, 12).

·         Về sự từ bỏ: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo” ( Lc 9, 23).

V. NHẮC LẠI DƯỚI NHIỀU H̀NH THỨC:

Khi tŕnh bày một chân lư hay một điểm Giáo Lư, Đức Giê-su thường nhắc đi nhắc lại dưới nhiều h́nh thức khác nhau. Như vậy, vấn đề càng dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực hành trong đời sống hơn mà lại không sợ nhàm chán đơn điệu. Hơn nữa, một lần vấn đề được nhắc lại, vẫn có dịp để thêm bổ túc những khía cạnh mới.

Ví dụ, để minh họa cho ḷng Chúa yêu thương những người tội lỗi, luôn chờ mong họ hoán cải, Đức Giê-su đă dùng rất nhiều dụ ngôn khác nhau mà Tin Mừng theo Thánh Lu-ca đă ghi lại trong toàn bộ chương 15 như: Dụ Ngôn Con Chiên Bị Mất, Dụ Ngôn Đồng Bạc Bị Mất, Dụ Ngôn Người Cha Nhân Hậu ( x. Lc 15, 1 – 32).

VI. TIẾN TỪNG BƯỚC THEO TR̀NH ĐỘ CỦA NGƯỜI NGHE:

Một chân lư cao siêu, một mầu nhiệm khó hiểu không thể trong một bài dạy, trong một lần học mà có thể đón nhận trọn vẹn ngay được. “Mưa lâu thấm đất”. Rơ ràng cần phải có thời gian để thấm thía. V́ thế, Đức Giê-su đă luôn luôn vén tỏ mầu nhiệm Nước Trời, Nước Thiên Chúa từng bước, từng chút một. Mỗi lần giảng dạy, Người lại bổ túc thêm một ít, đào sâu và mở rộng thêm những ǵ đă dạy trước đó.

Lấy ví dụ, Đức Giê-su đă từ từ tỏ ḿnh cho các môn đệ rằng chính là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế, để rồi cuối cùng, đến lúc chín muồi, Người mới tự giới thiệu Người chính là Con Thiên Chúa trong biến cố Hiển Dung trên một ngọn núi cao ( x. Mc 9, 2 – 8 ).

Một ví dụ khác: Đức Giê-su đă 3 lần tiên báo về cuộc thương khó và cái chết Người sẽ phải chịu để chuẩn bị cho các môn đệ có thể b́nh tĩnh đón nhận biến cố Vượt Qua đau xót nhưng cần thiết này ( x. Mc 8, 31; 9, 30 – 32; 10, 32 – 34 ).

VII. DÙNG KINH THÁNH ĐỂ MINH CHỨNG:

Đức Giê-su thường trích dẫn những lời Thánh Kinh để giúp người nghe dễ tin và hiểu sâu hơn những lời Người giảng dạy.

Những lời Kinh Thánh ấy c̣n minh chứng rằng: Người đến là để hoàn tất mọi sự. Những lời Người nói, những việc Người làm vừa nối tiếp, vừa thực hiện những ǵ đă được tiên báo trong Cựu Ước. Người chính là Đấng mở ra thời Tân Ước, thực hiện mọi lời hứa và mọi ư định của Thiên Chúa đối với Dân của Người ( x. Mt 11, 10; 12, 40; 15, 4. 8).

VIII.  VỪA GIẢNG DẠY VỪA CẢM HÓA:

Trong khi diễn giải mầu nhiệm Nước Trời, Đức Giê-su cũng gợi lên nơi người nghe ḷng yêu thích, khao khát đón nhận chân lư và sẵn sàng thay đổi cuộc sống.

Đă có một số không hưởng ứng lời mời gọi ấy ( như chàng thanh niên giàu có c̣n tiếc rẻ của cải đời này trong Mc 10, 17 – 22), nhưng ngược lại đă có rất đông người đă được cảm hóa để đổi đời ( như: người đàn bà xứ Sa-ma-ri trong Ga 4, 7 – 42; người phụ nữ ngoại t́nh trong Ga 8, 3 – 11; người mù từ thuở mới sinh trong Ga 9, 1 – 38; người bệnh liệt giường vác chơng ra về trong Ga 5, 5 – 14; ông Da-kêu trong Lc 19, 1 – 10; người gian phi trên thập giá trong Lc 23, 39 – 43... )

IX. KẾT LUẬN:

Đă từng có một Hội Nghị Quốc Tế, thuần túy phi tôn giáo, được tổ chức đặc biệt để nghiên cứu về khoa sư phạm của “thầy giáo Giê-su thành Na-da-rét”. Và các nhà khoa học về giáo dục và sư phạm của hơn 120 quốc gia đă nhất trí chọn Người là “Nhà Giáo mẫu mực của mọi thời”.

Vậy, chẳng lẽ các Giáo Lư Viên là các môn đệ của Đức Giê-su, lại không học hỏi khoa Sư Phạm Giáo Lư nơi chính vị Tôn Sư vĩ đại của ḿnh ?

 

Bài 5

Tổ Chức Một Lớp Giáo Lư

Muốn tổ chức một lốp Giáo Lư, hay nói đúng hơn một chương tŕnh Giáo Lư cho quy mô, cần phải chú trọng đến việc đào luyện các đợt Giáo Lư viên về nôi dung và phương pháp sư phạm. Việc huấn luyện cả hai mặt nói trên không phải chỉ làm một lần mà xong, nhưng phải vừa toàn diện, vừa tiệm tiến, từ căn bản từng môn đạt tới mức độ chuyên sâu hơn. Cũng cần phải thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng và nâng cao, bổ túc, cập nhật hóa cho kịp với những biến chuyển, canh tân, phát kiến của thời đại, xă hội và Giáo Hội.

 


TỔ CHỨC MỘT LỚP GIÁO LƯ


I. NHÂN SỰ:

Để có thể đáp ứng được Tính Cách Quy-Ki-tô như đă tŕnh bày, đồng thời lại phải nắm vững các nguyên tắc sư phạm, có 2 mặt quan trọng trong việc huấn luyện đội ngũ các Giáo Lư Viên, đó là:

·         Huấn luyện về nội dung Giáo Lư: Ngoài các kiến thức về Thánh Kinh, Thần Học, Phụng Vụ, Luân Lư, Lịch Sử Cứu Độ, Giáo Hội... các Giáo Lư Viên c̣n cần được giúp tăng tiến về đời sống cầu nguyện, tác phong đạo đức Ki-tô hữu.

·         Huấn luyện về phương pháp sư phạm: Các Giáo Lư Viên cần phải hiểu biết tương đối thấu đáo về tâm lư các độ tuổi học sinh Giáo Lư, được tập huấn để làm quen với các phương pháp sư phạm để có thể tự tin khi đứng lớp.

Cần lưu ư rằng: việc huấn luyện cả hai mặt nói trên không phải chỉ làm một lần mà xong, nhưng phải vừa toàn diện, vừa tiệm tiến, từ căn bản từng môn đạt tới mức độ chuyên sâu hơn. Cũng cần phải thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng và nâng cao, bổ túc, cập nhật hóa cho kịp với những biến chuyển, canh tân, phát kiến của thời đại, xă hội và Giáo Hội.

Thường th́ theo một quy luật thực tế, cứ sau khoảng 5 năm, lại cần phải có một đội ngũ Giáo Lư Viên mới để kế thừa lớp đàn anh đàn chị. Khởi đầu, những bạn trẻ mới được đào tạo và huấn luyện sẽ tập sự, phụ tá cho quen thạo dạn dĩ, tích lũy kinh nghiệm thực tế đứng lớp, dần dần sẽ tiến tới việc cộng tác, và nếu cần th́ có thể thay thế. Có như vậy, Ban Giáo Lư mới không bị khủng hoảng v́ thiếu nhân sự.

Chúng ta thấy rơ: trước tiên là vai tṛ và trách nhiệm của Cha Sở hết sức quan trọng, ngài phải lo sao để quy tụ và đào tạo được một số người trong Giáo Xứ có khả năng đảm nhận việc dạy Giáo Lư. Kế đến là sự hưởng ứng và cộng tác nhiệt thành của anh chị em giáo dân, nhất là những bạn trẻ.

Cũng cần phải thấy rằng, trong thời gian mấy thập niên vừa qua, nhiều vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh, tuy không thể có Linh Mục, nhưng lại đă h́nh thành được một đội ngũ anh chị em Giáo Lư Viên rất có năng lực và nhiệt tâm, tự đứng ra lo liệu việc tổ chức Ban Giáo Lư, chọn lựa chương tŕnh giảng dạy phù hợp, đạt kết quả khả quan. Đến khi có được Linh Mục mới thụ phong bổ nhiệm về, th́ tiếc thay, mọi sự đều bị... lật nhào, xóa sổ !

II. CHƯƠNG TR̀NH VÀ KẾ HOẠCH:

Hiện nay, chúng ta hiện có nhiều giáo tŕnh Giáo Lư khác nhau, như của Giáo Phận Đà-nẵng, Xuân-lộc, Nha-trang, Sài-g̣n... Do vậy, các Đức Giám Mục, các Linh Mục Quản Xứ có thể có hai cách:

·         Chọn sử dụng một trong các giáo tŕnh trên đây và thích nghi với hoàn cảnh riêng của Giáo Phận và của Giáo Xứ ḿnh.

·         Tham khảo các giáo tŕnh đă có cùng các tài liệu khác để h́nh thành một Ban Mục Vụ Huấn Giáo, soạn ra một giáo tŕnh riêng, có đường hướng rơ rệt của Giáo Phận và Giáo Xứ của ḿnh.

Từ đó, các ngài dựa theo chương tŕnh này để phác thảo một kế hoạch giảng dạy Giáo Lư chi tiết cho từng tháng, từng niên khóa Giáo Lư, trong đó có thể chia thành 2 học kỳ, mỗi học kỳ khoảng từ 3 tới 4 tháng, sao cho thích hợp với thời điểm của các Đại Lễ Phụng Vụ, với thời điểm trao ban các Bí Tích Ḥa Giải, Thánh Thể ( Rước Lễ Lần Đầu ), Thêm Sức và Tuyên Tín trọng thể ( trước đây quen gọi là Bao Đồng ).

Cũng nên dành ra một thời gian để các em được nghỉ hè, hoặc ôn thi hết cấp học ở trường Phổ Thông. Đây cũng là dịp để các Giáo Lư Viên được nghỉ ngơi, đi hành hương hoặc giao lưu với các đoàn Giáo Lư Viên bạn, nhất là để tổng kết các kinh nghiệm của năm học Giáo Lư vừa qua, chuẩn bị chu đáo cho năm học mới, cho ngày khai giảng Giáo Lư sắp tới.

III. SOẠN BÀI:

Trước khi bắt tay vào việc soạn giáo án cho một bài dạy Giáo Lư, mỗi Giáo Lư Viên cần lưu ư các điểm sau đây:

·         Phải nắm vững toàn bộ chương tŕnh của niên khóa Giáo Lư của lớp ḿnh đảm nhận, và cả toàn bộ Chương Tŕnh Huấn Giáo chung cho lớp trước và lớp sau của lớp ḿnh sắp dạy, từ đó mới có thể có cái nh́n bao quát, hệ thống liền lạc ăn khớp với nhau về các nội dung ḿnh cần chuyển tải đến các em.

·         Phải suy gẫm và sống Lời Chúa mà ḿnh sẽ thông truyền cho các em trong từng bài dạy, cần đọc kỹ và t́m hiểu sâu xa chính bản văn Lời Chúa trong từng bài, soát xét lại đời sống bản thân.

·         Phải quan tâm đến đời sống và sinh hoạt của các em trong tuần vừa qua, xem có sự kiện hay biến cố nào có thể giúp ḿnh đưa vào bài soạn như một chứng từ sống động, có tính thuyết phục.

Đến khi bắt tay vào việc soạn giáo án, các Giáo Lư Viên cần được Cha Sở hoặc người phụ trách Ban Giáo Lư hướng dẫn các mặt như sau:

·         Cách thức soạn bài: Giáo Lư Viên cần phải xác định được ngay từ đầu 8 điểm quan trọng dưới đây của một bài Giáo Lư:

1.      Chủ đề chung của bài: Mỗi năm học Giáo Lư đều có một chủ đề chung duy nhất, thâu tóm toàn bộ nội dung các phần, các bài sẽ được dạy. Chủ đề chung này sẽ được ghép vào với từng chủ đề riêng. Ví dụ: Lớp Một chương tŕnh Giáo Lư của Giáo Phận Sài-g̣n có chủ đề chung là: “Chúa yêu con”.

2.      Chủ đề riêng của bài: Sẽ có từng loạt nhiều bài nằm trong một chủ đề riêng được khai triển từ một chủ đề chung của năm học Giáo Lư. Như ở ví dụ vừa nêu, chủ đề chung ”Chúa yêu con” có tất cả 3 chủ đề riêng như sau:

    Phần 1: Chúa yêu con, cho con mọi sự
    Phần 2: Chúa yêu con, cho con biết Chúa
    Phần 3: Chúa yêu con, đến ở với con.

3.      Đề tài riêng của bài: Đề tài cũng chính là tên của từng bài, là nội dung mà bài muốn đề cập đến. Có thể nói đề tài của bài là bản toát yếu cô đọng nhất của bài. Từ một chủ đề riêng, các đề tài được triển khai, quảng diễn thành nhiều bài, để từ đó Giáo Lư Viên dễ dàng giúp các em từng bước nắm được từng ư lực, từng chủ đề riêng có liên quan chặt chẽ với nhau trong một năm học. Như ở ví dụ đề cập trên đây, Chủ đề phần 1 là: “Chúa yêu con, cho con mọi sự” là chủ đề riêng của 4 bài:

     Bài 01: Chim trời, cá biển hăy chúc tụng Thiên Chúa.
     Bài 02: Mặt trời, mặt trăng hăy ca ngợi Thiên Chúa.
     Bài 03: Thiên Chúa cho chúng ta tất cả, v́ Người là Cha ta.
     Bài 04: Chúa dựng nên chúng ta giống Chúa.

4.      Khởi điểm của từng bài: Chúng ta có thể thấy ngay khởi điểm của mỗi bài nằm ở ngay trong đề tài cũng là tựa đề, tên gọi của bài. Từ khởi điểm này, Giáo Lư Viên sẽ bắt đầu câu chuyện với các em. Đối với các độ tuổi thiếu nhi, bài giảng áp dụng phương pháp quy nạp, nên Giáo Lư Viên sẽ có khởi điểm là những chuyện, những sự vật gần gũi quen thuộc mà các em tiếp xúc và thấy thường ngày chung quanh ḿnh. Với ví dụ nêu trên, khởi điểm của bài 01 chính là chuyện con chim trên trời, con cá dưới biển...

5.      Đích điểm của bài: Rơ ràng mục tiêu của bài Giáo Lư ở đây không giống như ở trường Phổ Thông, chúng ta không nhắm cung cấp cho các em kiến thức khoa học thường thức, chúng ta chỉ mượn chuyện con chim, con cá để dẫn các em đến với đích điểm là nhận ra Thiên Chúa chính là Đấng đă tạo dựng nên con chim, con cá và trao tặng cho con người, cho các em được hưởng dùng.

6.      Xác tín của bài: Từ đích điểm đă đạt được sau khi diễn giảng cho các em, Giáo Lư Viên sẽ dẫn các em tới một xác tín quan trọng. Tắt một lời, bao giờ đích điểm của bài Giáo Lư cũng là tuyên xưng một chân lư về Thiên Chúa. Tất cả mọi đích điểm của mọi bài Giáo Lư đều đă được cô đọng trong Kinh Tin Kính. Ví dụ: Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng nên mọi sự; Thiên Chúa là Đấng Quan Pḥng; Thiên Chúa là T́nh Yêu; Đức Giê-su là Con Một của Thiên Chúa Cha; Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ...

7.      Tâm t́nh của bài: Từ xác tín vào Thiên Chúa, Giáo Lư Viên lại đưa dẫn các em vào tâm t́nh chính yếu của bài như một thái độ đáp trả xứng đáng của bản thân các em với Thiên Chúa. Tâm t́nh này sẽ được Giáo Lư Viên lồng vào phút cầu nguyện đỉnh cao trong bởi dạy Giáo Lư. Có thể đó là một lời tạ ơn Thiên Chúa đă tạo dựng cho em, đă tạo dựng nên chính em, cũng có thể đó là lời tôn vinh chúc tụng quyền năng của Thiên Chúa...

8.      Thực hành của bài: Giáo Lư Viên dặn ḍ các em những việc, những điều thực hành cụ thể nho nhỏ và vừa tầm trong cuộc sống của các em được rút ra từ kết luận của bài Giáo Lư. Ví dụ: Em sẽ vâng lời cha mẹ, các thầy cô; Em sẽ sống dễ thương nhân ái với bạn bè; Em sẽ không nói tục chửi thề hay đánh nhau; Em sẽ tôn trọng thiên nhiên và môi trường bằng cách không bẻ cành vặt hoa hay xả rác bừa băi...

8 điểm mấu chốt quan trọng vừa nêu sẽ được tŕnh bày như một cái khung của Giáo Án từng bài, cứ lần lượt theo đó để đặt ra các câu hỏi cho các em khi diễn giảng.

·         Mỗi Giáo Lư Viên phải soạn bài đầy đủ, cho dù đă có sẵn thủ bản hay giáo tŕnh Giáo Lư trong tay. Dứt khoát không nên lấy sách bổn ra đọc, cắt nghĩa, và bắt các em chép vào tập. Bài soạn phải tŕnh bày rơ ràng, chu đáo trong sổ giáo án.

·         Sau khi đứng lớp, nên có bước tự lượng giá, ghi chú thêm vào cuối phần bài soạn của ḿnh những sáng kiến tự phát của ḿnh đă có trong lúc giảng, cũng như những phản ứng tinh tế từ phía các em ( uể oải, chán ngán, khó hiểu, hoặc hăng hái, hứng khởi, mau tiếp thu, đặt ra nhiều thắc mắc chính đáng, đưa ra được những nhận xét độc đáo... ) để buổi dạy sau và năm học sau có thể tham khảo, canh tân, gia giảm.

·         Thỉnh thoảng Cha Sở hoặc người phụ trách Ban Giáo Lư có thể kiểm tra, góp ư, giới thiệu những sổ giáo án đạt hiệu quả mẫu mực cho toàn Ban Giáo Lư cùng nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Những anh chị em Giáo Lư Viên kỳ cựu, v́ lư do nào đó phải nghỉ dạy, có thể gửi lại các sổ giáo án các năm đă dạy để lưu trong tủ sách tham khảo chung của Ban Giáo Lư.

·         Có thể tổ chức soạn bài chung trong một nhóm Giáo Lư Viên cùng phụ trách một cấp lớp như: khối Khai Tâm, Thánh Thể, Thêm Sức, Tuyên Tín ( Bao đồng ), Vào Đời...

Diễn tiến một buổi họp soạn bài chung được đề nghị như sau:

·         Mỗi nhóm Giáo Lư Viên cùng cấp, cùng khối sẽ tự h́nh thành theo các phương pháp Nhóm Ong hoặc Hoạt Động Xưởng  ( Các phương pháp Buzz-Group hoặc Système d’Atelier – xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ). Trưởng Nhóm là một Linh Hoạt Viên sẽ đọc đề tài và nội dung cần soạn, mỗi người trong Nhóm suy nghĩ và cầu nguyện riêng trong khoảng 5 – 10 phút.

·         Lần lượt từng Giáo Lư Viên tŕnh bày ư kiến, một người làm thư kư ghi nhận, tất cả chưa vội bàn căi tranh luận hay quyết định chọn lựa một ư kiến nào ngay. Có thể dùng các phương pháp Lập Phiếu và Động Năo ( Các phương pháp Fichier và Brain Storming – xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ) để tiến hành thu nhặt ư kiến nhanh và đầy đủ chi tiết liên quan đến bài Giáo Lư.

·         Trưởng Nhóm dựa vào ư chính của bài Giáo Lư ( có thể dựa vào một giáo tŕnh gốc, một tài liệu thủ bản Giáo Lư chuần xác nào đó ), cứ theo tŕnh tự từng phần của giáo án đ̣i hỏi mà chọn ra và đúc kết những nét quan trọng cốt yếu mà mọi người đều cùng đồng ư. Tất cả cùng ghi nhận vào sổ giáo án của ḿnh.

·         Cả Nhóm lại cùng nhau t́m chọn thái độ tâm linh, tức là những tâm t́nh sống cho các em, chọn đoạn Lời Chúa thích hợp, t́m các kinh nghiệm sống có thể giúp các em hiểu bài và nhớ bài, đề nghị các tài liệu nghe – nh́n ( nếu có và nếu cần ), các bài hát và câu truyện minh họa, các tṛ chơi sinh hoạt ứng với bài Giáo Lư đang soạn.

IV. KẾT LUẬN:

Hiệu quả từ một công việc làm chung theo Nhóm bao giờ cũng cao hơn việc làm đơn độc. Nội dung của bài Giáo Lư trong cùng một cấp, một khối được bảo đảm đồng nhất, chính xác mà vẫn phát huy được tính đa dạng phong phú của mỗi cá nhân khi giảng dạy thật sự.

Hơn nữa t́nh thân của các Giáo Lư Viên trong một Nhóm cũng nhờ đó mà càng trở nên gắn bó, làm cho sự đoàn kết trong Ban Giáo Lư thêm bền vững.

Dẫu sao, các phương pháp năng động Nhóm có hiệu quả đến đâu, vẫn cần luôn nhớ: Hăy dành chỗ cho Chúa Thánh Thần tác động.

 

Bài 6

Diễn Tiến Một Buổi Học Giáo Lư

Bài này tŕnh bày những ǵ một Giáo Lư viên phải làm trước giờ học, trong giờ học và sau giờ học. Ngoài việc soạn bài, các Giáo Lư viên phải đến lớp ít ra là 15 phút trước giờ học để chẩun bị đón tiếp học sinh. Sau giờ học, Giáo Lư viên cũng nên tiếp xúc thường xuyên với các phụ huynh.


DIỄN TIẾN MỘT BUỔI HỌC GIÁO LƯ


Một buổi học Giáo Lư cần thiết được phân định thành 3 giai đoạn như sau:

I. TRƯỚC BUỔI HỌC:

·         Giáo Lư Viên cần chuẩn bị pḥng học cho sạch sẽ, ngăn nắp. Có thể tùy theo nhu cầu của buổi học mà sắp xếp các dăy bàn ghế theo h́nh chữ U hay h́nh chữ nhật, thậm chí có thể dẹp hết bàn ghế vào sát vách để trải chiếu ngồi ṿng tṛn dưới nền nhà.

·         Không hẳn buổi học nào cũng là ngồi trong pḥng, nhưng có thể tùy theo nội dung và yêu cầu sư phạm, mạnh dạn đổi địa điểm học ra sân Nhà Thờ, dưới chân tượng đài Đức Mẹ, trong ḷng Nhà Thờ hoặc ngay trên Cung Thánh...

·         Bản thân Giáo Lư Viên luôn luôn phải đến lớp trước hết, thường là sớm 15 phút để chủ động đón tiếp các em. Hành trang luôn sắp sẵn: sổ giáo án, sách Kinh Thánh, các tài liệu giảng dạy kèm theo như truyện kể, bài hát, tṛ chơi, h́nh ảnh minh họa...

II. TRONG BUỔI HỌC:

Các bước diễn tiến dưới đây chỉ mang tính tương đối, có thể uyển chuyển thay đổi thứ tự hoặc thêm bớt, miễn là đạt được mục đích nhắm tới của nội dung bài Giáo Lư .

·         Mở đầu là đón tiếp từng em. Kế đó, khi đă đông đủ th́ ổn định lớp, thường là bằng cách để tạo bầu khí sôi nổi hứng thú. Sau đó, mời các em đứng lên bắt lên một bài hát sinh hoạt quen thuộc, sửa sang y phục tề chỉnh, lắng ḷng lại để chuẩn bị cầu nguyện.

·         Cầu nguyện đầu buổi học, có thể chính Giáo Lư Viên dâng một lời nguyện ngắn với Chúa Thánh Thần, cũng có thể đọc đoạn Lời Chúa ư lực của bài học lần trước, hoặc của bài sắp dạy, hát chung một bài Thánh Ca ( chọn được bài hát của thiếu nhi, dùng cho cả năm học th́ càng tốt).

·         Ôn bài Giáo Lư đă học lần trước. Tránh dùng h́nh thức sáo ṃn lâu nay như: khảo bài – trả bài, ghi điểm vào sổ, trách mắng, ra các h́nh phạt phản giáo dục... Nên dùng h́nh thức hội thoại, gợi ư để các em trả lời theo trí hiểu hơn là theo trí nhớ.

·         Dẫn nhập vào bài mới bằng một kinh nghiệm sống hoặc một câu truyện kể ( xin sử dụng Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 2, 4, 6). Cũng có thể móc nối với bài đă học lần trước, đặt một vài câu hỏi gợi ư cho các em để hướng dẫn từng bước đến chủ đề của bài sắp dạy.

·         Viết đoạn Lời Chúa ư lực trên bảng, hoặc cũng có thể viết sẵn trên một băng giấy lớn rồi lúc này gắn lên bảng). Mời các em đứng lên nghe Giáo Lư Viên công bố hoặc cả lớp cùng đọc đoạn Lời Chúa một cách trân trọng. Có thể dùng phương pháp đọc Lời Chúa theo 3 th́ ( 3 temps): tất cả đọc chung ( đọc bằng miệng); thinh lặng trong ít phút để nh́n lên bảng đọc thầm ( đọc bằng mắt); cuối cùng Giáo Lư Viên sẽ đọc lại với tốc độ chậm, to và rơ chữ ( đọc bằng tai).

·         Chuyển sang phần diễn giải bài Giáo Lư mới, mời các em ngồi xuống, nên dùng h́nh thức hội thoại để gợi ư cho các em suy nghĩ và phát biểu cùng xây dựng bài. Nếu Giáo Lư Viên muốn chủ động giúp các em hiểu bài theo hướng đă soạn trong giáo án th́ nên dùng phương pháp quy nạp chứ hạn chế dùng phương pháp diễn giải, vừa khó hiểu, vừa dễ khiến các em mau chóng... ngủ gật và chán ngán việc phải đi học Giáo Lư.

·         Đến đỉnh cao của buổi học Giáo Lư, mời cả lớp đứng lên cử hành cầu nguyện ( célébration de la prière ) một cách long trọng, v́ đây là giây phút các em gặp gỡ chính Lời Chúa, là mục tiêu mà bài Giáo Lư nhắm tới. Cùng nhau công bố Lời Chúa một lần nữa . Sau đó có thể mời các em dâng lời nguyện tự phát, xin ơn, cảm tạ, chúc tụng, quyết tâm... Giáo Lư Viên dâng lời cầu nguyện kết ngắn gọn. Hát chung bài ca ư lực Lời Chúa thật hân hoan phấn khởi.

·         Cho các em ngồi xuống, ghi bài toát yếu vào tập. Bài toát yếu thường rất gọn, chỉ từ 2 đến 6 gịng tùy tŕnh độ và lứa tuổi học sinh. Giáo Lư Viên dặn ḍ công việc ở nhà nếu có, thường là thực hành một cử chỉ đẹp, tập luyện một tính tốt theo mời gọi của Lời Chúa.

·         Chuyển sang phần sinh hoạt để củng cố bài Giáo Lư vừa học. Có thể chọn hoặc chế biến một tṛ chơi nhỏ ứng với chủ đề bài Giáo Lư. Có thể tập một bài hát có cử điệu ( xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ).

Trong suốt năm học, cũng có thể dành ra từ 5 tới 7 phút cuối mỗi buổi dạy để đọc nối tiếp nhau một truyện dài nhiều chương có chủ đề hợp với nội dung toàn chương tŕnh ( ví dụ: Truyện Cuộc Đời Các Thánh, Những Tâm Hồn Cao Thượng...).

·         Cầu nguyện cuối giờ thật ngắn gọn nhẹ nhàng, như một lời chào Chúa để chia tay nhau, xin ơn b́nh an cho giấc ngủ đêm nay hoặc cho một tuần lễ sống sắp tới. Hát chung bài ca ư lực hoặc một bài sinh hoạt ngắn. Buổi học kết thúc, Giáo Lư Viên tiễn các em ra về.

III. SAU BUỔI HỌC:

·         Nếu là một Giáo Xứ nằm lọt trong một khu xóm b́nh dân, hoặc ở vùng ven đô hay ngoại thành, và nhất là ở thôn quê, phạm vi hẹp nhưng mật độ dân cư đông đúc, nhiều khi lại là vùng Công Giáo toàn ṭng, ai cũng biết khá rơ về nhau, các Giáo Lư Viên phải giữ ǵn lời ăn tiếng nói, cách ứng xử và việc sống đạo sao cho ăn khớp với những ǵ đă dạy các em ở lớp Giáo Lư. Cần nhớ, cuộc đời ḿnh là một bài dạy Giáo Lư nối dài.

·         Mỗi Giáo Lư Viên đều là một người con cháu hay bạn hữu của cha mẹ các em học sinh, cần phối hợp cộng tác với gia đ́nh trong việc giáo dục Đức Tin và Nhân Bản cho các em, bằng cách thường xuyên lui tới gia đ́nh, nhắc nhở đôn đốc các em sống Lời Chúa đă học ở lớp, thăm hỏi khi các em đau yếu phải nghỉ học, khuyến khích các em khi có dấu hiệu bỏ lớp hoặc bị gia đ́nh hiểu lầm hay ngược đăi, khuyên nhủ các em khi lỡ phạm lỗi lầm trong gia đ́nh hay ở trường Phổ Thông...

·         Đặc biệt khi Ban Giáo Lư của Giáo Xứ có tổ chức Tṛ Chơi Chiến Dịch Giáo Lư  hoặc Hội Thi Đố Vui Giáo Lư, Lửa Trại Giáo Lư (xin xem thêm Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 1), các Giáo Lư Viên lại càng phải gắn bó phối hợp với gia đ́nh để giúp các em tham gia hết ḿnh.

 

Bài 7

Phương Pháp Tŕnh Bày Giáo Lư

Muốn cho học sinh hấp thụ được điều ḿnh dạy một Giáo Lư viên phải biết cách tŕnh bày một bài Giáo Lư thế nào cho sinh động để mọi học sinh đều hứng thú tham gia học hành. Phương pháp chính là con đường ngắn nhất đưa cả người dạy lẫn người học đạt đến mục tiêu nhắm tới. Bài này tŕnh bàyhai phương pháp chính và một số phương cách hỗ trợ để Giáo Lư Viên có thể vận dụng trong việc tŕnh bày một nội dung Giáo Lư.


PHƯƠNG PHÁP TR̀NH BÀY GIÁO LƯ


I. DẪN NHẬP:

Nếu như trong giáo dục, các mặt trí dục, đức dục và thể dục đ̣i hỏi phải có phương pháp chuyển tải th́ ngành Sư Phạm Giáo Lư cũng cần phải có phương pháp. Phương pháp chính là con đường ngắn nhất đưa cả người dạy lẫn người học đạt đến mục tiêu nhắm tới.

Có hai phương pháp chính và một số phương cách hỗ trợ để Giáo Lư Viên có thể vận dụng trong việc tŕnh bày một nội dung Giáo Lư.

Thật ra, mỗi phương pháp đều có mặt mạnh mặt yếu của nó, không hoàn toàn tuyệt đối hay cho mọi trường hợp. Do vậy, tùy từng vấn đề phải chuyển tải, tùy từng hoàn cảnh và môi trường giảng dạy, và tùy từng đối tượng tham dự lớp, mà Giáo Lư Viên uyển chuyển chọn lựa phương pháp này hay phương pháp kia, đôi khi khéo léo phối hợp cả 2 phương pháp trong cùng tiến tŕnh truyền đạt một nội dung Giáo Lư, cốt là đạt được hiệu quả cao nhất.

II. HAI PHƯƠNG PHÁP CHÍNH:

1.    Phương pháp diễn giải ( Méthode déductive ):

Người tŕnh bày đi từ một định luật, một định đề lớn và tổng quát, dần dần suy luận, diễn tả, chứng minh và giải thích, mổ xẻ thành những vấn đề nhỏ, những trường hợp riêng biệt để từ đó tổng hợp từng bước để người học  có thể nắm được nội dung chính.

Ví dụ: Học về Hội Thánh trong chương tŕnh Vào Đời. Định nghĩa Hội Thánh là ǵ ? Hội diễn tả một cuộc nhóm họp thành cộng đoàn với một mục đích, một công việc chung. Thánh nghĩa là thuộc về Thiên Chúa. Vậy, Hội Thánh là cộng đoàn những người được Lời Thiên Chúa quy tụ thành Dân Chúa và thành Thân Ḿnh Của Đức Giê-su Ki-tô... ( Kế đó, lại phải tŕnh bày về Lời Chúa, được quy tụ bởi Lời Thiên Chúa là thế nào ? Tại sao lại nói Hội Thánh là Nhiệm Thể, là Thân Ḿnh của Đức Ki-tô ?... )

Phương pháp này buộc người dạy phải vận dụng những suy luận và định nghĩa vững chắc và mạch lạc, có phần nào hơi áp đặt các em phải chấp nhận ngay từ đầu một mệnh đề, một định luật, đ̣i hỏi phải đầu tư suy nghĩ nhiều.

Hơn nữa, phương pháp giảng dạy này dùng đường lối thuyết tŕnh ( didactique ), nghĩa là độc thoại một chiều từ phía người nói đến người nghe, sử dùng khá nhiều từ ngữ Thần Học cao siêu và Mầu Nhiệm khó hiểu, gây ra bầu khí động năo căng thẳng, nặng nề, khô khan, thiếu sự trao đổi và cảm nhận sống động nơi các em.

Nếu đành phải áp dụng phương pháp này trong giảng dạy th́ phải huy động thêm nhiều phương cách hỗ trợ để minh họa dẫn dắt các em từ những cái khó hiểu đi dần tới những cái dễ hiểu.

Một h́nh thức biến thể và đơn giản hóa của phương pháp diễn giải là các sách Giáo Lư Hỏi – Thưa dành cho trẻ em, mà hiện nay một số Giáo Phận, đặc biệt ở miền Bắc vẫn đang c̣n áp dụng.

2.    Phương pháp quy nạp ( Méthode inductive ):

Người dạy khởi đi với các kinh nghiệm của bản thân, hoặc những dẫn chứng thực tế, những câu chuyện trong đời sống thường nhật mà người học có thể từng trải và cảm nhận một cách tự nhiên. Từ đó tiến dần đến một kết luận có tính khái quát về nội dung vấn đề muốn truyền đạt.

Ví dụ: Học về việc “Thiên Chúa ban trí khôn loài người” trong chương tŕnh Giáo Lư Khai Tâm. Kể truyện em bé Hi-cô-i-chi trong truyện Tảng Đá Chắn Đường ( xin xem Tuyển Tập Nối Lửa Cho Đời số 2 ). Bắt đầu từ đời sống nhân bản: Em có trí khôn nên em sống khôn ngoan và làm vui ḷng mọi người. Dẫn vào nội dung Giáo Lư: Em được Thiên Chúa ban cho trí khôn để có thể nhận biết Chúa, sống yêu thương như ư Chúa muốn. Đẩy tới tâm t́nh tôn giáo: Mỗi tối, trước khi đi ngủ, em thưa với Chúa: “Xin cho con biết điều ǵ đẹp ḷng Chúa để con làm, và điều ǵ làm buồn ḷng Chúa để con tránh”...

Phương pháp này rất phù hợp với trẻ em, v́ các em thường suy nghĩ bằng sự kiện và h́nh ảnh hơn là bằng ư niệm và lư luận trừu tượng. Hơn nữa, phương pháp này dùng đường lối đối thoại ( méthode dialogique ), nghĩa là có tương quan hai chiều giữa người hướng dẫn và người khám phá. Thầy gợi ư để tṛ suy nghĩ và từng bước tiến gần đến chân lư. Các câu hỏi vừa tầm, mở đường cho lời đáp, tiệm tiến, xoáy dần vào vấn đề chính.

Chúng ta nhận thấy Đức Giê-su đă dùng phương pháp quy nạp một cách xuất chúng khi luôn mở đầu một bài giảng bằng một dụ ngôn hoặc bằng một h́nh ảnh, một sự kiện b́nh thường trong cuộc sống con người.

III. CÁC PHƯƠNG CÁCH HỖ TRỢ:

Để việc áp dụng các phương pháp vừa nói ở trên đạt được hiệu quả cao nhất, xin đề nghị 2 phương cách hỗ trợ.

Cần lưu ư là cả 2 phương cách này đều dựa trên nguyên tắc năng động ( dynamique ), đ̣i hỏi người Giáo Lư Viên như một Linh Hoạt Viên trong lớp Giáo Lư, biết cách huy động các em trong một bầu khí vui tươi sống động, biết cộng tác với nhau trong việc khám phá từng bước và toàn bộ nội dung Giáo Lư thông qua các Tṛ Chơi, Bài Hát, Truyện Kể và những sinh hoạt tập thể như: Kịch Chạy, Pa-Nô Chạy, Báo Chạy... ( Xin xem thêm tuyển tập Nối Lửa Cho Đời số 1 )

Như thế, các phương cách hỗ trợ này tạo ra các tương quan đa chiều, không những giữa Giáo Lư Viên và các em, mà c̣n giữa các em với nhau trong sự hướng dẫn của Giáo Lư Viên. Khái niệm dạy – học trong một bầu khí sống động như vậy, sẽ trở nên tương đối, mà đúng hơn, phải thay bằng khái niệm cùng nhau khám phá.

Không gian lớp học thường được sắp xếp rất linh động uyển chuyể. Bàn ghế có thể bố trí theo h́nh vuông, h́nh chữ nhật hoặc chữ U. Cũng có thể bỏ hết bàn ghế để thầy và tṛ ngồi xuống đất theo h́nh tṛn. Đương nhiên, số lượng các em không nên quá đông ( vượt quá 30 trẻ ) để việc hội thoại, sinh hoạt và hoạt động không bị loăng hoặc hỗn độn, cả lớp đều dễ dàng tham gia mà ít có em nào thụ động khép kín.

Ở đây xin tạm phác họa một xă hội đồ ( sociogramme ), các mũi tên đan xen qua lại sẽ diễn tả những mối tương quan đa chiều trong lớp xoay quanh nội dung Giáo Lư được đem ra hội thoại, giữa Giáo Lư Viên    ( ô tṛn tô đậm ) và các em ( các ô để trắng ):

1.   Phương cách trực quan ( intuitive ):

Trực quan nghĩa là các em có thể trực tiếp vận dụng một hoặc nhiều giác quan ( mắt nh́n, tai nghe, tay chạm, mũi ngửi, lưỡi nếm ), để từng chút một, thông qua các sự việc, sự vật và khái niệm trung gian mà đến gần hơn với nội dung Giáo Lư.

Phương cách này đặc biệt thu hút các em học sinh Giáo Lư, nhưng cũng dễ gây ấn tượng nếu khéo áp dụng cho cả các dự ṭng người lớn.

Ở đây, chúng tôi xin đơn cử hai mặt trực quan sinh động dễ được vận dụng nhiều nhất:

·         Mắt nh́n ( thị giác ), Giáo Lư Viên có thể vận dụng các tranh ảnh, pa-nô cắt dán minh họa một phần của nội dung Giáo Lư, một tấm bản đồ Đất Thánh, một bản phân nhánh h́nh thành các Giáo Phận ở Việt Nam, một bản gia phả Chúa Giê-su, một b́nh hoa thật đẹp, sách Kinh Thánh... hoặc một mẫu vật thật như: ḥn đá núi, ngọn đèn có giá, con chim sẻ trong lồng, đồng bạc cổ, chùm nho, bó lúa, đóa hoa dại, nhánh cỏ lùng... gợi liên tưởng đến các câu Lời Chúa trong Tân Ước... Cũng có thể cho các em chơi tṛ chơi lắp ghép tranh h́nh ô vuông theo một tranh Kinh Thánh mẫu, làm Báo Chạy, Pa-nô Chạy...

·         Tai nghe ( thính giác ), Giáo Lư Viên có thể mở cho lớp nghe một bài Thánh Ca, một câu truyện kể với nhạc nền được thâu sẵn trong băng cassette có nội dung dẫn vào hoặc củng cố bài Giáo Lư. Ngoài ra, phải kể cả các loại h́nh minh họa Sư Phạm Giáo Lư như kể truyện, đọc truyện, tập hát cũng giúp vào việc nghe hết sức hiệu quả. Cũng có thể cho lớp chơi các tṛ chơi Kim về thính giác để nhận định những tiếng động khác nhau của các mẫu vật, những âm giọng riêng của từng người... từ đó dẫn nhập vào bài dạy.

2.   Phương cách hoạt động ( active ):

Ở phương cách này, Giáo Lư Viên vận dụng tối đa các phương pháp năng động như Lập Phiếu, Nhóm Ong, Động để tổ chức các dạng sinh hoạt tại lớp như: hoạt cảnh, diễn kịch ngắn, Báo Chạy, Pa-nô Chạy, triển lăm mi-ni...

Giáo Lư Viên các khối cũng có thể phối hợp tổ chức cho nhiều khối học sinh Giáo Lư sinh hoạt các tṛ chơi trong Hội Trường hoặc tại sân Giáo Xứ, hoặc thỉnh thoảng tổ chức Tṛ Chơi Lớn, Chiến Dịch Giáo Lư ( x. thêm tuyển tập Nối Lửa Cho Đời số 1 ).

Cuối học kỳ hoặc cuối năm, có thể tổ chức cho các em một chuyến đi hành hương, phục vụ từ thiện, xuất du, những buổi xem phim Kinh Thánh, phim Giáo Dục... Sau mỗi buổi hoặc mỗi chuyến đi như thế, cả lớp sẽ họp mặt với nhau để lượng giá, trao đổi, chia sẻ và được Giáo Lư Viên hỗ trợ, sẽ cùng nhau rút ra một chân lư Tin Mừng cần lănh hội.

Được như vậy, nội dung Giáo Lư sẽ khắc họa sâu xa trong tâm hồn, và được biến thành “sự sống” cụ thể nơi mỗi em.

Học đi đôi với hành, kiến thức ḥa nhập với cảm nhận, các em sẽ thật sự gặp gỡ Đức Ki-tô, đến gần với Thiên Chúa hơn, đồng thời lại nhận ra rất rơ chiều kích tha nhân và sự hiệp thông trong Giáo Hội qua những bạn học cùng lớp cũng như qua tha nhân mà các em tiếp xúc, đặc biệt là “người nghèo”.

IV. KẾT LUẬN:

Xin nhắc lại, mục tiêu ở đây chính là giúp học viên gặp gỡ Đức Ki-tô, hiểu biết, yêu mến và sống theo Lời của Người. Do vậy, các phương pháp nêu trên chỉ mang ư nghĩa chuyển tải và hỗ trợ, đừng quá lệ thuộc.

Cũng xin nhớ là không có phương pháp nào là chuẩn mực và lư tưởng cho mọi Giáo Lư Viên, mọi độ tuổi các em và trong mọi lúc, mọi trường hợp, do vậy, dùng phương pháp nào đi nữa th́ cũng không miễn chước cho mỗi Giáo Lư Viên khỏi việc tự ḿnh khao khát t́m hiểu, cầu nguyện và sống Lời Chúa.

 

Bài 8

Nghệ Thuật Đặt Câu Hỏi Giáo Lư

Đặt câu hỏi là một nghệ thuật, nhất là các câu hỏi về Giáo Lư. Dạy Giáo Lư không phải là dạy một mớ kiến thức mà là đưa học sinh đến kết hợp cùng Đức Kitô. V́ thế một Giáo Lư viên phải biết đặt những câu hỏi thế nào để giúp các em suy tư, khám phá và cảm nhận Chân Lư của Thiên Chúa dưới dạng hội thoại nhiều chiều qua lại. Các câu hỏi luôn được đặt ra với mục đích khơi gợi, từ từ từng lớp một, sẽ “bóc vỏ” vấn đề cho đến khi đạt được điểm ṇng cốt của chân lư chúng ta muốn tŕnh bày.


NGHỆ THUẬT ĐẶT CÂU HỎI GIÁO LƯ


I. DẪN NHẬP:

Giảng dạy Giáo Lư không phải là áp đặt một chiều những giáo điều cứng nhắc vào đầu người học, nhất là người học ở đây lại là trẻ em. Đây là cả một tiến tŕnh mời gọi cùng suy tư, khám phá và cảm nhận Chân Lư của Thiên Chúa dưới dạng hội thoại nhiều chiều qua lại.

Do vậy, các câu hỏi luôn được đặt ra với mục đích khơi gợi, từ từ từng lớp một, sẽ “bóc vỏ” vấn đề cho đến khi đạt được cốt lơi. Đây là cả một nghệ thuật tinh tế mà các Giáo Lư Viên cần được chuẩn bị và đào tạo kỹ lưỡng.

II. PHÂN LOẠI CÁC DẠNG CÂU HỎI:

1.   Khi soạn bài:

Giáo Lư Viên nên soạn sẵn trong giáo án các câu hỏi để giúp triển khai từng bước nội dung Giáo Lư. Câu hỏi không nên bao hàm vấn đề quá lớn, quá rộng, nhưng đi theo hướng quy nạp, dẫn dắt từ cái dễ hiểu, gần gũi, từ các ṿng ngoài mà xoáy dần vào cốt lơi vấn đề.

Mỗi câu hỏi đều đă được dự đoán câu trả lời, hoặc tiên liệu các hướng trả lời theo tầm hiểu biết và suy nghĩ của các em. Ở giữa mạch các câu hỏi, nên có thêm một ít thông tin mới, những minh họa sống động để “gút” từng chặng vấn đề, rồi lại nêu một câu hỏi tiếp theo, mở sang một chặng khác.

Ví dụ: “Trong thực tế, theo các em, người ta cần ǵ để sống ? ( Cần thức ăn và nước uống ) Đúng rồi, theo các thí nghiệm khoa học, người b́nh thường có thể nhịn ăn tới 30 ngày, nhưng nhịn uống th́ tối đa chỉ được 7 ngày... Vậy, nước quan trọng lắm. Thế, theo các em, ở Việt Nam chúng ta, nước có dễ kiếm không ?”... Cứ thế dẫn vào chất liệu nước được dùng trong Bí Tích Thánh Tẩy.

2.   Khi kiểm tra miệng:

Giáo Lư Viên cần chuẩn bị các câu hỏi để kiểm tra miệng bài Giáo Lư đă học. Mục đích việc kiểm tra không phải để “truy bài” và cho điểm như ở trường Phổ Thông, nhưng là để giúp các em củng cố những ǵ đă học trong các buổi trước, từ đó dẫn nhập, móc nối sang nội dung Giáo Lư bài sắp học.

Câu hỏi loại này càng giúp các em hiểu bài thêm ( question de compréhension ), nó không cần được các em trả lời thuộc ḷng làu làu y như nhau, nhưng lại vận dụng đến trí hiểu và cảm nhận riêng của mỗi em.

Ví dụ: Các em có nhớ Chúa Giê-su đă nói như thế nào về Ngôi Nhà của Người không ?...Thế c̣n Nhà Cha của Người ?...Thế nào là nhà cầu nguyện ?... Trong Kinh Thánh, em có nhớ Chúa Giê-su đă làm ǵ để chấn chỉnh Đền Thờ Giê-ru-sa-lem ?... Hiện nay, em nào có thể cho biết địa chỉ hộ khẩu thường trú hiện nay của Chúa Giê-su ?

3.   Khi giảng bài:

Nếu đă hiểu giảng dạy là một cuộc đối thoại hai chiều hoặc hội thoại nhiều chiều giữa Giáo Lư Viên và các em, th́ việc đặt các câu hỏi là cả một nghệ thuật.

Dựa vào các câu hỏi đă soạn sẵn trong giáo án, Giáo Lư Viên gợi ra cho các em những hướng suy nghĩ, tưởng tượng, hồi nhớ, lư luận và cảm nhận. Từ đó các em có thể trả lời từng chặng một, để dần dần khai phá nội dung Giáo Lư với sự giúp đỡ của Giáo Lư Viên. Các câu hỏi cần gần gũi với thực tế đời sống, với ngôn ngữ thông dụng, có thể mang một chút dí dỏm nhưng không nên tầm thường và thô tục.

Cũng đừng nên quá cứng ngắc dựa thật sát vào những ǵ đă soạn, mà nên uyển chuyển tận dụng ngay những tin tức trong xă hội, những t́nh huống vừa xảy ra để đặt câu hỏi. Ví dụ: “Ban năy, chắc những em đến lớp sớm khoảng 15 phút, đă chứng kiến một tai nạn ngay trước cổng Nhà Thờ, vậy...” Hoặc “Hôm qua, chúng ta vừa tham dự Lễ Tro, vậy, em nào có thể cho biết...”

4. Khi tổ chức thi:

Giáo Lư Viên cũng cần biết cách soạn các câu hỏi cho các bài thi Giáo Lư. Cuối một loạt bài, hoặc cuối học kỳ, cuối năm học, hay nhất là cho các em một câu hỏi gợi ư viết một bài cảm nhận, trong đó có thể đúc kết được nhiều vấn đề hiểu biết đă được hệ thống hóa, có liên hệ đến Giáo Hội hiện tại, đến đời sống bản thân các em. Do vậy, bài làm dứt khoát không nên chấm điểm và xếp hạng, chỉ nên có những lời phê tích cực, khuyến khích.

Ví dụ: “Các em hăy kể lại một câu truyện về Ḷng Mến mà em đă nghe kể ở lớp, hoặc chính em đă gặp trong đời sống. Em cho biết tại sao em lại thích truyện ấy ? Nó gợi đến bài học Giáo Lư nào em đă được học ? Cuối cùng em hăy ghi lại một câu Kinh Thánh có thể soi dẫn những ư tưởng và cảm nhận ấy.

5.    Khi tổ chức Hội Thi Giáo Lư:

Đă là Hội Thi, tức là có sự nỗ lực thi đua giữa các Đội, cần được một Ban Tổ Chức nghiên cứu soạn thảo kỹ lưỡng để câu hỏi người hướng dẫn chương tŕnh ( speaker ) đưa ra phải thật chính xác, không được dị nghĩa hàm hồ, không cố t́nh gài bẫy các em, không gây tranh căi giữa các em với Ban Giám Khảo về nội dung và về số điểm phân định...

Cũng cần lưu ư rằng: các câu hỏi không nên nhắm đến những chi tiết vụn vặt, vô bổ, thậm chí là... lẩm cẩm ! Ví dụ: Đức Giê-su bị treo trên Thập Giá bao nhiêu giờ đồng hồ ? Mặt khác, lại có thể sử dụng những câu hỏi mẹo. Ví dụ: Có mấy Tin Mừng ? ( Chỉ có duy nhất Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô được ghi lại trong 4 sách Tin Mừng ).

Khi nêu câu hỏi, cần chú ư là giọng phải to, dơng dạc, rơ ràng, không cần tạo sự hấp dẫn bằng cách biểu diễn tốc độ nói nhanh ( như thường thấy ở các speakers chương tŕnh Đường Lên Đỉnh Olympia trên đài truyền h́nh ). Nếu cần, phải chuẩn bị các pa-nô, băng giấy, h́nh ảnh được gắn trên bảng để minh họa cho câu hỏi.

III. PHÂN LOẠI CÁC CÂU TRẢ LỜI:

Trong các t́nh huống đặt câu hỏi nêu trên, luôn luôn các Giáo Lư Viên phải trực diện với các câu trả lời của các em để có đáp án và thái độ thích hợp. Có 5 loại câu trả lời như sau:

1.   Câu trả lời hoàn toàn đúng:

Giáo Lư Viên xác nhận ngay là hoàn toàn đúng, khích lệ các em ngay bằng một lời khen đúng mức. Sau đó tiếp tục đào sâu thêm vấn đề bằng một câu hỏi khác khó hơn một chút, đến gần với chủ đề hơn một chút, lấy nền tảng từ câu trả lời vừa có được.

Ví dụ: “Em vừa rồi đă trả lời rất đúng. Quan là nh́n xem; Pḥng là ǵn giữ, lo liệu. Vậy chúng ta nói Thiên Chúa Quan Pḥng có nghĩa là thế nào ? Em nào có thể cho một ví dụ ?... Điều này cho chúng ta biết ǵ về tấm ḷng của Thiên Chúa đối với loài người ?...”

2.   Câu trả lời có phần đúng, có phần sai:

Giáo Lư Viên xác nhận ngay phần đúng, chỉ rơ cho các em phần sai. Nên dùng cách nói tích cực “Các em đă trả lời chưa đúng lắm ở chỗ này... Các em thử nghĩ coi, nếu như các em vừa nói, không thể nào lại...”

Cần mạnh dạn nhận khuyết điểm về phía ḿnh trong câu đă hỏi, nếu v́ thế mà các em đă trả lời có phần chưa chính xác. Sau đó đặt lại câu hỏi một lần nữa cho rơ nghĩa. Điều này giải tỏa ức chế tâm lư nơi các em, lại làm các em nhớ bài hơn.

3.   Câu trả lời hoàn toàn sai:

Giáo Lư Viên nhạy bén nhận định ngay trong đầu những lư do khiến các em trả lời sai. Kiên nhẫn đặt câu hỏi khác, theo một hướng khác, có thể gợi một vài ư phụ để các em có cơ sở t́m ra câu trả lời đúng.

Tuyệt đối không nên dùng cách nói tiêu cực, chế nhạo, quát nạt: “Học đến lớp này mà em c̣n trả lời tệ hại như thế sao ?”

4.   Câu trả lời lạc hướng:

Giáo Lư Viên b́nh tĩnh lắng nghe câu trả lời trọn vẹn của các em, sau đó vui vẻ chỉ ra cho các em thấy đă đi quá xa vấn đề, lạc hướng, đốt giai đoạn. Lập lại câu hỏi, gợi một vài ư để giúp các em xác định vấn đề cần suy nghĩ để trả lời cho chính xác.

Có thể dí dỏm khôi hài một chút để bầu khí lớp được thư giăn thoải mái, các em sẽ dễ dàng tái vận dụng óc suy nghĩ và lư luận.

5.   Câu trả lời vượt ngoài dự đoán:

Luôn luôn có một vài em thông minh trổi vượt trong lớp nên có thể câu trả lời sẽ rất bất ngờ, nằm ngoài dự đoán của Giáo Lư Viên, đẩy tới một khái niệm độc đáo, giúp cho tiến tŕnh khai phá nội dung Giáo Lư đạt một bước thật xa và thật sâu. Những câu trả lời như thế thường lại đặt ra một câu hỏi ngược lại cho Giáo Lư Viên và cho cả lớp. V́ thế, Giáo Lư Viên cần b́nh tĩnh, vui hơn là lo.

Ví dụ: Ở một lớp Giáo Lư Khai Tâm miền nông thôn Nam bộ, sau khi Giáo Lư Viên kể truyện ở vườn Địa Đàng, đă đặt câu hỏi: “Sau khi ông A-đam và bà E-và phạm tội hái ăn trái cấm, khi Chúa gọi, họ đă làm ǵ ?” Một em bé 8 tuổi đă hồn nhiên trả lời: “Dạ thưa cô, họ sợ Chúa quá trời nên trốn mất tiêu, rồi chối tội tùm lum. Hổng chừng, nếu bữa đó, Chúa thủng thẳng biểu họ xin lỗi Chúa, th́ họ cũng chịu xin lỗi rồi, có dè đâu mà bị phạt cho khổ sở dữ vậy cô ?”

IV. CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG:

Trong các trường hợp đặt câu hỏi, nhất là khi giảng bài, Giáo Lư Viên nên nhớ 5 nguyên tắc sau đây:

1.      Tránh không đặt quá nhiều câu hỏi, nhưng nên hỏi dưới nhiều dạng khác nhau để có sự phong phú.

2.      Tránh hỏi những câu chỉ cần trả lời có hoặc không, nhưng nên dùng câu hỏi trực tiếp gợi đến tâm tư các em.

3.      Tránh hối thúc, làm gián đoạn câu trả lời, nhưng nên nghe cho trọn vẹn câu trả lời.

4.      Tránh hỏi những câu chỉ cần trả lời vuốt đuôi, nhưng nên đặt câu hỏi chung cho cả lớp, rồi mời gọi một em nào đó giơ tay tự nguyện trả lời. Khi cần thiết lắm mới chỉ định đích danh.

5.      Trong hội thoại, có thể sẽ có nhiều câu trả lời khác biệt nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Cần nắm bắt sự nhạy cảm hoặc dị ứng của một số em, để t́m được ư chung của cả nhóm trước vấn đề vừa nêu, rồi từ đó, cũng lại qua hội thoại mà dần dần phân tích cho các em khám phá ra chân lư.

Xin đơn cử một số câu hỏi có thể đặt cho các em khi tŕnh bày nội dung “Chúa Giê-su hiến dâng mạng sống ḿnh cho chúng ta”:

·         Thường th́ người ta có sợ chết không ?

·         Nhưng cũng có những trường hợp người ta dám liều chết chứ, phải không các em ?

·         Em nào biết một trường hợp có người đă dám liều chết không ? Có ai biết câu chuyện Lê Lai liều ḿnh cứu vua Lê Lợi không ? Hay có em nào đă được đọc truyện “Anh phải sống” của nhà văn Khái Hưng chưa ?

·         Vậy, khi nào th́ người ta dám liều chết ?

·         Chúa Giê-su đă nói: “Không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của người dám hiến dâng mạng sống cho bạn hữu”. Vậy Chúa Giê-su đă làm ǵ trên Thập Giá ?

·         Tại sao Chúa Giê-su lại chịu chết để hiến thân cho chúng ta ?

·         Nếu chúng ta được Chúa Giê-su kể như là bạn hữu của Người, th́ Người hiến thân để làm ǵ cho chúng ta ?

V. KẾT LUẬN:

Đặt câu hỏi là một phương cách để giảng dạy. Biết cách đặt câu hỏi là dễ đạt hiệu quả giảng dạy. Do vậy, đây là cả một nghệ thuật, không thể trong một vài buổi dạy, thậm chí trong một niên khóa Giáo Lư mà chúng ta đă có thể tích lũy được đầy đủ kinh nghiệm để luôn luôn thành công. Cần khiêm tốn nhận ra những điểm c̣n yếu trong việc giảng dạy của ḿnh, cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng trước khi đứng lớp, có dịp thuận tiện là xin dự lớp của các Giáo Lư Viên già dặn lâu năm để học hỏi kinh nghiệm.

 

Bài 9

Bầu Khí Một Lớp Giáo Lư

Dạy Giáo Lư là hướng dẫn các em đi từ đời thường, chuyển dần sang đời sống hiệp thông với Chúa, rồi từ đó lại quay về với đời thường sau khi các em đă gặp Chúa. Cho nên, bầu khí lớp Giáo Lư có nét giống như Nhà Thờ ( nếu là trong pḥng ), có khung cảnh giống như nơi ông Mô-sê, ông Gio-an Tẩy Giả, và chính Chúa Giê-su đă gặp gỡ Thiên Chúa trong sa mạc ( nếu ở ngoài trời ), nhờ đó mới có thể nâng tâm hồn người học lên tới sự thánh thiêng.


BẦU KHÍ MỘT LỚP GIÁO LƯ


I. DẪN NHẬP:

Để giúp các trẻ em có hứng thú khi đến với lớp, và hơn nữa có thể lănh hội sâu xa vững chắc nội dung bài Giáo Lư, từ đó trẻ lại c̣n có thể diễn tả được niềm tin của ḿnh ít là ngay tại lớp, các Giáo Lư Viên cần phải biết tạo bầu khí cho lớp Giáo Lư, phải biết cách tŕnh bày nội dung Giáo Lư, và riêng với trẻ em, c̣n phải biết giúp sinh hoạt một cách sống động vui tươi. Muốn vậy, các Giáo Lư Viên nên chú ư đến các yếu tố vật chất và các yếu tố tinh thần được trân trọng đề nghị sau đây:

II. CÁC YẾU TỐ VẬT CHẤT:

1. Khung cảnh:

Trong thực tế tại các vùng ngoại thành và nông thôn nghèo, khó mà có Trong thực tế tại các vùng ngoại thành và nông thôn nghèo, khó mà có được những pḥng học Giáo Lư lư tưởng như tại một số không lớn lắm các Giáo Xứ tại các đô thị và thành phố. Do vậy ở đây xin mở rộng khái niệm pḥng học Giáo Lư thành khung cảnh Giáo Lư.

Dù thế, ở bất cứ khung cảnh nào, khi mở một lớp Giáo Lư, chúng ta cũng cần ư thức rằng lớp Giáo Lư chính là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người, nên phải có tính cách thánh thiêng. Đây cũng không phải là một lớp học Phổ Thông, v́ Giáo Lư không chỉ là học, cũng không phải là Nhà Thờ, v́ Huấn Giáo khác với Phụng Vụ. Nơi học Giáo Lư có thể được coi như một khung cảnh nằm giữa thế giới bên ngoài và cung thánh Nhà Thờ.

2. Bầu khí:

Dạy Giáo Lư là hướng dẫn các em đi từ đời thường, chuyển dần sang đời sống hiệp thông với Chúa, rồi từ đó lại quay về với đời thường. Quay về nhưng đă khác trước, bởi các em đă gặp Chúa, đă nhận được từ Chúa một vốn liếng Tin Mừng để sống khác hơn, tốt hơn, là con cái của Chúa sâu đậm mật thiết hơn trước.

Cho nên, bầu khí lớp Giáo Lư có nét giống như Nhà Thờ ( nếu là trong pḥng ), có khung cảnh giống như nơi ông Mô-sê, ông Gio-an Tẩy Giả, và chính Chúa Giê-su đă gặp gỡ Thiên Chúa trong sa mạc ( nếu ở ngoài trời ), nhờ đó mới có thể nâng tâm hồn người học lên tới sự thánh thiêng.

III. CÁC YẾU TỐ TINH THẦN:

1. Tâm lư:

Trong mối tương quan xưng hô và ứng xử giữa Giáo Lư Viên và các em cũng đặt ra những vấn đề tâm lư đặc biệt, khác hẳn ở các lớp học Phổ Thông. Chúng ta sẽ không gọi các em là học tṛ. Bởi thật ra bản thân Giáo Lư Viên không phải là người dạy chính thức, mà là chính Đức Giê-su và Thần Khí của Người đang tác động và hướng dẫn.

Do vậy, Giáo Lư Viên nên nói với trẻ em, tùy độ tuổi hai bên mà gọi là "các em", "chúng con", "các bạn" cho thân t́nh gần gũi.

Trong tâm lư trẻ em, có một quy luật là luật Chuyển Hóa, nghĩa là trong quan hệ của các em với Chúa, các em sẽ dùng chính những quan hệ đă có với Giáo Lư Viên. Các em nói với Giáo Lư Viên thế nào th́ cũng thưa với Chúa như vậy. Do đó, thái độ của các em với chúng ta sẽ ảnh hưởng nhiều trên thái độ với Chúa: cách yêu mến, tin tưởng, thân mật, vâng lời...

Chúng ta sẽ là một phần "h́nh ảnh" của Chúa cho các em. Các em sẽ thấy Chúa, gặp Chúa nơi chúng ta.

Và như thế, chúng ta phải hết sức chú ư tu dưỡng và tự huấn luyện tư cách của ḿnh. Chúng ta sẽ tôn trọng các em, trân trọng những lời các em nói, không bao giờ quát tháo, nhiếc móc, trừng phạt, xúc phạm đến phẩm giá các em.

Mở rộng hơn, v́ đă không phải là một lớp học Phổ Thông, nên cũng không cần thiết cho điểm, xếp hạng các em trong lớp. Trong giờ Giáo Lư, thật sự là Giáo Lư Viên sẽ cùng các em lắng nghe Lời Đức Giê-su là Người Anh Cả (Trưởng Tử ), lắng nghe tiếng Thiên Chúa là Cha, rồi tất cả cùng thưa với Người. Các em sẽ nhận ra ḿnh được Chúa yêu và được Giáo Lư Viên là người thay mặt Chúa quư mến ḿnh.

Một quy luật tâm lư khác là luật Chứng Tá. Huấn Giáo dựa trên chứng tá. Giáo Lư Viên chia sẻ chính kinh nghiệm của ḿnh cho lớp. Chúng ta không cần nói nhiều về Đạo, nhưng cần sống Đạo nhiều hơn và chân thật hơn trước mặt trẻ. Khi chứng tá của Giáo Lư Viên có phẩm chất cao, th́ các em sẽ được giáo dục sâu xa hơn.

Nếu thế, có người sẽ thắc mắc: "Thế, chẳng lẽ làm Giáo Lư Viên, tôi phải là Thánh hay sao ?"

Xin thưa, đúng là như vậy, trong thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Chuộc (Redemptoris Missio ), ở chương 8, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô đệ nhị đă vạch ra Linh Đạo của người truyền giáo ( mà Giáo Lư Viên đúng là người truyền giáo ) như sau:

·         Để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn,

·         Theo gương Đức Giê-su Ki-tô, Đấng được sai đến,

·         Yêu mến Giáo Hội và các linh hồn như Chúa Giê-su yêu mến,

·         Và, phải là THÁNH !

Giáo Lư lấy từ Nguồn Sống là Thiên Chúa, Giáo Lư lấy từ Nguồn Sống là Thiên Chúa, được truyền đạt đến các em qua chính cách dạy và cách sống của Giáo Lư Viên.

Như vậy, các em vừa được biết Giáo Lư, lại vừa thấy cung cách sống nội dung Giáo Lư ấy một cách sinh động cụ thể nơi Giáo Lư Viên, chắc chắn các em sẽ được khích lệ đi theo hướng sống Tin Mừng ấy.

2. Thinh lặng:

Trẻ không thể gặp Thiên Chúa trong bầu khí ồn ào hỗn độn. Nhiều người cứ lầm tưởng lớp học Giáo Lư cho trẻ em lúc nào cũng phải giống một câu lạc bộ với đủ thứ sinh hoạt tưng bừng náo nhiệt. Ngược lại cũng đừng áp đặt một kiểu thinh lặng bề ngoài, v́ một thinh lặng thụ động th́ không dẫn đến Thiên Chúa.

Chính trong bầu khí thinh lặng nội tâm, những lời tṛ chuyện hội thoại giữa Giáo Lư Viên và các em, giữa các em với nhau lại là điều kiện giúp các em đến với Thiên Chúa, Đấng các em khao khát kiếm t́m xuyên qua nội dung bài Giáo Lư.

V́ thế, Giáo Lư Viên cần khuyến khích trẻ khám phá và yêu quư sự thinh lặng. Thinh lặng là một đức tính tôn giáo. Biết thinh lặng là biết "ở trước mặt Chúa", là biết sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa nói.

3. Vui tươi:

Trong giờ Giáo Lư, Giáo Lư Viên phải tạo được bầu khí vui tươi cởi mở, không biến các em thành những nhà khổ tu, hay những binh sĩ giữ kỷ luật khô khăn một cách răm rắp. Các em có thể hỏi nhau, giải thích cho nhau, khi cần có thể đi lại, hỏi mượn nhau dụng cụ học tập. Nhưng mọi sự phải được diễn ra trong cái trật tự của thinh lặng, dễ thương và hồn nhiên. Ở đâu có Chúa, ở đấy có t́nh yêu và niềm vui.

Giáo Lư Viên phải luôn giúp các em ư thức ḿnh đang sống dưới cái nh́n tŕu mến của Chúa, đến nỗi trước giờ học th́ các em thấy khao khát, cuối giờ học th́ các em vẫn c̣n muốn tiếp tục.

Trong lớp Giáo Lư, không thể có chuyện học để được nhiều điểm, để được đứng nhất khi so kè kèn cựa với các bạn, hoặc thậm chí cũng không chỉ nhắm đến việc thu thập kiến thức càng nhiều càng tốt. Ở đây, các em cùng nhau gặp gỡ Chúa và đi theo Người.

Ở một chiều kích nhân cách Ky-tô giáo, các em c̣n được luyện tập để tôn trọng yêu quư lẫn nhau. Nếu có hai em lỡ đánh nhau, thay v́ chỉ chú ư phân giải ai đúng ai sai, bạn hăy hỏi các em: "Những người con của Chúa có đánh nhau không ? Tay các con, Chúa ban cho là để làm việc tốt, làm những cử chỉ đẹp cho nhau cơ mà !"...

4. Tự do:

Trẻ cần cảm thấy tự do đến với lớp Giáo Lư, tự do ở lại và tự do lắng nghe Giáo Lư Viên tŕnh bày nội dung Giáo Lư. Không nên biến việc học Giáo Lư thành một công việc khổ sai, bị cha mẹ bó buộc, bị cha sở và các ông bà quản giáo khống chế. Đến với Chúa rơ ràng là một lời mời gọi, khuyến khích tự nguyện. Hăy thành thật nói với trẻ: "Các con có muốn gặp gỡ Chúa, th́ các con hăy đến !".

Đức Tin là một hành vi tự do. V́ thế, trong giờ học, hăy để trẻ được tự do nói với Chúa, nói về Chúa trong sự hướng dẫn ân cần và nhẫn nại của Giáo Lư Viên. Không thể đào tạo một tín hữu chân chính bằng cách dọa nạt, trừng phạt hay ra lệnh.

Dứt khoát không nên lấy cớ tránh tác hại lây lan, ảnh hưởng đến việc học của các em b́nh thường để chủ trương tách hẳn các em cá biệt ra, lập một lớp riêng để có chương tŕnh uốn nắn riêng theo kiểu quen làm ở các trường Phổ Thông. Như vậy là đă phản giáo dục hoàn toàn khi phân biệt đối xử, vô t́nh "dán nhăn" xếp loại các em ngỗ nghịch, cứng đầu, khó dạy.

Sư Phạm Giáo Lư th́ khác hẳn, Đức Giê-su bảo: "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi !" ( Mt 9, 13 b ). Hơn nữa ở đây, các em chưa phải là hạng người... tội lỗi. Cho dẫu các em đă phạm pháp trầm trọng, th́ như Thánh Đông Bốt-xcô dặn ḍ các nhà giáo dục: vẫn c̣n ít nhất là 5 % lương tri hướng thiện.

5. Trung thực:

Có thể nói ở nhà trường Phổ Thông, trẻ quen nói dối ! Trẻ nhận ra cứ nói đúng ư thầy cô là được điểm cao, là được thầy cô ưu đăi. Làm bài thi, th́ phải khéo léo khôn ngoan để "quay cóp" hoặc "trúng tủ" mới mong ngoi lên để trúng tuyển, hạ "đo ván" các bạn học. Điểm số, bằng khen và các danh hiệu phấn đấu đạt được thường là dựa trên sự bon chen thủ lợi, thiếu vắng hẳn sự thật thà trong sáng.

Trong Giáo Lư, dứt khoát chúng ta không được để óc thực dụng này tiêm nhiễm. Giữa cuộc hội thoại, trẻ được thẳng thắn nêu thắc mắc, nói lên suy nghĩ và cảm nhận của ḿnh.

Khi làm bài, trẻ được mời gọi viết lại điều đă hiểu và đă yêu mến một cách chân thành, chứ không phải chép nguyên xi toát yếu để làm hài ḷng Giáo Lư Viên.

Khi trẻ trả lời, bạn đừng khen hay chê. Nếu được khen "đúng", lần sau trẻ lại t́m cách trả lời để được khen, dù đó không phải là điều em đă nghĩ và đă hiểu. C̣n nếu chê "sai", trẻ sẽ không bao giờ nói nữa.

Câu vè: "Thấy tốt th́ làm, mà làm th́ làm cho tốt, đừng cốt được khen, đừng quen v́ khen mới làm" thật đáng cho các Giáo Lư Viên chú tâm mời gọi các em sống như một châm ngôn.

IV. KẾT LUẬN:

Trong mọi trường hợp và trong mọi mặt, các bạn Giáo Lư Viên hăy luôn xác tín, hăy tin vào trẻ, hăy tin vào Chúa Thánh Thần, và hăy tin vào chính bạn.

Để đúc kết, xin mượn lời Thánh Phao-lô: "Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. V́ thế, anh em hăy có ḷng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền ḥa và nhẫn nại. Hăy chịu đựng và tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có ḷng mến, đó là mối dây liên kết tuyệt hảo !" ( Cl 3, 13 – 14 )

 

Bài 10

Cầu Nguyện Trong Giáo Lư

Chính Giáo Lư Viên là người trước hết khao khát gặp gỡ Chúa, xin Chúa soi dẫn để ḿnh biết tŕnh bày sứ điệp của Chúa đến cho các em. Kế đó, Giáo Lư Viên truyền lan nỗi khao khát được gặp Chúa sang cho tất cả các em, để về phía các em, các em cũng khao khát xin Chúa mở trí mở ḷng để đón nhận nội dung Giáo Lư mà các em sắp học, đang học và vừa học xong. Cho nên trong Giáo Lư, Cầu Nguyện là điều quan trọng và cần thiết nhất. Nhờ cầu nguyện mà Cháu Thánh Thần tác động tâm hồn các học sinh để các em dễ dàng đón nhận giáo huấn của Chúa. Nhờ cầu nguyện mà Giáo Lư viên ư thức được rằng ḿnh chỉ là công cụ trong tay Chúa và phải kết hợp với Chúa trong mọi việc ḿnh làm.


CẦU NGUYỆN TRONG GIÁO LƯ


I. MỤC ĐÍCH:

Như đă tŕnh bày từ các bài trước, mục đích cuối cùng của việc dạy Giáo Lư là giúp các em gặp gỡ và kết hợp với Chúa. Do đó, cầu nguyện có một vai tṛ hết sức quan trọng trong một buổi Giáo Lư. Có thể nói, cả buổi Giáo Lư phải là một cuộc gặp gỡ Chúa. Chính những phần cầu nguyện ở đầu, ở giữa và ở cuối buổi Giáo Lư giúp các em đi vào cuộc hạnh ngộ tuyệt vời này. Tuy nhiên, mỗi phần cầu nguyện đều có ư hướng và nội dung khác nhau, thích ứng với tŕnh tự của một buổi học Giáo Lư.

II. NỘI DUNG:

Trước khi đi vào ư hướng và nội dung từng phần, thiết tưởng cũng nên nhắc lại những điều kiện thiết yếu cho việc cầu nguyện. Đó là:

1. Khát vọng gặp Chúa:

Chính Giáo Lư Viên là người trước hết khao khát gặp gỡ Chúa, xin Chúa soi dẫn để ḿnh biết tŕnh bày sứ điệp của Chúa đến cho các em. Kế đó, Giáo Lư Viên truyền lan nỗi khao khát được gặp Chúa sang cho tất cả các em, để về phía các em, các em cũng khao khát xin Chúa mở trí mở ḷng để đón nhận nội dung Giáo Lư mà các em sắp học, đang học và vừa học xong.

Điều này thể hiện cả ở việc làm dấu Thánh Giá, ở tư thế lúc cầu nguyện. Hăy thường xuyên nhắc cho các em hiểu ư nghĩa của việc làm dấu, của cử chỉ cúi ḿnh bái lạy. Không nên làm dấu quều quào như... đuổi ruồi, chưa làm dấu kết thúc đă vội làm ngay, nói ngay sang chuyện khác. Giáo Lư Viên phải giúp các em cầu nguyện với cả con người, nghĩa là với tất cả trí nhớ, trí tưởng tượng, tâm hồn và thể xác. Nên dùng những lời và những cử chỉ đơn sơ mộc mạc chân thành.

2. Thời gian gặp Chúa:

Những giây phút cầu nguyện ngay trong buổi học Giáo Lư phải là khoảng thời gian dành trọn cho Chúa, Những giây phút cầu nguyện ngay trong buổi học Giáo Lư phải là khoảng thời gian dành trọn cho Chúa, được Giáo Lư Viên chuẩn bị chu đáo, diễn ra một cách trang trọng, chứ không làm cho có, làm theo thói quen. Cầu nguyện đừng quá ngắn ngủn cộc lốc, gây cảm tưởng là sợ phí giờ. Cũng đừng quá lê thê, tạo ra tâm lư ngán ngẩm hoặc ngột ngạt. Điều này sẽ âm thầm huấn luyện rất hiệu quả cho các em biết cần phải thường xuyên cầu nguyện với Chúa không chỉ trong lớp mà vào mọi nơi mọi lúc trong ngày sống của các em, đặc biệt là trước khi đi ngủ và vừa khi thức dậy, khi vừa lănh nhận một Bí Tích và trước khi ăn cơm.

Cũng cần nhớ rằng: cầu nguyện không phải là đọc kinh liên tục kéo dài, hết kinh này đến kinh khác một cách máy móc. Mỗi kinh nếu được sử dụng đều là những lời cầu nguyện đă được Giáo Hội cô đọng sâu xa ( Kinh Lạy Cha, Kinh Tin Kính, Kinh Kính Mừng, Kinh Tin-Cậy-Mến, Kinh cầu Chúa Thánh Thần, Kinh Cúi Xin Chúa sáng soi... )

3. Lắng nghe tiếng Chúa:

Tâm lư chung của đám đông là sợ sự thinh lặng. Hễ cứ thấy im lặng hơi lâu một chút là sốt ruột, thấy cần phải hát, phải làm một cái ǵ đó ngay.

Đă muốn lắng nghe được tiếng Chúa th́ thầm trong tâm hồn hay được cất lên khi công bố Lời Chúa, rơ ràng là cần phải biết thinh lặng. Trong giây phút cầu nguyện, Giáo Lư Viên phải dành những khoảnh khắc thinh lặng hoàn toàn, không nên nói liên tục đến mức lải nhải dông dài, cầu xin kể lể đủ thứ chuyện mà không có trọng tâm ư chính.

Cần nhớ là một lời cầu nguyện thường có ư cảm tạ, ngợi khen, xin lỗi hoặc xin ơn tùy nội dung bài Giáo Lư gợi ra.

Cũng nên tập cho các em khi dâng lời nguyện tự phát th́ cần nói chậm, to, dơng dạc, rơ ư để cộng đoàn mới có thể hiệp thông với ư nguyện được. Khi kết thúc một lời nguyện, nên thinh lặng một chút rồi thêm câu: "Xin Chúa nhậm lời chúng con..."

Sau những lời nguyện tự phát của các em, Giáo Lư Viên nên đợi tất cả lắng lại một lúc rồi mới dâng lời tổng nguyện kết thúc. Sau đó có thể hát một bài thánh ca phù hợp với nội dung vừa cầu nguyện.

III. CÁC PHẦN CẦU NGUYỆN:

1. Cầu nguyện đầu giờ:

Phút cầu nguyện đầu giờ có mục đích giúp các em đi vào cuộc gặp gỡ với Chúa trong buổi Giáo Lư, bằng cách đặt các em trước sự hiện diện của Chúa. "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, th́ có Thầy ở đấy, giữa họ" ( Mt 18, 20 ).

Hăy giúp các em nhớ lại Lời Chúa mời gọi: "Cứ để trẻ em đến với Thầy..." ( Mc 10, 14 ). Hăy để các em nhận ra một buổi học Giáo Lư chính là thời gian đến với Chúa để học cùng Chúa: "Hăy học với Thầy, v́ Thầy có ḷng hiền hậu và khiêm nhường..." ( Mt 11, 29)

2. Cầu nguyện giữa giờ:

Phút cầu nguyện giữa giờ chính là đỉnh cao của buổi học Giáo Lư, v́ sau khi nghe công bố và giải thích Lời Chúa, sau khi đă tiếp nhận lời mời gọi của Chúa với cả tâm t́nh, các em hẳn có nhiều điều muốn nói với Chúa, muốn đi vào cuộc đối thoại trang nghiêm mà thân t́nh với Chúa.

Như thế, cuộc gặp gỡ giữa các em với Chúa đă được chuẩn bị qua việc công bố và giải thích Lời Chúa, và sẽ được tiếp nối trong phần sinh hoạt tiếp theo sau đó. Nội dung của phút cầu nguyện này là ư chính và tâm t́nh của bài Giáo Lư.

3. Cầu nguyện cuối giờ:

Phút cầu nguyện cuối giờ sẽ giúp các em tŕnh bày với Chúa quyết tâm sống những ǵ đă học. Nếu như phút cầu nguyện đầu giờ giúp các em từ cuộc sống bước vào cuộc gặp gỡ với Chúa, th́ phút cầu nguyện cuối giờ hướng các em đến một cuộc gặp gỡ khác với Chúa ngay trong đời thường. Nhờ đó, toàn bộ cuộc sống các em sẽ là lời cầu nguyện liên lỉ.

IV. KẾT LUẬN:

Cầu nguyện trong Giáo Lư giúp các em nội tâm hóa những giáo huấn của Lời Chúa, chuyển sứ điệp thành hành động cụ thể. Như thế, cầu nguyện gắn Giáo Lư với Phụng Vụ và cuộc sống.

Hăy cẩn thận, đừng để rơi vào một cung cách cầu nguyện mà Đức Giê-su đă nhắc nhở: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa, Lạy Chúa !" là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ những ai thi hành ư muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi..." ( Mt 7, 21 )

 

Bài 11

Phương Pháp Cầu Nguyện Bốn Bước Dành Cho Giáo Lư Viên

Có thể nói: mỗi buổi dạy Giáo Lư là một buổi cầu nguyện với Lời Chúa. Để giúp các em học sinh Giáo Lư đón nhận được chân lư Lời Chúa và đáp trả lại bằng lời cầu nguyện hồn nhiên đơn sơ, chính bản thân Giáo Lư Viên cũng phải là những người chuyên chăm cầu nguyện, biết cách hướng dẫn cho các em cầu nguyện và cùng với các em cầu nguyện trong một bầu khí chân thành trang trọng. Chúng tôi xin giới thiệu một phương pháp cầu nguyện hết sức đơn giản nhưng lại rất dễ đạt hiệu quả chiều sâu tâm linh. Đó là Phương Pháp Cầu Nguyện 4 Bước của Ḍng Chúa Cứu Thế.


PHƯƠNG PHÁP CẦU NGUYỆN 4 BƯỚC  DÀNH CHO GIÁO LƯ VIÊN


Có thể nói: mỗi buổi dạy Giáo Lư là một buổi cầu nguyện với Lời Chúa. Để giúp các em học sinh Giáo Lư đón nhận được chân lư Lời Chúa và đáp trả lại bằng lời cầu nguyện hồn nhiên đơn sơ, chính bản thân Giáo Lư Viên cũng phải là những người chuyên chăm cầu nguyện, biết cách hướng dẫn cho các em cầu nguyện và cùng với các em cầu nguyện trong một bầu khí chân thành trang trọng.

Nên chăng, ngoài những buổi họp nhau soạn Giáo Án Giáo Lư, những buổi đến lớp dạy Giáo Lư, những buổi sinh hoạt gây t́nh đoàn kết thân ái và trao đổi kinh nghiệm giữa các Giáo Lư Viên với nhau, Ban Giáo Lư của Giáo Xứ cũng cần phải tổ chức cho các Giáo Lư Viên họp nhau cùng cầu nguyện ít là hàng tuần.

Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu một phương pháp cầu nguyện hết sức đơn giản nhưng lại rất dễ đạt hiệu quả chiều sâu tâm linh. Đó là Phương Pháp Cầu Nguyện 4 Bước của Ḍng Chúa Cứu Thế, mà chúng tôi đă có dịp thử nghiệm và phổ biến tại Đại Chủng Viện Hà-nội và một số Giáo Xứ ở miền Nam lẫn miền Bắc trong Năm Thánh 2000.

I. DẪN NHẬP:

Cầu nguyện trước tiên là hiện diện trước Chúa và Cầu nguyện trước tiên là hiện diện trước Chúa và để Chúa ở với ḿnh. Cầu nguyện là đối thoại với Chúa bằng môi miệng, trí óc, linh hồn, và bằng cả chân, cả tay, cả thân ḿnh nữa. Đặc trưng của đối thoại là Nói và Nghe. Nếu chỉ nói không, th́ mới là thuyết tŕnh hay giảng day, nhưng chúng ta không có ǵ để dạy Chúa cả. C̣n nếu chỉ nghe không, mà không nói lại bằng lời hay hành động, th́ thật ra chưa nghe.

Như đôi trai gái lúc đầu mới làm quen, ai cũng muốn nói để chứng tỏ, để cho người kia hiểu về ḿnh – ḿnh là người tốt. Nhưng đến lúc đă thân nhau hơn, người ta bắt đầu có nhu cầu nghe nhau, để hiểu người bạn của ḿnh, để thấu cảm với bạn ḿnh. C̣n khi đă yêu nhau mănh liệt th́ việc nói hay nghe không c̣n quan trọng bằng sự hiện diện, có mặt với nhau càng nhiều càng tốt.

Đó là khởi đầu của dấu hiệu muốn trở nên và có khả năng trở nên "một thịt với nhau". Cầu nguyện cũng là một cuộc tâm giao của hai người yêu nhau, nên cũng có tiến tŕnh đi khá giống: nói – nghe – hiện diện.

II. TIẾN TR̀NH:

Phương Pháp Cầu Nguyện 4 Bước sẽ giúp bạn gặp gỡ Thiên Chúa, nhất là Chúa Giê-su như một người bạn, một người t́nh. Nếu bạn có ḷng khát khao điều này, xin hăy dừng lại đôi phút mời Chúa Giê-su đến với bạn ngay lúc này.

 "Lạy Chúa Giê-su, con mời Chúa đến với con trong giờ này và ngay bây giờ ! Xin Chúa chạm vào mắt con để con thấy Chúa trên các gịng chữ này. Xin Chúa chạm đến tay con, chạm đến tim con, để con như được ôm lấy Chúa. Xin Chúa chạm vào toàn thân con để toàn thân con có Chúa và xin cho con ca ngợi Chúa".

Bạn hăy hát cho Chúa nghe một bài hay chỉ một đoạn của một bài ca chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa mà bạn thuộc.

Như vậy, từ giờ phút này, chúng tôi nhân Danh Chúa Giê-su Ki-tô và quyền năng Phục Sinh của Người là Chúa Thánh Thần chúc lành cho bạn. Xin Máu Thánh cứu độ của Người xua đuổi mọi âm mưu ma quỷ là các trạng thái lo lắng, hoài nghi, bực bội, căng thẳng, nóng bức hay ớn lạnh và nhất là mặc cảm tội lỗi đang hiện diện trong tâm trí, trong thân xác của bạn và trong căn pḥng này ra khỏi bạn và nơi bạn đang có mặt.

Bạn hăy công bố: "Chỉ có Chúa và những ǵ thuộc về Ngài mới được hiện diện trong con người con và trong căn pḥng này !

"Tên của 4 Bước giúp bạn thiết lập tương quan với Chúa gồm có: MIỆNG ĐỌC - TÂM SUY - KHẨN NGUYỆN - DẤN THÂN.

Bước 1: MIỆNG ĐỌC

Bạn sẽ đọc cái ǵ ? Xin bạn vui ḷng luôn luôn có bên ḿnh quyển Kinh Thánh Tân Ước nhỏ, để bất cứ lúc nào bạn muốn gặp gỡ Chúa Giê-su theo cách này, bạn sẽ không bị cản trở. Bạn hăy mở Kinh Thánh ra, chọn một đoạn ( có thể chỉ có một câu hoặc nhiều hơn cũng được ). Lưu ư, bạn có thể chọn các đoạn Kinh Thánh giúp cầu nguyện theo những cách sau:

Mở sách và chọn ngẫu nhiên: bất kỳ đoạn nào mở ra và gây chú ư cho mắt bạn trước nhất.

Mở sách và chọn theo các bản chỉ dẫn: hiện nay có rất nhiều bản chỉ dẫn ư cho mắt bạn trước nhất. bản chỉ dẫn đọc Kinh thánh theo hoàn cảnh. Nếu bạn đang hân hoan th́ chọn đoạn nào và nếu đang cô đơn th́ chọn đoạn nào.

Mở sách và chọn theo Lịch Phụng Vụ: trên Lịch Công giáo các địa phận đều có ghi ngày nào cần đọc đoạn nào.

Trước khi vào bước một, bạn nên mơi Chúa Giê-su đến với ḿnh, tương tự như đă đề nghị ở phần trên. Kế đó bạn bắt đầu đọc sau một, hai phút thinh lặng. Cách đọc: Đọc bằng miệng, sao cho tai nghe được tiếng ḿnh đọc. Nếu đọc một ḿnh bạn, bạn lập lại một lần nữa như thể đang nuốt lấy từng chữ, từng lời Thánh Kinh.

Nếu đọc trong một Nhóm nhỏ ( 8 người trở xuống ), bạn nhờ một người thay mặt cộng đoàn công bố lại bản văn Lời Chúa một cách chậm răi, trong khi đó những người kia nghe như thể đang nuốt lấy từng chữ, từng lời Thánh Kinh. Nếu Nhóm đông hơn 8 người, có thể nhờ 2 người lập lại.

Sau khi đọc xong, bạn thinh lặng khoảng một phút, rồi đọc lên một chữ, hay những chữ mà bạn c̣n nhớ và đă được đánh động. Bạn lập lại chậm răi ba lần. Ví dụ: "Tôi biết chiên của tôi - Tôi biết chiên của tôi - Tôi biết chiên của tôi" ( x Ga 10, 14 ).

Sau khi xướng lên lời Thánh kinh này, bạn hăy cảm tạ Chúa đă đến với bạn, đang chạm đến bạn và đă ban cho bạn một Lời Sống.

Khi có nhiều người, th́ người này xướng xong, mọi người lắng lại vài giây rồi người khác tiếp tục xướng lên. Lưu ư, trước khi xướng bản văn Thánh Kinh, bạn nên đọc xuất xứ, để mọi người dễ hiệp thông, ví dụ: "Câu 14".

Nếu bạn thấy Lời Thánh Kinh đánh động bạn đă được người khác xướng rồi bạn vẫn cứ xướng lại, v́ điều đó cần cho cộng đoàn và cho chính bạn, bởi cũng một LỜI, nhưng Chúa sẽ nói những điều cụ thể khác nhau cho từng người và cho mỗi hoàn cảnh riêng biệt.

Bạn cần liên tục cảm tạ Chúa cho ḿnh và cho những người đang cầu nguyện chung với bạn, v́ Chúa thương chúng ta, Người đang viếng thăm chúng ta và ban cho chúng ta Sự Sống.

Bước 2: TÂM SUY

Bạn đừng vội đặt ra câu hỏi: "Những câu, những chữ Lời Chúa vừa đọc, vừa đánh động bạn có ư nghĩa ǵ ?" Nhưng hăy thật thư giăn và thả lỏng tâm trí, để Chúa có thêm cơ hội chạm vào cuộc đời bạn, nhất là chạm vào những khoảng trống tâm linh sâu thẩm.

Sau hai, ba phút thinh lặng như thế, bạn bắt đầu lập lại những câu, những chữ mà lúc năy bạn đă được đánh động, một cách chậm răi nhiều lần và chỉ cho một ḿnh bạn nghe là đủ.

Kế đó, bạn hăy kéo câu, chữ Lời Chúa đó vào chính cuộc đời của bạn.

Ví dụ: "Tôi biết chiên của tôi... Chúa biết chiên của Chúa... Chúa biết con... Chúa biết con đang buồn... Chúa biết con đang bất lực trước một thử thách lơn lao... Chúa biết tim con đang xao động... Chúa biết ḷng con đang hoài nghi... Chúa biết con... Chúa biết hoàn cảnh gia đ́nh con... Chúa biết sự đổ vỡ sắp xảy ra trong nhà con... Chúa biết chiên của Chúa... "

Sau đó, bạn ước ao được bàn tay cứu độ của Chúa Giê-su chạm đến từng vấn đề đó của bạn.

Ví dụ: "Chúa biết con, v́ con là chiên của Chúa... Chúa biết gia đ́nh con, v́ là gia đ́nh con cũng thuộc về đàn chiên của Chúa... Xin bàn tay cứu độ của Chúa chạm đến tim con, chạm đến mạch máu của con... Xin bàn tay cứu độ của Chúa chạm đến và ǵn giữ gia đ́nh con..."

Bước 3: KHẨN NGUYỆN

Lúc này, bạn hăy mở miệng cầu nguyện lớn tiếng cho tai bạn nghe được giọng nói của ḿnh.

Bạn hăy cầu nguyện với Chúa trong tâm t́nh phó thác tuyệt Bạn hăy cầu nguyện với Chúa trong tâm t́nh phó thác tuyệt đối, tức là ngoài Chúa ra không ai làm được việc đó, kể cả bạn. Tiền bạc, uy tín của địa vị hay t́nh cảm cũng không giải quyết được. Chỉ có một ḿnh Chúa Giê-su mới có thể giải quyết được mà thôi.

Bạn đừng sợ hay ngại ngùng không biết nói ǵ khi cầu nguyện lớn tiếng, v́ mọi lời nguyện đều hướng về Chúa, mà Chúa th́ có vô số lời hay ư đẹp rồi, nên Người không cần phải nghe thêm một lời nào theo cách trau chuốt của chúng ta thường dùng để nói hoa mỹ với nhau, nhưng Người cần tấm ḷng chân thật.

Nhất là, thánh Phao-lô đă dạy chúng ta: "Có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, v́ chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả" ( Rm 8, 26 ).

Do đó, bạn hăy nói ngay với Chúa điều ǵ chợt đến lúc ấy với bạn, bất kể đó là điều ǵ, chỉ với một ư định rơ ràng là khẩn xin và ngợi khen Chúa.

Ở phần này, bạn cũng có thể sám hối một cách đặc biệt, xin được giải thoát khỏi những ràng buộc của sự dữ ẩn nấp trong cơ thể bạn dưới các h́nh thức bệnh tật, nghiện ngập, mệt mỏi, lo sợ, oán thù, hoài nghi... Rồi bạn hăy nói với Chúa quyết tâm tha thứ và làm ḥa của bạn với Chúa và với những người nào đó cụ thể.

Bạn hăy xin Mẹ Ma-ri-a Hằng Cứu Giúp, thánh An-phong, Thánh Bổn Mạng và các Thánh khác mà bạn đặc biệt quư mến cầu nguyện cho bạn, để bạn có thể sẵn sàng để Chúa Giê-su tự do sử dụng bạn, ngơ hầu Người sẽ thực hiện điều bạn khẩn xin ngay nơi thân xác bạn và tha nhân.

Bước 4: DẤN THÂN

Nếu quyết tâm chỉ mới là một ước muốn thực hiện đến cùng một điều tốt nào đó ( lư trí và ư chí ), th́ dấn thân sẽ bao gồm trọn vẹn quyết tâm và c̣n đ̣i phải có thêm ít là một hành vi, hành động cụ thể nào đó để thực hiện quyết tâm ấy. Ở đây, bạn sẽ dấn thân theo lời mời gọi mà trong suốt thời gian cầu nguyện vừa qua bạn đă được đánh động, thúc đẩy.

Khi nhận ra điều này, bạn hăy mau mắn thực hiện mà đừng lo sợ khả năng có phù hợp với quyết tâm hay không, v́ lúc đó chính Chúa sẽ giúp bạn, sẽ làm thay cho bạn.

III. KẾT LUẬN:

Khi nào bạn chưa thực hiện xong phần Dấn Thân, nghĩa là giờ cầu nguyện của bạn chưa kết thúc; nghĩa là Chúa Giê-su vẫn đang hiện diện cách đặc biệt với bạn để nghe bạn tâm t́nh.

Như vậy, mặc dầu bạn chỉ dành ra 15 phút mỗi ngày và đều đặn như vậy, nhưng sẽ có những ngày bạn được gắn bó với Chúa liên tục cả ngày. Nếu bạn là người Ki-tô hữu thực thụ, chắc bạn cũng có một mong ước như người viết bài này là được Chúa Giê-su kết chặt cuộc đời Người với cuộc đời ḿnh. Vậy đây là một lời đề nghị, một cách thức mà nhiều bạn trẻ đă đón nhận và đă gặp gỡ Đức Ki-tô muốn được chia sẻ với bạn.

Kinh nghiệm cụ thể cho thấy, nếu một Nhóm hoặc mỗi cá nhân trung thành thực hiện theo Phương Pháp này trong khoảng 49 ngày, th́ đến ngày thứ 50, Nhóm hoặc cá nhân có thể nhận được ân huệ Chúa ban một cách diệu kỳ.

IV. TÓM LƯỢC:

Cuối cùng, để giúp người hướng dẫn ( c̣n gọi là Linh Hoạt Viên Cầu Nguyện ) cho một Nhóm nhỏ khoảng từ 10 tới 30 người, xin tóm lược tất cả Phương Pháp Cầu Nguyện 4 Bước theo một tŕnh tự như sau:

Bước 1: MIỆNG ĐỌC

·         Tập họp chung tại một nơi thích hợp.

·         Chân thành mời Chúa đến với Nhóm.

·         Hát chung một bài Thánh Ca ngắn.

·         Thinh lặng ít phút.

·         Cùng mở Tân Ước, đọc chung đoạn Lời Chúa đă chọn.

·         Nhờ thêm 2 người nữa lần lượt đọc lại đoạn Lời Chúa.

·         Thinh lặng ít phút. 

·         Mời tất cả ai được đánh động bởi câu, chữ nào trong đoạn Lời Chúa vừa đọc, xướng lên chậm răi 3 lần kèm theo xuất xứ.

Bước 2: TÂM SUY

·         Người hướng dẫn nói với Chúa thay cho cả Nhóm.

·         Mỗi người cũng thầm nói với Chúa niềm ước ao được chính Lời Chúa vừa xướng lên, chạm đến từng vấn đề riêng của ḿnh, chạm đến cuộc đời ḿnh.

Bước 3: KHẨN NGUYỆN

·         Người hướng dẫn khẩn nguyện lớn tiếng thay cho cả Nhóm. Mọi người hiệp ư, hoặc có thể thầm khẩn nguyện trong ḷng cho một vấn đề riêng của bản thân.

·         Sau đó, lần lượt mỗi người cũng có thể khẩn nguyện lớn tiếng trước cả Nhóm, nếu thấy bản thân cần được cả Nhóm cầu nguyện giúp cho ḿnh.

·         Có thể nài xin với Đức Ma-ri-a, Thánh Bổn Mạng của mỗi người, Thánh Bảo Trợ của Nhóm ḿnh cầu bầu cùng Chúa.

Bước 4: DẤN THÂN

·         Người hướng dẫn thưa với Chúa một quyết tâm chung của Nhóm, hướng tới một việc dấn thân cụ thể: hoán cải một lỗi lầm, ḥa giải một chuyện bất ḥa, sống bác ái...

·         Mỗi người cũng thầm hứa với Chúa sẽ quyết tâm và dấn thân làm một việc cụ thể nào đó mà ḿnh được Chúa soi dẫn.

·         Nếu có mặt một Linh Mục, mời ngài thánh hóa và chúc lành.

·         Hát chung một bài Thánh Ca, làm dấu Thánh Giá kết thúc.

 

 

Bài 12

T́m Hiểu Tâm Lư Trẻ Em - Phần 1

Muốn dạy Giáo Lư cho các em hiểu và đưa các em đến liên hệ với Đức Kitô, người Giáo Lư viên phải hiểu tâm lư trẻ em. Phần này tŕnh bày tâm lư học sinh từ tuổi ấu nhi (0-3 tuổi) qua tuổi nhi đồng (3-7 tuổi) đến tuổi thiếu nhi (7-11 tuổi).


T̀M HIỂU TÂM LƯ TRẺ EM - PHẦN 1


I. DẪN NHẬP VỀ TÂM LƯ HỌC:

Từ lâu, trên thế giới, khoa Tâm Lư Học đă phát triển, củng cố và đem lại nhiều kết quả to lớn cho hầu như tất cả các ngành khoa học xă hội và tự nhiên của nhân loại. Tâm Lư Học được định nghĩa nhiều cách để chúng ta có thể thấu đáo được hết mọi khía cạnh như sau:

Đó là một khoa học t́m hiểu về ư thức con người để biết ḿnh biết người, đường biết ứng xử cho hợp t́nh hợp lư, đường biết sống một cách hài ḥa và sung măn, để trưởng thành tốt đẹp ứng với từng lứa tuổi, và tránh được những thất bại trên đường đời.

Đó là một khoa học về con người với những suy tư và hành động, cảm nhận và tương tác, bên trong và bên ngoài, chiều sâu và chiều rộng. Tất cả đều được quan sát, mô tả và giải thích, đối chiếu với thực tế kinh nghiệm chung của xă hội, của nhân loại.

Như thế, tâm lư chính là cuộc sống con người với muôn h́nh muôn dạng, đầy bí nhiệm, rất khó khám phá và không bao giờ có thể hiểu cho trọn vẹn, bởi đối tượng của nó là con người, luôn chuyển biến, lớn lên và triển nở về thân xác lẫn tinh thần.

II.  T̀M HIỂU TÂM LƯ TRẺ EM:

Trong chừng mực của vấn đề giáo dục thanh thiếu niên và thiếu nhi, các nhà sư phạm và giáo dục cũng sẽ không thể nào bỏ qua, không t́m hiểu Khoa Tâm Lư Học đặc biệt đối với từng lứa tuổi các em.

Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu dựa vào những thành quả quư giá, tích lũy từ bao thời, của bao người cũng như chính các nét đặc thù truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta nữa.

Ngoài ra, mỗi người chúng ta cũng nên đối chiếu lại với chính kinh nghiệm thời thơ ấu và niên thiếu của ḿnh, những ǵ ḿnh đă bị gánh chịu thiệt tḥi, cũng như những ǵ ḿnh đă may mắn được đón nhận. Xin hăy luôn nhớ: bản thân mỗi người chúng ta đều từng là một đứa trẻ nhỏ. Vậy, xin đừng biến các trẻ nhỏ hôm nay thành “những ông cụ non”, các “bà thánh nhỏ”, nghĩa là bắt các em phải rập khuôn về tâm lư và luân lư theo kiểu người lớn, một điều mà ngày xưa chính chúng ta đă bực bội khó chịu và âm thầm đề kháng mỗi khi bị áp đặt !

Sau đây, chúng ta lần lượt t́m hiểu tâm lư các em ở từng độ tuổi thể lư.

III. LỨA TUỔI ẤU NHI ( 1 – 3 tuổi):

Trong thực tế, ở độ tuổi này, các em vẫn c̣n hoàn toàn thuộc về ṿng tay chăm sóc và giáo dục của bố mẹ và anh chị trong gia đ́nh các em. Thế nhưng, các Huynh Trưởng và các Giáo Lư Viên vẫn cần nghiên cứu thấu đáo để có thể hiểu được các diễn biến tâm lư nơi các em đến sinh hoạt với ḿnh sau này, bởi nơi mỗi một con người luôn có một sự phát triển liên tục từ độ tuổi này sang độ tuổi khác, cái trước làm tiền đề cho cái sau kế thừa.

Với lứa tuổi Ấu Nhi. Các nhà chuyên môn gọi giai đoạn tâm lư này là Première Enfance, bởi lư do khởi từ đây, đứa bé bắt đầu “thôi nôi”, lẫm chẫm tập đi những bước đầu đời, đưa tay sờ nắm bất cứ vật ǵ nằm trong tầm tay, dơi mắt khám phá những khung cảnh tương đối xa hơn và hoàn toàn mới lạ, phạm vi tương quan tiếp xúc với tha nhân cũng rộng hơn chứ không chỉ dừng lại nơi ṿng tay người mẹ.

Do vậy, cần chuẩn bị cho bé một không gian và môi trường an toàn, khoáng đăng, không ô nhiễm về tiếng động và khí thở, có nhiều đồ vật tṛn trĩnh, dễ thương, nhiều màu sắc hài ḥa mà hấp dẫn.

Ngoài ra, bầu khí tương quan chung quanh phải nhất thiết là sự tŕu mến, yêu thương, hạnh phúc. Giấc ngủ của các em có thể được nâng niu bằng âm nhạc, nhất là những điệu ru hời dân gian Việt Nam và nhạc cổ điển êm dịu của Tây phương...

Tóm lại, đây là thời kỳ của những giác động ( sensori motrice) mở ra cho các em những tiếp xúc vật chất và những tương quan nhân vị, chủ yếu dựa vào ngũ giác quan ( nh́n, nghe, ngửi, nếm, sờ) vượt trội hơn hẳn giai đoạn bé c̣n nằm trong nôi hoặc được bồng ẵm trên tay của người lớn.

Riêng đối với việc chuẩn bị giúp thức tỉnh những tâm t́nh tôn giáo lành mạnh nơi các em, chúng ta có thể t́m đọc cuốn “L’Éveil Religieux du Tout Petit” của Chanoine Boyer.

Cũng cần phải nh́n nhận rằng: điều ǵ đă là khởi đầu th́ tất yếu sẽ là nền tảng hết sức quan trọng cho tương lai. Ngay trước lứa tuổi Ấu Nhi này, các nhà chuyên môn đang mở ra một giai đoạn ngược về thời kỳ đứa bé c̣n nằm trong bụng mẹ để khởi sự việc giáo dục một cách gián tiếp bằng khoa Thai Giáo.

IV. LỨA TUỔI NHI ĐỒNG  ( 3 – 7 tuổi)

Bước vào giai đoạn này, các nhà chuyên môn gọi là giai đoạn Deuxième Enfance, bởi các em có thể đă được gửi vào Nhà Trẻ ( trước đây gọi là Vườn Trẻ – Jardin d’ Enfants) và sau đó bắt đầu vào các lớp Mẫu Giáo Mầm Chồi Lá.

Tại các nước tiên tiến, phong trào Hướng Đạo mới đây đă khai sáng thêm ngành Nhi, đặt trước các ngành Aáu, Thiếu, Kha, Tráng vốn đă có từ lâu. Riêng ở Việt Nam, việc thử nghiệm ngành Nhi cũng đă được khởi sự.

Gạt ra ngoài lư do không đáng khuyến khích là bố mẹ các em chỉ muốn đùn cho xă hội phải lo thay để ḿnh c̣n rảnh tay làm ăn và giải trí, th́ phương cách sớm cho các em đến trường cũng có những giá trị tích cực.

Đây là dịp để các em được mở rộng tiếp xúc nhiều hơn nữa với thế giới chung quanh muôn màu muôn vẻ, đồng thời các em được các cô bảo mẫu, các thầy cô giáo Mẫu Giáo có lương tâm tập tành cho các em một số những đức tính, những thói quen tập quán tốt.

Thế nhưng, ngoài thời gian đi Nhà Trẻ hoặc Mẫu Giáo, th́ không gian, thời gian và bầu khí sống chính yếu của các em vẫn là gia đ́nh. Đây là thời kỳ các em phải trải qua một cơn khủng hoảng tâm lư tương đối nhẹ nhàng để tự củng cố cái Tôi ( le Moi) của ḿnh.

Các em bắt đầu ư thức được rằng ḿnh có thể cưỡng chống lại tất cả những ǵ xem ra người lớn muốn áp đặt lên tự do của ḿnh. Sau một đôi lần thành công, các em sẽ t́m cách tận dụng khả năng này, sao cho có lợi nhất cho bản thân, không cần quan tâm rằng điều đó có lợi hay có hại cho ḿnh và cho người khác.

Trí khôn của các em chuyển dần từ chỗ tiền quan niệm ( précon-ceptuelle) c̣n khá mơ hồ, sang thế trực giác ( intituive) một cách cụ thể.

Cũng trong giai đoạn này, các em thường tự t́m hiểu hoặc đặt ra cho người lớn những câu hỏi “tại sao?” có chủ ư vụ lợi ( utilitaire) và có chủ đích ( finaliste) rằng điều đó, cái đó “để làm ǵ vậy?”

Do vậy, người lớn cần kiên nhẫn để trả lời các câu hỏi loại này, đồng thời hướng các em đến những khái niệm bớt vị kỷ vụ lợi cho bản thân. Cũng đừng nên tŕnh bày vấn đề quá sâu xa phức tạp khiến các em đâm ra lúng túng, nản chí hoặc bị ngộ nhận tai hại về lâu về dài.

Đối với lứa tuổi này, những chuyến đi dạo công viên, nghỉ mát giữa thiên nhiên bao la trong lành là những dịp giúp các em mở rộng tâm t́nh và óc ṭ ṃ đến những khái niệm tốt lành, đẹp đẽ, dễ thương. Âm nhạc cổ điển hoặc ḥa tấu cũng giúp một phần quan trọng để giúp các em h́nh thành sự nhân ái dịu dàng.

Về mặt sinh hoạt, các em bắt chước người lớn rất nhanh, cộng thêm trí tưởng tượng đang h́nh thành khá phong phú để tự bày ra các tṛ chơi như: xây nhà, nấu bếp, dọn hàng, ru búp bê, và có thể cứ thế mà chơi một ḿnh rất lâu, ngày này qua ngày kia không biết chán...

Về mặt tôn giáo, các câu truyện cổ tích giữ một vai tṛ quan trọng. Các tính cách nhân ái, thật thà, hiếu thảo nơi các nhân vật trạc tuổi các em sẽ đặc biệt được ghi sâu trong tiềm thức, dần dần mở ra cho tính cách tôn giáo hướng thượng nếu người lớn biết kết hợp với việc giúp các em cầu nguyện, tham dự thánh lễ...

Tại một số nước phương Tây hiện nay có chủ trương đến tuổi này mới cho các em được chịu Bí Tích Thanh Tẩy cũng phần nào là chính đáng, bởi nếu các em được chăm lo đúng cách và đúng mức, các em bắt đầu nảy nở những tâm t́nh tôn giáo chính thức ở giai đoạn này.

V. LỨA TUỔI THIẾU NHI ( 7 – 11 tuổi):

Đây là giai đoạn Troisième Enfance, lứa tuổi bắt đầu theo học Tiểu Học, hoặc c̣n gọi là Phổ Thông Cơ Sở cấp 1. Ngoài ra, các em cũng có thể được cha mẹ cho tham gia các lớp Giáo Lư Khai Tâm, các Đoàn thể tôn giáo như Thiếu Nhi Thánh Thể, Húng Tâm Dũng Chí, các phong trào giáo dục như Hướng Đạo...

Đây cũng là lứa tuổi mà những ai thật sự muốn dấn thân trở thành người cộng tác mật thiết với gia đ́nh các em để chăm lo việc giáo dục nhân bản và tâm linh cho các em, như các Giáo Lư Viên, các Huynh Trưởng, các thầy cô giáo rất cần quan tâm t́m hiểu.

Do vậy, kể từ phần này trở đi, vấn đề sẽ được cố gắng phân tích chi tiết và sâu xa hơn trong từng đề mục có liên quan trong từng lứa tuổi.

1.    CÁC EM MANG ĐẬM MẶC CẢM:

Tự bẩm sinh, các em đă mang mặc cảm ¬dipe ( le complexe d’ ¬dipe). Thần thoại Hy-lạp kể rằng: ¬dipe do cuộc đời oan nghiệt đưa đẩy, đă ngộ sát cha ḿnh là Laios để lên ngôi vua và cưới luôn mẹ là Jocaste làm hoàng hậu... Các nhà Tâm Lư Học mượn điển tích này để diễn tả hiện tượng tâm lư bẩm sinh phổ biến nơi lứa tuổi thiếu nhi.

Các em luôn t́m sự gần gũi, yêu thương, chiều chuộng của người lớn khác phái:  bé gái gần bố mà xa mẹ, c̣n bé trai lại gần mẹ xa bố. Đây không phải là một tội lỗi ghê gớm đáng lên án và nghiêm phạt như cách nghĩ thiển cận của một số người chủ trương đạo đức quá khắt khe cổ hủ.

Cần phải biết khéo hướng dẫn để giúp các em từ từ nhận ra sự cần thiết phải có đủ các tính cách giáo dục qua cả bố lẫn mẹ, anh và chị trong gia đ́nh, cả thầy lẫn cô ở trường và ở lớp Giáo Lư. Sau này, khi bước vào tuổi dậy th́, các em sẽ dần dần chuyển hóa sang thế quân b́nh về phái tính.

Nếu người lớn quá khắc nghiệt hoặc lơi lỏng thiếu quan tâm, có thể sẽ gây ra nơi các em những ấn tượng lệch lạc, di hại suốt đời các em về mặt nhân cách tâm lư và ứng xử. Ngược lại, cần bắc một nhịp cầu hết sức tế nhị để gặp gỡ chính tâm hồn bé bỏng non nớt của các em, biết mở chuyện hỏi han các em bằng ngôn ngữ và cung cách của chính các em.

Khi đó, các em mới dễ bộc lộ một cách hồn nhiên những tâm sự, những “bí mật” có khi rất ngô nghê của các em, mà không hề e dè, giấu giếm, sợ người lớn la rầy, kết tội hoặc chế giễu.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải như là người cha người mẹ thứ hai, có tấm ḷng yêu thương chăm sóc, ân cần tận tụy và tinh tế nhạy cảm, nắm bắt cho được mọi biểu hiện tích cực lẫn tiêu cực nơi các em.

2.    CÁC EM TIN TƯỞNG NGƯỜI LỚN TUYỆT ĐỐI:

Các em đă dần dần không c̣n muốn loanh quanh luẩn quẩn ở xó nhà góc bếp, nhưng bắt đầu thích làm quen nhiều bạn nhỏ và nhiều người lớn khác. V́ vậy, nếu các em nhận ra nơi các người lớn như thầy cô giáo, linh mục, nam nữ tu sĩ, Giáo Lư Viên, Huynh Trưởng... một sự bảo bọc chở che, nhất là sự quan tâm cảm thông thật sự, các em sẽ dần dần quấn quít, tin cậy đến mức tuyệt đối.

Hăy tránh đừng bao giờ đùa chơi với các em bằng cách xí gạt để các em mắc lừa cho vui. Cũng đừng bao giờ tạo cho các em cảm tượng bị người lớn áp đặt, ăn hiếp, lấn lướt, sai bảo vặt và khống chế các em bằng luật lệ mà chính người lớn chưa chắc đă tuân thủ đàng hoàng.

Do vậy, thông qua những hoạt động về giáo dục, làm việc, sinh hoạt vui chơi, người lớn cần biết tạo ra cơ hội để gần gũi các em, xóa bỏ mọi ngăn cách về tuổi tác và tâm lư, ḥa ḿnh trở nên đơn sơ như trẻ nhỏ, biết cách gợi ư tổ chức cùng chơi, cùng làm với các em, từ đó mới có dịp để giúp đỡ, dạy dỗ các em một cách đầy đủ và kịp thời.

Bên cạnh đó, cũng cần kích thích cho các em luôn háo hức chịu làm quen thêm với nhiều bạn trai bạn gái mới đồng trang lứa ở trường lớp và khu xóm.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một quản tṛ đa năng, biết biến báo, lôi cuốn, trang bị nhiều kỹ năng thành thạo, thu hút được đám đông các em, đồng thời lại có vốn liếng kinh nghiệm về tâm lư để có thể tiếp cận mà lắng nghe và đối thoại với từng em.

3.    CÁC EM ÔM ẤP NHIỀU MƠ MỘNG:

Các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyền hoặc, những truyện cổ tích thần tiên, những truyện thần thoại dân gian được kể trong các lớp học hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Từ đó các em tự thêu dệt những mơ mộng rất dễ thương đến bất ngờ.

Sau này, lớn hơn một chút. Tính thần thoại chuyển dần sang khía cạnh thần tượng hóa một cách đơn giản. Khi các em được tiếp xúc thân t́nh với một người lớn nào đó có nhân cách cao thượng, các em sẽ nhanh chóng h́nh thành các ước mơ sẽ có được nhân cách ấy ( ví dụ: “lớn lên em sẽ làm cô giáo như cô...”; “Mai mốt con sẽ đi tu như cha...”; “Em sẽ là một Ronaldo của Việt Nam...”).

Do đó, nếu người lớn biết khéo nương theo trí tưởng tượng và những mơ mộng hồn nhiên trong sáng của các em, có thể hướng dẫn các em dần dần gạn lọc đi những nét viễn vông huyền hoặc để chuyển những giá trị tốt đẹp hiện thực nơi nhân cách các em.

Bước đầu thấu hiểu được những nhu cầu khát vọng ngây thơ của các em rồi, vẫn chưa đủ, bởi tính khí các em luôn bị đột biến, thay đổi hoặc bị tổn thương. Do vậy, ngoài việc ḥa ḿnh cùng chơi, cùng tṛ chuyện với các em, người lớn c̣n cần khéo léo tạo sức thu hút lâu dài bền bỉ, bằng cách lồng các hoạt động tập thể vào các tṛ chơi ( học và làm mà là chơi, chơi mà lại là học và làm một cách hữu ích).

Đồng thời, cũng đừng quên tiếp xúc riêng từng em, giúp các em tập nỗ lực nho nhỏ để vươn lên trong từng khát vọng, từng ước mơ hồn nhiên của chính ḿnh, mỗi ngày một chút theo phương pháp giáo dục tiệm tiến.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một người bạn trẻ trung, tâm huyết, đáng tin cậy trong mọi mặt sinh hoạt vui nhộn cũng như tâm linh sâu lắng của các em.

4.    CÁC EM RẤT ĐA CẢM, DỄ XÚC ĐỘNG:

Tâm hồn các em c̣n hết sức trong sáng hồn nhiên như trang giấy c̣n mới tinh. Ngay cả trường hợp một số em phải chịu những di chứng do sự đổ vỡ trong gia đ́nh, th́ chắc chắn tâm hồn các em vẫn luôn luôn đa cảm, rất dễ bị xúc động.

Do đó, bất cứ hành động thô bạo nào đối với chính bản thân các em, đối với các em khác, đối với súc vật và đối với thiên nhiên đều gây tổn thương nơi các em, để lại trong tâm trí các em vết sẹo không bao giờ phai nhạt. Cần tránh cho các em phải đối mặt với những nghịch cảnh và bất hạnh, những thực tế quá phũ phàng, những h́nh ảnh dă man bạo lực trên sách báo, truyền h́nh, những biến cố quá gay cấn ngoài đường phố, trong gia đ́nh, nơi trường học.

Riêng với các câu truyện kể Giáo Lư, cần nhớ rằng: một nội dung quá bi lụy thương tâm có thể gợi ra nơi các em ḷng trắc ẩn nhân ái, nhưng cũng có thể âm thầm h́nh thành trong tiềm thức và vô thức của các em tính hiếu chiến, hiếu sát, thích trả đũa, nhẫn tâm, hoặc ngược lại, sự mủi ḷng ủy mị, mau nước mắt v́ quá sức đa sầu đa cảm.

Mặt khác, bên cạnh sự đa cảm, các em vẫn c̣n thiên nhiều về giác quan, thích sờ tận tay nh́n tận mắt, nên các em rất vui thích khi được thưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suông suông vậy thôi. Các em rất hănh diện thấm thía khi được người lớn khéo léo góp ư khích lệ hơn là phê b́nh chê trách hay nổi cáu lên quát tháo om ṣm.

Chúng ta thấy, nhà trường đă từng áp dụng những cách khen thưởng khá cụ thể như các phiếu “bon point”, các bông hoa điểm 10 cho từng môn học. C̣n trong Giáo Lư th́ một số cha sở và các sơ vẫn phát các phiếu thưởng khi các em siêng năng đi học hoặc dự thánh lễ... Chắc chắn có nhiều người lớn không thích, cho rằng như thế là gây ra đầu óc thực dụng. Thế nhưng, bản thân chúng ta khi c̣n bé, hẳn ai cũng đă từng ao ước hoặc hănh diện khi thấy tên ḿnh được ghi trên Bảng Danh Dự  (Tableau d’ honneur) treo tại một nơi trang trọng và dễ thấy ở trường. C̣n Sổ Học Bạ ( Livret Scolaire) hoặc Sổ Liên Lạc th́ không ai muốn cha mẹ ḿnh lại phải đọc thấy những gịng chữ thầy cô chủ nhiệm phê xấu và yếu kém. Do vậy, đây là những cách khen thưởng có vẻ vật chất nhưng lại hàm ư về chiều sâu tinh thần nhiều lắm...

Ở lứa tuổi này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một “bề trên” hiểu theo nghĩa rộng nhất, nghiêm minh mà quảng đại, công b́nh mà bao dung, vẫn luôn đ̣i hỏi cao mà lại biết khích lệ nâng đỡ.

5.    CÁC EM RẤT HIẾU ĐỘNG:

Năng lực ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào. Bên cạnh đó, các em cũng đang trải qua một cơn khủng hoảng về trí tuệ, c̣n gọi là khủng hoảng về ư thức cử động ( idée motrice).

Về mặt sinh hoạt thể lư, các em, kể cả các bé gái, cần phải luôn tay luôn chân, chạy nhảy, leo trèo, nô đủa và ḥ hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy máy, h́ hục nghịch phá một tṛ nào đó, hay làm một việc ǵ đó vừa sức ḿnh.

Riêng bên nam, các em rất thích các tṛ chơi đối kháng, mang tính giao chiến và đua tranh giữa hai phe ( ví dụ: kéo co, cướp cờ, đánh trận giả...). Các em sẵn sàng chơi hăng say hết ḿnh, bởi đối với các em, chuyện thắng thua rất là quan trọng, nó nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các em chưa đủ lư luận cao xa ǵ lắm về bản thân.

Với các em nữ, vấn đề cũng tương tự như khi các em đặc biệt thích các tṛ chơi tuy nhẹ nhàng hơn con trai, nhưng cũng là chuyện luân phiên thi đua giành phần thắng cho ḿnh ( ví dụ: nhảy c̣ c̣, đánh chuyền, nhảy lèo, chơi ô ăn quan...).

Trong thực tế, người lớn đang bận việc, rất ghét sự ồn ào náo động, lại cho rằng các em đang chơi những tṛ quá hiếu động, có hại về sức vóc lẫn tâm lư, nên thường la rầy ngăn cấm các em. Người lớn không ngờ đă đẩy các em sớm rơi vào t́nh trạng dồn nén, có thể tạo ra những t́nh cảm rối loạn, rất có hại về lâu về dài.

Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các ư tưởng, các kiến thức lư thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi ṭ ṃ thắc mắc. Một khi nơi các em lư trí bắt đầu hoạt động âm thầm, các ư tưởng như thế dần dần sáng tỏ ra, cho dù các em chưa thể lư luận suy diễn theo dạng đặt vấn đề “v́ vậy”, “cho nên”, “do đó” như người lớn...

Nhưng mặt khác, các em đă không c̣n thỏa măn với dạng câu hỏi “tại sao?” mà đă chuyển dần sang câu hỏi khó hơn nhiều: “làm thế nào?” tức là có khuynh hướng khách quan hơn, sâu xa hơn.

Dù vậy, các em chưa thể cầm ḷng cầm trí lâu để kịp phân tích vấn đề và quan sát một cách kiên nhẫn, các em cũng chưa thể tự ḿnh biết cách học hỏi sao cho đúng mức nếu không được người lớn hướng dẫn dưới dạng “học mà chơi” đầy hấp dẫn.

Ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một người thầy, một người cô vừa có kiến thức quảng bác, lại vừa có tâm hồn sâu sắc để truyền đạt tri thức, gợi mở sáng kiến và nhất là vun đắp cho các em những tâm t́nh nhân ái vị tha, vui tươi và dễ thương, đúng với độ tuổi các em.

6.    CÁC EM CÓ THỂ TRUNG TÍN ĐẾN CÙNG:

Khi gặp một hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong một trường hợp bất ngờ, nếu các em được người lớn tin cậy trao phó một trách nhiệm quan trọng nào đó, với lời giải thích kỹ lưỡng và căn dặn chi tiết, các em sẽ hết sức ư thức về công việc, cảm thấy vinh dự và hănh diện để cố gắng chu toàn hơn cả mong đợi của người lớn. Ấn tượng sâu sắc này sẽ theo các em suốt cuộc đời, h́nh thành một nhân cách khó co ǵ có thể làm biến dạng.

Hiểu được điều này, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy các phong trào giáo dục đứng đắn trên thế giới đều có những nghi thức tập tục rất long trọng như: trao trách nhiệm Đàn trưởng trong bầy Ấu Sinh, Đội Trưởng Nhất trong Đoàn Thiếu Sinh, làm lễ cho Sói Con mở mắt, đội mũ, trao cờ, tuyên hứa thiếu nhi, thắt khăn quàng, gắn sao...

Riêng với chuyên hiệu cứu thương, các em c̣n được gắn hai cái cùng lúc trên đầu hai vai áo, xem đó như một trọng trách và vinh dự cao nhất.

Tại trường học, có nơi, nếu biết huấn luyện tinh thần và kỹ thuật tới nơi tới chốn, người lớn có thể tin tưởng giao phó cho các em ở các lớp tiểu học đảm nhận chuẩn bị âm thanh, xếp đội h́nh danh dự, kéo cờ, bắt nhịp và đồng ca bài quốc ca v.v... mà không sợ gặp sự cố trục trặc, bởi các em ư thức khá chững chạc về tính cách quan trọng và trang nghiêm của công việc cùng với niềm hănh diện được đại diện cho toàn trường.

Trong thực tế, đă có trường hợp một em đệ tử tiểu chủng viện đă can đảm đứng nguyên một chỗ suốt nhiều giờ để giữ chiếc xe cho vị bề trên của em giốc toàn tâm toàn lực cấp cứu và đưa vào bệnh viện một người bị nạn trên xa lộ vắng người.

Như vậy, ở điểm này, người Huynh Trưởng đối với các em phải là một Người Lănh Đạo ( leader) đúng nghĩa, biết cách huấn luyện chỉ dẫn cho các em thành thạo tháo vát trong các việc nhỏ, vừa tầm hiểu, vừa sức làm của các em mà lại có tầm quan trọng không thua ǵ việc của người lớn, sau đó, biết mạnh dạn tin tưởng trao phó công việc đó để các em tự chơi, tự làm, tự giải quyết trong khả năng của các em ...

 

Bài 13

T́m Hiểu Tâm Lư Trẻ Em - Phần 2

Phần này tŕnh bày tâm lư tuổi thiếu niên (ừ 11-14) là tuổi mà các em bắt đầu dùng nhiều lư luận để t́m hiểu chính căn tính của ḿnh. Ở tuổi này, các em bắt đầu muốn tự lập, không c̣n thích quanh quẩn bên cha mẹ, các em coi trọng bạn bà, và bắt đầu mở rộng t́nh cảm ḿnh theo chiều kích xă hội để t́m kiếm những người lớn thu hút hấp dẫn hơn mà các em chỉ gặp trong một số dịp, một số giờ trong ngày, hay một số ngày trong tuần.


T̀M HIỂU TÂM LƯ TRẺ EM - PHẦN 2


VI. LỨA TUỔI THIẾU NIÊN ( 11 – 14 TUỔI):

Các nhà tâm lư gọi lứa tuổi này là Quatrième Enfance. Trong phong trào Hướng Đạo th́ ứng với tuổi Thiếu tức là thành viên tham gia các Đội của một Thiếu Đoàn.

Ở trường, các em bắt đầu chuyển lên học trường Phổ Thông Cơ Sở cấp 2, trước đây gọi là Trung Học Đệ Nhất Cấp, từ lớp đệ thất đến lớp đệ tứ. Ở Giáo Xứ, các em theo học các lớp chuẩn bị đón nhận Bí Tích Thêm Sức, sau đó một vài năm, nhiều nơi c̣n cho các em tiếp tục lên lớp Bao Đồng để tuyên tín trọng thể.

Các Tiểu Chủng Viện của các Giáo Phận hoặc các Đệ Tử Viện của các ḍng tu nam nữ cũng bắt đầu tiếp nhận các em mà gia đ́nh muốn cho đi tu, các em sẽ vừa học văn hóa vừa tập sống đời sống chung xa nhà.

Như vậy, rơ ràng các em ở độ tuổi này đă chuyển hẳn sang một giai đoạn phát triển về thể lư và tâm lư hoàn toàn mới, với các đặc nét khác hẳn lứa tuổi Thiếu Nhi trước đó.

Chúng ta cũng sẽ chú ư t́m hiểu và phân tích tâm lư của các em một cách thấu đáo, hầu có thể nhận định được vai tṛ giáo dục của người lớn bên cạnh các em quan trọng và cần thiết như thế nào.

1.    CÁC EM THÍCH THẦN TƯỢNG HÓA NGƯỜI KHÁC:

Đến giai đoạn này, các em rất muốn t́m những con người nổi tiếng chung quanh để tôn sùng như những thần tượng ( idoles).

Với các em trai, có thể thần tượng là một cầu thủ bóng đá nếu các em mê chơi môn túc cầu, bản thân sẽ bắt chước y khuôn lối đi bóng, đầu tóc, số áo và cả đến những sở thích nho nhỏ của cầu thủ thần tượng ấy, không những ở các mặt tốt mà luôn cả các tật xấu.Với các em gái, thần tượng lại có thể là một cô diễn viên ngôi sao, một người mẫu thời trang, một nữ ca sĩ đang nổi tiếng, Top Ten trong nước hay ngoại quốc...

Và rồi, đă gọi là thần tượng, không sớm th́ muộn, các em sẽ nhanh chóng thay thế bằng một thần tượng khác cùng loại hoặc chuyển hẳn sang lănh vực khác, miễn là hợp với thị hiếu thời thượng của đám đông quần chúng, của bè bạn cùng trang lứa, và nhất là phải hợp với các sở thích cũng luôn tạm bợ, nhất thời của bản thân các em. Rơ ràng, các ấn tượng do các thần tượng ghi dấu nơi các em rất nhanh mà cũng chóng qua, cái sau chồng lấp mên cái trước, hời hợt, dễ đảo lộn.

Tuy nhiên, cái c̣n đọng lại và đi vào tiềm thức các em th́ sẽ vô cùng tai hại nếu những ấn tượng đó đă kịp ăn sâu, trở thành một kiểu ứng xử, thái độ sống, cung cách hành động, và nhất là trở thành thứ lư tưởng mẫu cho đời các em.

Hiện tượng tôn sùng cá nhân là chuyện đương nhiên khó tránh khỏi cho các em ở độ tuổi này. V́ thế, người lớn không nên chọn cách thế ngăn cấm hay chỉ trích lên án các em một cách tiêu cực, nhưng hăy chủ động đến với các em, đáp ứng cho các em những mẫu người lớn thật sự quân b́nh, đáng tin cậy và có ảnh hưởng sâu xa trên các em về nhân cách. Họ vẫn luôn có đó, chung quanh và gần gũi với các em mà các em không ngờ.

Nhờ vậy, dần dần các em sẽ khám phá ra nơi chính con người đó những đặc nét xứng đáng cho các em khâm phục, yêu mến và noi gương, đồng thời vẫn nhận ra họ cũng chỉ là những con người tương đối, b́nh thường mà vẫn không hề tầm thường, không nổi tiếng những lại nhiều danh thơm tiếng tốt, đủ để cho các em hănh diện và tự hào được làm “đệ tử”, làm “đàn em”, làm “học tṛ ruột”, làm “bạn vong niên” của những con người như thế trong sinh hoạt đời thường hằng ngày...

Cũng cần lưu ư rằng: ở lứa tuổi này, các em không thích sống loanh quanh trong khung cảnh gia đ́nh. Bóng dáng người cha, người mẹ đâm ra quá quen thuộc, và sẽ là nhàm chán nếu cha mẹ quá khó chịu mà lại mắc nhiều khiếm khuyết trước com mắt xét đoán c̣n ngô nghê của các em. Từ đó, chính người lớn trong gia đ́nh đừng ngạc nhiên và rơi vào khủng hoảng khi thấy các em đâm ra ĺ lợm, khó bảo, thích căi lời cha mẹ !

Thay vào đó, các em bắt đầu mở rộng t́nh cảm ḿnh theo chiều kích xă hội để t́m kiếm những người lớn thu hút hấp dẫn hơn mà các em chỉ gặp trong một số dịp, một số giờ trong ngày, hay một số ngày trong tuần.

Ở trường trung học, các em không c̣n học các môn với một thầy cô giáo, nhưng lại được học với nhiều thầy cô giáo khác nhau của từng môn. Các em sẽ so chiếu rất nhanh và chọn ra thầy cô nào là “thần tượng” theo tiêu chuẩn riêng của các em.

Ở các Đoàn thể sinh hoạt cũng thế, người Huynh Trưởng của các em được coi như những người anh người chị, biết hết mọi chuyện lư thú, thành thạo nhiều kỹ năng hấp dẫn, làm được mọi việc, ứng xử được trước mọi t́nh huống, và nhất là sẵn sàng gợi cho các em những sáng kiến mới lạ, những tṛ chơi lôi cuốn.

Với bè bạn ngang vai, các em bắt đầu nhận thấy cần cộng tác với nhau, không chỉ trong những tṛ nghịch ngợm mà cả trong các việc đứng đắn nghiêm chỉnh như học tập, sinh hoạt...

Do vậy, khái niệm năng động tập thể trong sinh hoạt và làm việc chung lúc này rất cần thiết nơi các Huynh Trưởng phụ trách các em để có thể biết cách gợi ư và tổ chức cho các em các sinh hoạt năng động bổ ích.

Tuy nhiên, ở ngưỡng cửa của một hai năm trước tuổi dậy th́, các em lại có những tham vọng riêng đôi khi khá mănh liệt để tự khẳng định cá nhân ḿnh, muốn ḿnh nổi trội hơn các bạn cùng trang lứa. Do vậy mà bên cạnh các sinh hoạt năng động chung, các em vẫn muốn tách ra để sống với khả năng và sở thích riêng.

Do vậy mà ngành Thiếu của phong trào Hướng Đạo đă đáp ứng cho nhu cầu này của các em một cách tài t́nh bằng cả một chương tŕnh thi lấy các chuyên hiệu hết sức đa dạng và phong phú ( sơ cấp cứu, sửa xe đạp, chơi tem, nuôi cá đá, chụp ảnh, hát sinh hoạt...).

Điều này lại càng khiến cho người Huynh Trưởng phải tỏ rơ bản lĩnh, sự đa năng và tháo vát của ḿnh, hay nhất là biết liên kết và phối hợp các sở trường cũng như sở đoản của ḿnh với một nhóm nhỏ các anh chị Huynh Trưởng khác để cùng nhau giúp các em trong mọi mặt sinh hoạt.

2.    CÁC EM MUỐN TỰ T̀M HIỂU VỀ CHÍNH M̀NH:

Đặc nét tâm lư thứ hai này xem ra có vẻ đối lập mâu thuẫn với đặc nét vừa tŕnh bày, thế nhưng, đây lại là một thực tế. Mặc dù nh́n chung, các em ở độ tuổi này vẫn c̣n hết sức hồn nhiên vô tư, nhưng từ sâu thẳm tâm hồn, các em đang dần dần h́nh thành một khái niệm mơ hồ về chính bản thân.

Các em rất dễ rơi vào trạng thái: khi th́ co rút, thủ thế, ù ĺ trong một thứ vỏ ṣ kiên cố do chính các em tự dựng lên để đối phó với tha nhân và ngoại cảnh; khi th́ bùng nổ những khiêu khích, chống đối rất ngô nghê ( ví dụ: dứt khoát không chịu ngủ trưa, không chịu ăn món cá, không chịu bỏ áo trong quần, không gài nút áo cổ... nếu như bị người lớn bắt buộc).

Các em loay hoay bối rối tự t́m hiểu, tự bắt gặp những khoảnh khắc vô nghĩa, hụt hẫng. Tâm trạng này khiến cho những nhận định và dự tính của các em bị đảo lộn, như thể dao động từ cực này sang cực kia, mới vui đó đă thấy buồn buồn ủ dột. Nhiều lúc các em c̣n rơi vào mặc cảm tự ti, mất niềm tin và đau khổ khi thấy thần tượng của ḿnh bị sụp đổ trong phút chốc.

3. CÁC EM BƯỚC VÀO TUỔI DẬY TH̀:

Đặc biệt đối với các em gái, ở cuối độ tuổi này, các em bắt đầu bước vào giai đoạn dậy th́, chuyển từ một “bé-gái-đă-lớn” thành một “thiếu-nữ-c̣n-nhỏ”, với những biến đổi sâu xa và mạnh mẽ về tâm sinh lư.

Mặc cảm tự ti do vậy lại càng tác động dữ dội hơn nơi các em, rất dễ biến thành những cơn khủng hoảng khiến các em cau có, khó chịu, lầm ĺ, thích rút vào một góc riêng ngay nơi chốn đông người.

Mặt khác, các em đâm ra uể oải, lười biếng, không thích làm những loại công việc đă quen thuộc nhàm chán, khi bắt buộc phải làm th́ ngán ngẩm, đâm ra hồ đồ hậu đậu, dễ “hư bột hư đường”...

Đối với các bạn trai đồng trang lứa, các em gái tự nhiên thấy ḿnh lớn hơn hẳn cả về vóc dáng lẫn những suy nghĩ và sở thích, chẳng c̣n say mê những tṛ chơi nghịch ngợm con nít của lũ con trai như trước đây. Các em gái mang máng cảm nhận ra nơi bản thân ḿnh, cái sau này sẽ được xác định là bản năng người phụ nữ trong xă hội và là thiên chức của người mẹ trong gia đ́nh.

Ở nhà, các em bắt đầu quan tâm chăm sóc đến những đứa em nhỏ hơn trong gia đ́nh, tập tành trông coi cửa hàng nếu cha mẹ buôn bán, thích học thêu thùa may vá, bắt đầu lo việc cơm nước giặt giũ nếu như gia cảnh không c̣n cho phép các em vui chơi vô tư lự.

Trong học tập, các em gái chịu khó chuyên cần và đương nhiên trổi vượt hơn các bạn trai, nhất là ở các môn ngoại ngữ, văn học, sử kư, địa lư và sinh vật. Nếu cho các em học các loại nhạc cụ như organ, piano, đàn tranh ngay từ độ tuổi này, các em gái sẽ rất mau tiếp thụ và phát triển năng khiếu nghệ thuật âm nhạc hơn các em trai.

Do vậy, ở đây, ngoài những kinh nghiệm chuyên môn tâm lư, người lớn cần có những kiến thức y học, đặc biệt trong khoa sinh lư giới tính để có thể là những người tham vấn đáng tin cậy của các em trong các mặt vệ sinh thân thể, học tập và năng khiếu.

Hăy giúp các em vượt qua được mọi khủng hoảng của lứa tuổi đang dậy th́ để sau này chính các em sẽ can đảm và sáng suốt vượt qua nhiều khó khăn c̣n lớn hơn nữa trong cuộc đời.

Xin hăy đừng để các em hụt hẫng, thiếu sự hướng dẫn nghiêm túc, khiến cho các em rơi vào t́nh trạng tự ḿnh mầy ṃ khám phá mà tự định h́nh những quan niệm và mặc cảm tai hại khôn lường về tính dục.

4.    CÁC EM THÍCH ĐÁNH GIÁ NGƯỜI LỚN:

Các em thường có khuynh hướng nhận định những sự việc xẩy tới trong đời sống hằng ngày, đồng thời cũng thích lượng giá mọi người chung quanh một cách khá sắc bén, Đôi khi lại rất khôi hài châm biếm.

Những suy nghĩ này đa phần là phiến diện và cực đoan nhưng lại không hẳn là vô căn cứ ( ví dụ: Hôm nay thầy hiệu trưởng cau có gắt gỏng hơn mọi ngày, chắc là thầy mới hụt trúng số... Ba mới đi hớt tóc về, sao trông ba có vẻ ngố ngố thế nào ấy... Thế là má lại mắng ḿnh nữa rồi, đúng là má chỉ thương mấy thằng em trai của ḿnh mà thôi... Tối nay, lúc sinh hoạt ṿng tṛn, anh Huynh Trưởng cứ đá lông nheo với chị Huynh Trưởng hoài, coi bộ họ “chịu” nhau rồi đó...).

Cứ thế, các em lặng lẽ quan sát, suy luận rồi lại cũng âm thầm tự rút ra nhận xét đánh giá mà có khi chẳng bao giờ chịu phát biểu trực tiếp. Nó cứ h́nh thành dần nơi các em những quan niệm hoặc là quá xét nét người khác, hoặc là lại rơi vào mặc cảm tự ti hay tự tôn.

Hậu quả là các em rất dễ tránh né người lớn, lủi thủi, khép kín hoặc bướng bỉnh, ĺ lợm, không phục thiện.

Do vậy, người lớn phải cố gắng giữ cho bản thân có được một đời sống tương đối mẫu mực trong nề nếp tác phong cũng như liêm khiết trong sáng trong nhân cách luân lư.

Hăy là một tấm gương soi càng ít tỳ vết càng tốt, để các em có thể soi ḿnh, t́m được một sự quư mến, khẩu phục mà cũng tâm phục, từ đó thiết lập được một mối tương giao hai chiều trong giáo dục và huấn luyện cho các em và cho chính bản thân người lớn nữa.

5.    CÁC EM THÍCH LÀM NHỮNG VIỆC LỚN LAO:

Trong sinh hoạt tập thể hay cộng đồng, các em thường tỏ ra uể oải lười nhác, không thích làm những việc quen thuộc và b́nh thường do người lớn giao cho.

Nếu người lớn dùng cách thức ra lệnh để buộc các em phải làm, th́ dù đă quen thạo với công việc đến đâu đi nữa, các em cũng sẽ cố t́nh tỏ ra thờ ơ với công việc, hoặc cố t́nh làm thật vụng về.

Rồi khi người lớn có ư chê bai hay la rầy, các em lại cảm thấy khoái trá trong bụng, cho rằng đă thành công khi làm người lớn phải một phen bị hố, lần sau đừng có mà ép các em phải làm loại công việc ấy nữa, càng khoẻ chứ sao !

Ngược lại, trước một công việc thật sự mới lạ, hứa hẹn nhiều khó khăn và đ̣i hỏi trách nhiệm cao, th́ dù chưa biết cách phải làm thế nào, chưa quen thao tác ǵ cả, các em cũng sẽ phấn khởi t́nh nguyện nhận ngay công việc đó, sau đó, bằng mọi giá các em sẽ học hỏi cách thức làm thật mau lẹ, lại c̣n nẩy ra thêm nhiều sáng kiến. Và như thế, các em sẽ hoàn thành công việc hết sức tốt đẹp, vượt trên mọi dự đoán của người lớn.

Riêng đối với các em nam, dường như các em càng cảm thấy được khích lệ hăng hái nếu như các em tưởng tượng ra thêm, một cách hơi cường điệu về công việc vốn dĩ thật b́nh thường đơn giản, khoác lên cho nó một tầm vóc quảng đại phi thường, đầy hy sinh lớn lao, hay hết sức anh hùng hào hiệp.

Các em trai h́nh dung ḿnh là một thứ “anh hùng”, dám can trường đứng ra đương đầu giải quyết những chuyện tầy đ́nh mà cả đến người lớn cũng c̣n phải cân nhắc e dè mới dám nhận dám làm ! Cũng đừng quên là các em sẽ tỏ ra hănh diện tự hào ghê lắm, nếu như, khi nhận làm một “công tŕnh” nào đó mà lại có mặt các bạn gái đồng trang lứa vốn thường bị các em cho là hạng “nữ nhi” chân yếu tay mềm, phải trông dựa vào sức vóc và trí khôn của “cánh đàn ông” !

Đối với người lớn, trước hiện tượng muốn “chơi nổi” nói trên, chúng ta nên b́nh tĩnh, không vội lo ngại, nhưng biết tạo cơ hội để các em khẳng định được “thế giá” của ḿnh cho đúng mức mà vẫn không đánh mất sự hồn nhiên trong sáng.

Cần nhớ rằng: niềm tự hào và hănh diện chính là một trong những phương cách tự giáo dục và tự huấn luyện rất hiệu quả, hơn hẳn những lời nói khích lệ suông, những bài học đạo đức “chay”, miễn là đừng đẩy các em đi quá xa mà rơi vào thói kiêu căng hợm hĩnh hết sức tai hại cho nhân cách các em sau này.

6. CÁC EM RẤT THÍCH SỐNG HƯỚNG NGOẠI:

Ở cuối độ tuổi này, đối với các em trai 14, 15 tuổi, không gian và bầu khí trong gia đ́nh dường như quá chật chội và ngột ngạt, quen thuộc đến nhàm chán, không c̣n gợi ra được những tṛ chơi hấp dẫn cho đám bạn đông đảo của các em.

Mặt khác, tương quan của các em với mọi người chung quanh đă mở ra khá rộng, không chỉ dừng lại ở cha mẹ, anh chị trong gia đ́nh. Do vậy, thời gian sống của các em đa phần là ở bên ngoài gia đ́nh, chẳng đặng đừng lắm các em mới có mặt ở nhà để ăn hai bữa cơm, và để lăn ra ngủ sau một ngày đă thỏa chí b́nh sinh, thỏa sức ngang tàng, vùng vẫy tung hoành ở trường lớp, ở sân nhà thờ, ở sân banh, ở công viên, và có khi ngay trên ḷng lề đường phố nữa.

Trong phong trào Hướng Đạo, ngành Kha được mở ra cho các em ở độ tuổi gọi nôm na là “lỡ cỡ, không giống ai” này. Các em không c̣n hoàn toàn là trẻ em mà cũng chưa hoàn toàn là người lớn. Vóc dáng đang phát triển, năng lượng trong cơ thể dường như lúc nào cũng thừa thăi, thúc giục đầu óc và tay chân các em phải luôn hành động.

Với các em nam, thanh quản bắt đầu thay đổi làm cho vỡ tiếng, giọng đang trong trẻo như “thiên thần” bỗng trở nên ồ ồ trầm đục như đàn ông. Ở các ban tốp ca, hợp ca nhà trường hay các ban hát lễ sinh nhà thờ, các em thấy ḿnh đâm ra “phá bè”, nếu có ai lỡ miệng gọi đùa là giọng “vịt đực” th́ các em rất dễ nổi xung v́ tự ái, lẳng lặng bỏ ra với một tổn thương sâu xa.

Trong học tập, các em nam cũng gặp trở ngại về phát âm trong giờ sinh ngữ hay trong các buổi thuyết tŕnh, luận nói. Các em có cảm giác bị các bạn gái “cười ruồi” chế nhạo ngầm, cứ thế mà ăn nói câu cú lại càng đâm ra lúng túng ngọng nghịu.

Mặc cảm thất bại trong mọi sự luôn luôn đeo đuổi các em, làm các em đâm ra hay quạu cọ với mọi người và bực bội với chính ḿnh, đưa tới việc thích “cúp cua” trốn học, lang thang phá phách ngoài phố, đua xe bạt mạng, lê la ở các tiệm cà phê, rất dễ rơi vào tệ nạn nghiện ngập x́ ke ma túy và trộm cắp.

Ngược lại, về các môn thể dục thể thao và về mặt sinh hoạt các tṛ chơi thi đua hay đối kháng, các em thấy ḿnh tự tin với sức vóc “trổ gị”, nhanh hơn, khoẻ hơn, “ĺ đ̣n” hơn.

Nhưng dẫu sao, những cuộc tranh tài như thế này có vẻ không c̣n tạo hứng thú nhiều so với các tṛ chơi lớn mang tính phiêu lưu mạo hiểm và khai phá, tổ chức ngoài thiên nhiên rộng lớn, trải qua nhiều trạm thử thách gian nan, kéo dài nhiều giờ hoặc nhiều ngày ṛng ră, tiến hành vào ban đêm lại càng hấp dẫn hồi hộp ( trại bay, trèo núi băng rừng, thám hiểm hang động, đột nhập các ngôi nhà hoang, vượt sóng ra thăm đảo xa, leo đèo bằng xe đạp...)

Phải nói đầu óc các em trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các truyện phiêu lưu và trinh thám h́nh sự trong các loại sách báo phim ảnh, có lợi về mặt kích thích trí tưởng tượng và sư gan dạ nhưng cũng lại gây ra những hậu quả tai hại như: liều lĩnh dại dột theo kiểu “anh hùng rơm”, phung phí sức khoẻ vào những cái vô bổ, nhất là khích động tính hiếu chiến manh động, dễ đưa tới phá phách, bạo lực.

Riêng với các em gái, vấn đề có khác đi, cũng hướng ngoại nhưng là cái hướng ngoại trong tâm tưởng. Kể ra th́ các em gái ngại ra khỏi nhà, xa khung cảnh quen thuộc của gia đ́nh, hơn nữa, dẫu sao các em cũng tương đối đă khá lớn để có những bổn phận và công việc riêng phải làm ở nhà sau khi đi học về. Thế nhưng, tâm hồn các em th́ lại “bay” đi rất xa.

Các em thích viết nhật kư, thích chép lại các bài thơ t́nh học tṛ và các bài hát nhẹ nhàng lăng mạn của tuổi mới lớn mà các em hết sức ưa chuộng. Đặc biệt, mỗi độ hè sang, vào dịp băi trường, các em gái rất thích làm một tập lưu bút để xin các thầy cô mà các em yêu mến ghi vào vài gịng khen ngợi khuyên nhủ, và sau đó tiếp tục chuyền tay đến các bạn đồng trang lứa.

Nh́n chung, ở lứa tuổi giao thời và dậy th́ cho cả hai phái, các em đều muốn mở ra thêm nhiều mối tương giao với mọi người, cho dù các liên hệ này cũng sẽ chóng qua đi, phai nhạt dần với thời gian, hoặc rất mong manh, khó lưu tồn đến khi các em trưởng thành, chỉ cần một xích mích nhỏ là đổ vỡ ngay, và sẽ c̣n là những kỷ niệm nhẹ nhàng man mác của một thời niên thiếu học tṛ.

Do vậy, cha mẹ, các thầy cô giáo và các Huynh Trưởng khi đối diện với các em phải hết sức năng động mà kiên nhẫn, quyết đoán mà dịu dàng, cương nghị mà bao dung, nhạy bén mà tế nhị.

Ngoài ra, sở trường phải chuyên sâu mà sở đoản th́ phải đa dạng, lănh vực nào cũng biết tương đối vững, đủ để theo kịp và nhất là để đón đầu, thu phục được ḷng tín nhiệm của các em, hầu kịp thời giúp đỡ, dẫn dắt các em vượt qua những khủng hoảng có tính “nổi loạn”.

Đối với các em nam, cần biết định hướng một cách khéo léo, vận dụng và chuyển hóa các “năng lượng thặng dư” cũng như những đặc nét tâm lư của các em vào việc “khai phá” đầy lư thú mà vẫn đồng thời “giúp ích” cho bản thân các em, cho mọi người chung quanh và cho cả cộng đồng xă hội.

Cần phải h́nh thành dần dần nơi các em bản phác họa cho một mẫu người đàn ông đầy nam tính trong tương lai, lịch sử, quả cảm, thông minh, hữu ích cho xă hội và nhân loại, nhưng cũng sẽ là một người chồng, người cha cao thượng, đôn hậu, nhân ái, có một chút nữ tính và nhất là biết tôn trọng người phụ nữ chứ không chỉ “ga-lăng” hời hợt bên ngoài.

Riêng các em nam có ư hướng đi tu th́ rất cần được chuẩn bị tốt về trí thức, óc phán đoán, tính thích nghi, sự nhạy cảm với các vấn đề của Giáo Hội để sau này các em sẽ là những tu sĩ, những linh mục có ḷng đạo dức, chí truyền giáo và nhất là quân b́nh về nhân cách của một người đàn ông độc thân.

Đối với các em nữ, tuổi dậy th́ sẽ qua đi, để chuẩn bị chu đáo cho các em bước vào tuổi thiếu nữ, người lớn cần hết sức nâng niu cẩn trọng, giúp đỡ các em sớm trưởng thành để tự tin, sáng suốt, không bị rơi vào cạm bẫy của xă hội đang ngày càng tục hóa, đầy cám dỗ về danh vọng, tiền bạc và sắc dục.

Cái tích cực hơn nữa là khích lệ các em nữ vừa triển nở nhân cách và tri thức, hướng đến tha nhân và cuộc đời nhưng lại vừa ư thức được trách nhiệm của bản thân trong gia đ́nh là nơi mà tương lai các em sẽ đóng vai tṛ hết sức quan trọng của một phụ nữ Việt Nam, làm vợ, làm dâu, làm mẹ hoặc làm nữ tu.

Các cô giáo, các chị Huynh Trưởng sẽ vừa là người chị, người bạn, lại vừa là một người mẹ của các em gái, tạo sự đồng cảm trong cùng giới phụ nữ, chia sẻ một cách tế nhị và chân thành những kinh nghiệm cụ thể đời thường của chính bản thân ḿnh cho các em, nhất là về mặt sinh lư và tâm lư.

Các thầy giáo, các anh Huynh Trưởng phải biết giới hạn về phái tính của ḿnh để kiềm chế, không ở quá xa một cách nghiêm khắc lạnh lùng, nhưng cũng không ở quá gần, dễ rơi vào các t́nh huống ”cheo leo” hiểm nghèo trước các em gái. Tốt nhất, hăy để cho các em tin phục chứ đừng thân t́nh quá đến mức suồng să.

Cuối cùng, phải nói rằng hiện nay, trong một xă hội mở, đang không ngừng tăng trưởng về kinh tế và khoa học, người lớn nói chung không những thiếu quan tâm đối với các em trong tương lai sẽ là thế hệ kế thừa của ḿnh, mà ngược lại, c̣n trực tiếp hoặc gián tiếp làm hỏng các em ngay trong gia đ́nh, ở trường học, tại giáo xứ, nơi đường phố và cả ngoài xă hội.

Do vậy, gánh nặng trách nhiệm của những người lớn c̣n quan tâm thao thức đến việc giáo dục và huấn luyện nhân cách cho các em lại càng hết sức lớn lao và hệ trọng, nhất là trong giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên.

VII. KẾT LUẬN:

Xin được kết thúc tập chia sẻ “T́m Hiểu Tâm Lư Trẻ Em” này bằng một lời mời gọi của Đức Khổng Phu Tử, tuy đă rất cổ xưa nhưng lại không hề lạc hậu: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” nghĩa là “điều ǵ chúng ta không muốn người khác làm cho ḿnh th́ cũng đừng làm cho người khác”.

Để tích cực, chủ động và hướng thượng hơn nữa, phải nói thêm một cách cụ thể, ứng hợp với vấn đề giáo dục vừa trao đổi, đó là:

Điều ǵ chúng ta đă từng muốn người lớn làm cho ḿnh lúc chúng ta c̣n là trẻ em, th́ chúng ta cũng hăy làm tất cả những điều ấy mộc cách tận tụy ân cần cho các em hiện c̣n đang nằm trong ṿng tay giáo dục yêu thương của chúng ta.

 

Bài 14

Những Rối Loạn Tâm Sinh Lư của Tuổi Mới Lớn

Tuổi mới lớn là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của đời người, góp phần xác định một cá thể chưa hoàn toàn qua khỏi quăng đời thơ ấu, đồng thời chưa có được những đặc tính của một người thật sự trưởng thành.
Những biến đổi, thậm chí rối loạn về Tâm Sinh Lư của lứa tuổi này cần được bản thân họ và các bậc cha mẹ và thầy cô giáo hiểu rơ để có thể nghĩ đến những cách cư xử phù hợp...


NHỮNG RỐI LOẠN TÂM SINH LƯ CỦA TUỔI MỚI LỚN


Dưới đây là một bài viết được chọn từ Tạp Chí Thế Giới Mới số 408, ra ngày 16.10.2000 đăng trong mục Giáo Dục Giới Tính, Lê Nguyễn dịch lại từ tạp chí Elle số tháng 9.2000.

Chúng tôi thiết nghĩ bài báo có thể rất cần thiết để các bạn Huynh Trưởng và các Giáo Lư Viên tham khảo thêm bên cạnh việc t́m hiểu Tâm Lư các Lứa Tuổi vừa tŕnh bày ở bài trước.
Lời Ṭa Soạn Tạp Chí Thế Giới Mới:

Tuổi mới lớn là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của đời người, góp phần xác định một cá thể chưa hoàn toàn qua khỏi quăng đời thơ ấu, đồng thời chưa có được những đặc tính của một người thật sự trưởng thành.

Những biến đổi, thậm chí rối loạn về Tâm Sinh Lư của lứa tuổi này cần được bản thân họ và các bậc cha mẹ và thầy cô giáo hiểu rơ để có thể nghĩ đến những cách cư xử phù hợp...

1. BIẾN ĐỔI SINH LƯ Ở TUỔI MỚI LỚN:

Trong cơ thể con người, nhiều chất hóa học đóng những vai tṛ kỳ thú có thể sánh ngang với những câu chuyện thần tiên ngoài đời. Chiếc rào chắn ngăn cách tuổi thơ ngây với lúc trưởng thành là giới hạn cao nhất mà mỗi con người đều cần phải vượt qua.

Trong cái ḷ luyện của tuổi dậy th́, người ta nh́n thấy sự sục sôi của chất men hóa học, và từ đó một con người mới h́nh thành. Ở những xứ nhiệt đới, con gái mới đến tuổi 11 là đă có thể trải qua thời kỳ đầy những biến động của tuổi mới lớn, trong khi ở những vùng ôn đới, thời kỳ này thường diễn ra vào năm 15 – 16 tuổi. Con trai thường có những diễn biến của tuổi mới lớn chậm hơn con gái 2 năm.

Sự biến đổi sinh lư của tuổi mới lớn là bước chuẩn bị cho cơ thể họ đảm nhiệm chức năng cơ bản là sinh sản để duy tŕ ṇi giống. Hầu như không có cơ quan hay mô nào mà không trải qua những thay đổi sâu sắc. Tim và phổi phát triển nhanh gấp 3 lần so với những năm trước đó. Tuyến giáp nằm ở cổ to ra theo tỷ lệ sự phát triển của cơ thể, trong khi ở lồng ngực, tuyến ức đầy bí ẩn lại nhỏ dần để sau này biến mất vĩnh viễn.

Hồi c̣n nhỏ, các đầu xương được bọc bằng một lớp sụn, tham gia vào quá tŕnh tăng trưởng của cơ thể. Đến tuổi dậy th́ và ít lâu sau đó, lớp sụn này bắt đầu chứa calcium, các đầu xương cứng dần, sự tăng trưởng chậm lại, cuối cùng th́ ngưng hẳn. Ngay cả da cũng thay đổi cấu trúc, các tuyến bă nhờn hoạt động mạnh hơn, các lỗ chân lông nở rộng ra, dễ dàng làm mồi ngon cho vi trùng xâm nhập tạo thành mụn.

Tuổi dậy th́ được phát động bởi tuyến yên – một bộ phận nhỏ, chỉ bằng hạt đậu Hà-lan, nằm ở mặt dưới của năo. Người ta chưa được rơ lắm về việc tuyến yên hoạt động như thế nào, nhưng kết quả hoạt động của nó th́ khá rơ: nó tiết ra một lượng nhỏ hormone thúc sinh dục  (hormone gonadotrope) để kích thích hoạt động của buồng trứng ở phái nữ và của tinh hoàn ở phái nam. Thời thơ ấu, những bộ phận này ngủ yên, đến khi được tuyến yên kích thích, chúng bắt đầu sản xuất các hormone riêng của chúng.

Ở một cô gái mới lớn, các buồng trứng bắt đầu hoạt động và tiết ra một lượng thật nhỏ chất oestrdiol, chỉ bằng 1 / 1.000 khối lượng của một hạt đường mỗi ngày. Những chất này lại có đủ sức mạnh để biến một cô bé thành một cô gái sắp bước qua ngưỡng cửa của sự trưởng thành. Khi đó, cô bắt đầu lớn nhanh, chiều cao tăng khoảng 8 cm / năm, bỏ những chàng trai cùng tuổi lại đàng sau.

Về phát triển xương, ở cô gái mới lớn, khung chậu rộng ra, chuẩn bị cho những lần sinh nở về sau. Các tuyến vú phát triển, lúc đầu chậm, rồi càng lúc càng nhanh, dưới tác động của các hormone. Các mô ở đường sinh dục dày lên và vững chắc hơn để có thể “đối phó” với sự căng thẳng của các lần sinh nở.

Dạ con từ kích cỡ của một quả mận thời thơ ấu, đạt đến kích cỡ của một quả lê. Tuy nhiên, phải chờ khoảng 2 năm từ lúc bắt đầu có những chuyển biến trên để cơ thể người phụ nữ có thể sẵn sàng cho việc sinh nở.

Trữ lượng của buồng trứng cũng là một chi tiết thú vị. Nó chứa gần 420.000 trứng chưa thành thục, nhưng trong suốt thời gian sinh nở của một người phụ nữ, chỉ có từ 400 đến 500 trứng là đạt đến sự thành thục mà thôi. Xuất phát từ một sự chọn lựa đầy bí ẩn, vào mỗi kỳ kinh nguyệt, chỉ có một trong hai buồng trứng cung cấp cho dạ con một cái trứng thành thục.

Khoảng một tuần lễ trước khi trứng rụng, dạ con cũng có những chuyển biến dưới tác động của các hormone. Thành dạ con dày ra, trong khi một mạng lưới mạch máu mới xuất hiện, sẵn sàng để nuôi phôi. Trong trường hợp không xảy ra sự thụ thai, những mạch máu này trở nên vô dụng, chứng tự hủy, tạo ra kỳ kinh nguyệt đầu tiên của cô gái mới lớn.

Ở nam giới, những biến đổi sinh lư của tuổi mới lớn cũng quan trọng không kém. Dưới tác động của những hormone do tuyến yên tiết ra, tinh hoàn phát triển và trở nên thành thục. Đến lúc này, nó đảm trách hai chức năng: tiết ra testostérone, c̣n gọi là hormone nam, để lưu chuyển trong máu, và sản xuất một lượng tinh trùng cần cho sự thụ tinh với trứng.

Tác dụng của testostérone thể hiện rất rơ: hệ lông biến đổi, những sợi râu đầu tiên xuất hiện, cơ thể phát triển với một tốc độ đầy ấn tượng, thường cao thêm 15 cm / năm và khối lượng tăng hơn 10 kg cũng trong khoảng thời gian đó.

Testostérone cũng làm phát triển tuyến tiền liệt, một loại kho trữ chất dịch giúp cho tinh trùng bơi lội bên trong và tự nuôi sống chúng. Ở tuổi mới lớn, tuyến tiền liệt từ kích cỡ một hạt đậu nay to bằng một hạt dẻ, và chàng thiếu niên đă có thể tham gia vào quá tŕnh sinh sản.

2.  RỐI LOẠN TÂM LƯ Ở TUỔI MỚI LỚN:

Về mặt tâm lư, tuổi mới lớn là giai đoạn có những rối loạn sâu sắc. Lúc ấy, như có hai nhân vật cùng tranh nhau một cơ thể duy nhất, và bên nào cũng muốn chiếm ưu thế. Người thứ nhất muốn bảo tồn những đặc quyền của thời thơ ấu; c̣n người thứ hai lại thích sử dụng ưu thế của tuổi trưởng thành.

Được trang bị về mặt sinh lư như một người trưởng thành, nhưng lại được định hướng bằng những phản ứng trẻ con, tuổi mới lớn thường chất chứa lắm điều rồ dại. Điều đó rất nguy hiểm khi các đối tượng ngồi trước tay lái xe gắn máy, đứng trên cao phóng xuống gịng sông đang chảy xiết hay lao vào những hoạt động tính dục quá sớm.

Các thế hệ thường không t́m thấy tiếng nói chung. Sự phản kháng đối với cha mẹ và người lớn không có ǵ là bất thường khi đứa trẻ sắp bước vào thế giới của người lớn.

Sinh hoạt của tuổi mới lớn lắm khi chứa đựng không ít điều kỳ dị. Các em có thể chôn chân hàng giờ liền trước gương soi, bị ám ảnh về một h́nh bóng khác phái nào đó, hay cắt chải mái tóc theo một kiểu cách ngược đời.
Tư tưởng của các em lúc nào cũng như sục sôi lên khiến các em không chú ư mấy đến những ǵ đang thấy đang nghe. Các bậc cha mẹ hay thầy cô giáo thường than phiền là con trai hay học tṛ của họ như đang sống trên mây, mơ màng và lười biếng.

Điều này chỉ đúng một phần, v́ người ta biết rằng sự thấp thỏm lo âu của tuổi mới lớn thường kéo theo mệt mỏi mà những thiếu niên ở độ tuổi này thường dành phần lớn thời gian cho sự... lo âu vơ vẩn thẫn thờ, v́ thế, những dấu hiệu mệt mỏi chán nản là điều khó tránh khỏi.

Các cô gái ở tuổi mới lớn cũng thế. Các em cũng gặp nhiều khó khăn khi phải từ giă tuổi thơ ngây để bước vào một thế giới c̣n rất xa lạ. Trước tiên, cái cơ thể đổi mới hoàn toàn thường mang đến cho các em lắm điều phiền lụy. Các em phải che kín bộ ngực đầy vẻ e ấp, cảm thấy xấu hổ lúc hành kinh, và những điều này khiến các em trở nên khép kín, g̣ ḿnh trong một thế giới chật hẹp và kỳ bí.

Thường th́ các em không c̣n hoàn toàn tin vào cha mẹ nữa. Cũng giống các cậu con trai, các em chỉ chú tâm đến bản thân ḿnh, mỗi một khiếm khuyết nhỏ của cơ thể cũng dễ trở thành một bi kịch.

Sở thích của các cô gái mới lớn cũng thay đổi. Các em không thích những cậu con trai cùng tuổi nữa. Với họ, những anh chàng này vẫn c̣n trẻ con quá. Các em chỉ chú ư đến những chàng trai lớn tuổi hơn, trông có vẻ già dặn và hấp dẫn. Một đặc trưng nữa của tuổi mới lớn, đó là sự tôn thờ thần tượng, một ca sĩ, một diễn viên điện ảnh hay một người mẫu thời trang chẳng hạn...

Tuổi mới lớn là như thế đó. Những biến đổi, kể cả những rối loạn về Tâm Sinh Lư là điều khá b́nh thường. Vấn đề đối với các bậc cha mẹ hay thầy cô giáo là nắm vững những trạng thái mới mẻ đó của con cái hay học tṛ của ḿnh để đề ra những cách ứng xử và hướng dẫn thích hợp. Sự kiên tŕ và hiểu biết luôn là những yếu tố không thể thiếu khi đối diện với tuổi mới lớn.

Trích từ Nổi Lửa Cho Đời 3 của Cha Giuse Lê Quang Uy

Trung Tâm Mục Vụ Ḍng Chúa Cứu Thế Việt Nam