SƯ PHẠM
GIÁO LƯ

Lm Đỗ Xuân Quế, OP

MỤC LỤC 

LỜI NÓI ĐẦU

 

TỔ CHỨC VÀ GIẢNG DẠY MỘT LỚP GIÁO LƯ

CHƯƠNG I: ....................................... CHUẨN BỊ XA ĐỂ SOẠN MỘT BÀI GIÁO LƯ

TIẾT I:.................................................................. NHỮNG ĐIỀU KIỆN VẬT CHẤT

TIẾT II:.............................................................. NHỮNG ĐIỀU KIỆN TINH THẦN

CHƯƠNG II:.................................. CHUẨN BỊ GẦN ĐỂ SOẠN MỘT BÀI GIÁO LƯ

TIẾT I:........................................................................... XẾP ĐẶT CHƯƠNG TR̀NH

TIẾT II:....................................................................................... SOẠN BÀI GIÁO LƯ

PHỤ TRƯƠNG

CHƯƠNG III:........................................................................... TR̀NH BÀY LỜI CHÚA

TIẾT I: ....................................................................................................... HUẤN GIÁO

TIẾT II: ............ TR̀NH BÀY VÀ LỢI DỤNG CÁC SỰ KIỆN NHƯ THẾ NÀO ?

TIẾT III: ............................................ TÍNH DUY NHẤT CỦA BÀI NÓI CHUYỆN

TIẾT IV: ....... CÁCH THẾ GIÚP CHO BÀI NÓI CHUYỆN ĐƯỢC LINH ĐỘNG

CHƯƠNG IV: .......... LIÊN LẠC GIỮA BÀI NÓI CHUYỆN VÀ SỰ CẦU NGUYỆN

CHƯƠNG V: ..................... VIỆC DẠY GIÁO LƯ VÀ HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM

TIẾT I:...................................... DẠY GIÁO LƯ VÀ HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM

TIẾT II: ............ VÀI CÁCH THẾ ĐẶC BIỆT ĐỂ HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM

CHƯƠNG VI:........................................... CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LỚP GIÁO LƯ

TIẾT I:................. TƯƠNG QUAN GIỮA BÀI GIÁO LƯ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG

TIẾT II:............................................................................... CÁC LOẠI HOẠT ĐỘNG

TIẾT III: ........... CÁC ĐỊNH LUẬT PHẢI THEO KHI LÀM CÁC HOẠT ĐỘNG

CHƯƠNG VII:.................................................................................. THỦ BẢN GIÁO LƯ

TIẾT I: ................................ NHẬN XÉT VÀ PHÊ B̀NH VỀ THỦ BẢN GIÁO LƯ

TIẾT II: ............ ĐỊA VỊ CỦA THỦ BẢN GIÁO LƯ TRONG VIỆC HUẤN GIÁO

TIẾT III:....................................... PHẨM CHẤT CỦA MỘT THỦ BẢN GIÁO LƯ

TIẾT IV: ..................................................................... CÁCH THẾ DÙNG THỦ BẢN

CHƯƠNG VIII: .......................... THẨM ĐỊNH-KẾT QUẢ CỦA VIỆC HUẤN GIÁO

TIẾT I: ............................................................................... TIỂU CHUẨN HỮU HIỆU

TIẾT II: ................................................................... TIÊU CHUẨN THỰC NGHIỆM

KẾT LUẬN

 

LỜI NÓI ĐẦU

Đây là khái quát một vài vấn đề trong môn sự phạm giáo lư. V́ số thời giờ có hạn, nên cũng phải giới hạn luôn giáo tŕnh này mà chỉ diễn giải vắn tắt về việc tổ chức và giảng dạy một lớp giáo lư trong mấy chương dưới đây :

I. Chuẩn bị xa để soạn một bài giáo lư

II. Chuẩn bị gần để soạn một bài giáo lư

III. Tŕnh bày một bài nói truyện về giáo lư

IV. Dùng các sự kiện để diễn giải

V. Tác dụng của bài nói truyện

VI. Huấn luyện lương tâm

VII. Các hoạt động trong lớp giáo lư

và cuối cùng, sẽ đưa ra một vài tiêu chuẩn để dựa vào đó mà thẩm định một lớp học giáo lư.

Sư phạm, phương pháp, các chỉ dẫn thực hành về giáo lư hay các môn học khác chẳng qua chỉ là những gợi ư, khởi điểm cho công cuộc nghiên cứu và thực tập của mỗi cá nhân mà thôi. V́ thế, không nên coi giáo tŕnh này như một thứ “bửu bối” cho khoa sư phạm giáo lư, và yên trí lớn rằng học xong giáo tŕnh đây là có thể thành thạo môn giáo lư. Nếu như vậy th́ sự đời quả thật sẽ dễ dàng và mọi việc trên thế gian này đều giản dị cả.

Vậy, chỉ nên coi đây như một cứ điểm sơ lược, cần được bổ túc thêm bằng các suy nghĩ, t́m ṭi riêng và kiểm chứng khi đem ra áp dụng, để tự ḿnh có kinh nghiệm sống mà điều chỉnh lại cho phù hợp với hoàn cảnh và những điều kiện thiết thực nơi ḿnh dạy giáo lư.

Thường giữa lư thuyết với thực hành cũng như giữa lư tưởng với thực tế vẫn có một khoảng cách khá xa. V́ thế những điều nói ở đây đúng ra phải như vậy, nhưng thực ra khó mà như vậy v́ nhiều lư do và hoàn cảnh khác nhau. Bởi vậy đừng ai ảo tưởng và phải luôn thận trọng với hoàn cảnh cụ thể nơi ḿnh sống, để nếu thấy khó áp dụng hay chưa áp dụng được, th́ càng phải tự ḿnh t́m cách thích nghi.

 

TỔ CHỨC VÀ GIẢNG DẠY
MỘT LỚP GIÁO LƯ

CHƯƠNG I :
CHUẨN BỊ XA ĐỂ SOẠN MỘT BÀI GIÁO LƯ

TIẾT I : NHỮNG ĐIỀU KIỆN VẬT CHẤT

Ta thường coi nhẹ những điều kiện vật chất của khoa huấn giáo như pḥng học, đồ đạc, thời giờ và con số trẻ em học giáo lư. Những điều kiện này gắn liền với khoa huấn giáo ; chúng cho thấy những đ̣i hỏi của Lời Chúa và của thính giả, đồng thời bày tỏ sự kính trọng đối với Lời Chúa và cử toạ.

I. PH̉NG HỌC

Các pḥng học giáo lư, nếu là nhà thờ hay nhà nguyện th́ càng chứng tỏ khía cạnh tôn giáo của khoa huấn giáo và sự hiện diện của Lời Chúa và như vậy gần với Phụng vụ hơn. Tuy vậy, ở nhà thờ hay nhà nguyện th́ khó làm những hoạt động để nội tâm hoá Lời Chúa. Nếu chia thành từng nhóm nhỏ, có vẻ thân t́nh gần gũi hơn và làm cho Lời Chúa như dễ ăn nhập với đời sống hằng ngày. Nếu dạy trong lớp học, th́ về phương diện sự phạm có thể dễ dàng hơn v́ có không khí lớp học, nhưng tương đối lại khó giúp cầu nguyện.

Nhưng dù ở nơi nào, cũng phải liệu sao cho có sự sạch sẽ, dễ coi để chứng tỏ ḷng ta trọng kính Lời Chúa và giúp cho các em có điều kiện thuận lợi để đón nghe và nội tâm hoá Lời Người và cũng chứng tỏ ḷng ta trọng kính những người đến nghe Lời Chúa nữa.

Tất nhiên, không phải pḥng học làm cho giáo lư trở nên ling thiêng mà chính là giáo lư, Lời Chúa, tinh thần của giáo lư viên và trật tự trong pḥng học làm cho nơi đó trở nên linh thiêng. Nhưng pḥng học có thể giúp ta những điều kiện thuận lợi để đạt mục đích, làm cho Lời Chúa dễ đón nhận và gây hứng thú nơi người nghe. V́ thế, các giáo lư viên phải để ư săn sóc và tô điểm pḥng học giáo lư, sao cho sạch sẽ gọn gàng, vui tươi, đẹp mắt.

II. THỜI GIAN HỌC GIÁO LƯ

Sau pḥng học là thời gian học giáo lư. Thường ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới, thời gian học giáo lư là những năm tiểu học, trước khi rước lễ vỡ ḷng. Sau giai đoạn này, người ta thấy không cần phải học giáo lư hay không có thời giờ học giáo lư nữa. Đó là một ngộ nhận đáng tiếc, đành rằng trong thực tế, người ta chỉ chú trọng và dồn lực lượng vào tuổi thiếu nhi và sau đó khi qua tuổi thiếu nhi rồi, người ta không chú trọng đến việc học và dạy giáo lư bao nhiêu. Đàng khác, theo thiển kiến, cả về phía người dạy lẫn học giáo lư, đến tuổi thanh niên hay trưởng thành rồi, người ta không có thời giờ và cũng không biết dạy ǵ hay có ǵ để học nữa, v́ sách giáo lư đă học gần như thuộc ḷng những năm c̣n nhỏ ở tiểu học.

Thực ra, đây chỉ là một quan niệm lỗi thời cần phải sửa đổi cả về phía giảng viên lẫn người thụ huấn, v́ giáo lư không đơn giản như vậy. Bởi thế, mấy năm gần đây, người ta mới dùng chữ huấn giáo thường xuyên hơn giáo lư, v́ giáo lư (cũng gọi là sách bổn) chỉ là một phần trong khoa huấn giáo. Mà huấn giáo phải kéo dài và bao trùm tất cả cuộc đời, v́ chẳng bao giờ ta học hiểu Lời Chúa cho đủ, nhất là khi trưởng thành rồi, bận công việc làm ăn sinh sống có mấy lúc ta nghĩ đến việc trau dồi các hiểu biết về đạo, để giảm bớt sự chênh lệch giữa những điều ta hiểu biết về việc đời với những điều ta hiểu biết trong phạm vi đạo.

Cho nên, các giáo lư viên phải liệu tranh thủ cho bằng được số thời giờ cần thiết để dạy giáo lư trong các bậc tiểu, trung học và nhấn mạnh nơi các người thụ huấn về sự cần thiết phải kéo dài và trau dồi thêm các kiến thức về đạo lư, một khi đă lớn.

Hiện nay, hay xảy ra trường hợp những người xin học đạo vội vàng để làm lễ cưới. Ta nên coi chừng với những trường hợp này. Kinh nghiệm cho thấy nếu học đạo vội th́ cũng giữ đạo vội vàng và rất hời hợt. Vấn đề là vào đạo để lấy vợ lấy chồng hay cốt yếu là sống đạo và chứng đạo ?

Để bù vào sự thiếu hụt thời giờ trong vấn đề dạy đạo và học đạo, ta có thể tạo một không khí đạo thật mạnh mẽ và cho thấy tính đứng đắn, nghiêm chỉnh, trung thực của Lời Chúa, đồng thời sống tinh thần đức tin một cách hết sức mănh liệt, bên cạnh những người ta dạy đạo cho. Ngoài ra là số thời giờ ta dành ra để dạy giáo lư cũng như giá trị sư phạm của ta sẽ chứng tỏ tầm quan trọng ta mặc cho việc loan truyền Lời Chúa.

III. SỐ NGƯỜI THAM DỰ

Đây là một vấn đề nan giải v́ thiếu trường sở và giáo lư viên. Trong các họ đạo hiện nay, cha sở, các thầy, các nữ tu hoặc các viên chức thường hay dạy giáo lư ở nhà thờ, tập trung đủ mọi hạng người lớn bé già trẻ, hay nếu phân chia ra từng loại th́ có khi dạy luôn từng cả trăm người một. Trong những hoàn cảnh và trường hợp như thế, làm thế nào có thể thích hợp cho tất cả và giữ được không khí trang nghiêm trật tự, cũng như bảo đảm được sự hữu hiệu cho những lời ta giảng dạy. Đàng khác, làm thế nào có sự thông cảm, hiểu biết chặt chẽ giữa giảng viên và mỗi học viên. Trong các lớp học khác ở các trường, ta đă rơ sự bất tiện của con số quá đông, sự ồn ào, hỗn độn, sự khó khăn cho giáo sư thông đạt lời giảng huấn và cho học sinh lănh nhận lời giảng huấn đó.

Lư tưởng là con số từ 25-40. Nhưng t́m đâu cho đủ số pḥng học và giáo lư viên ? Cuối cùng, có lẽ nên phân chia thành nhiều lớp, học vào nhiều ngày và giờ khác nhau, với điều kiện cả giáo lư viên lẫn học sinh phải bằng ḷng chấp nhận sự cực nhọc và vất vả gấp đôi. Nhưng sự cao quư và ơn ích của Lời Chúa chẳng đáng cho ta chấp nhận sự hy sinh này ư ? Ngoài ra, tinh thần đức tin mạnh mẽ và sở trường của giáo lư viên có thể giải quyết được một phần nỗi khó khăn do con số đông này mang lại, v́ nếu học sinh thấy giáo lư viên đạo đức sâu xa đích thực, lại biết cách giảng dạy th́ chắc hẳn chúng cũng dễ chú ư và theo dơi lời giảng dạy hơn.

TIẾT II : NHỮNG ĐIỀU KIỆN TINH THẦN

I. NẮM VỮNG VẤN ĐỀ

Trước khi giảng dạy một lớp giáo lư, giáo lư viên phải thông thạo và hiểu biết đến độ gần như chiếm hữu cả lư thuyết lẫn thực hành các nguyên tắc của khoa huấn giáo. Và như vậy, muốn thành giáo lư viên phải được huấn luyện, học hỏi trước cũng như khi dạy các môn học khác ở đời. Dù là nội dung sứ điệp hay phương pháp giảng dạy, cái nào giáo lư viên cũng phải thành thạo. Riêng về nội dung sứ điệp, giáo lư viên phải sống sứ điệp ấy trước đă, sao cho ḿnh thật thấm nhuần để khi truyền lại sứ điệp, có thể diễn ra một cách hết sức hồn nhiên, tự phát, không có chi là g̣ bó hay gượng ép như khi người ta nói hùng biện là miệng nói ra điều tràn đầy trong ḷng. Nếu khi truyền thông sứ điệp mà c̣n phải g̣ gẵng, hay nói ra mà không lấy ǵ làm xác tín th́ sao có thể cảm hoá người nghe được ? Hoặc khi giảng dạy mà c̣n phải ḍ dẩm để áp dụng phương pháp sự phạm th́ làm sao có thể tự do truyền thông Lời Chúa.

Vậy, chuẩn bị xa là phải học để nắm vững nội dung sứ điệp và phương pháp giảng dạy, khi dạy giáo lư là “hành nghề” thật chứ không phải bấy giờ mới thực tập hay lặp lại những bài mẫu đă học ở nhà trường, để khi tŕnh bày một bài nói chuyện về đạo đức với cử toạ, ta chỉ c̣n phải bận tâm làm cho người nghe hiểu và đem áp dụng thực hành, chứ không c̣n phải lo xem ḿnh nói có đúng với nội dung giáo thuyết hay phương pháp sư phạm không ? Những vấn đề này phải lo học hành luyện tập từ trước. Điều quan hệ là khi dạy giáo lư luôn luôn lắng nghe tiếng Chúa và để ư nh́n xem phản ứng của cử toạ đối với lời ḿnh nói, biết khiêm nhường phục thiện để sửa sai khi t́m ra hay có ai bảo cho biết những sơ hở, khuyết điểm khi dạy giáo lư.

II. THỰC HÀNH VÀ SUY NGHĨ

Muốn nắm vứng vấn đề, không phải một sớm một chiều mà được. Phải khổ công học hành luyện tập nhiều năm, phối hợp lư luận và hành động, thực tập và lư thuyết. Trong thời gian thụ huấn, tự nhiên ta chưa có kinh nghiệm, thường nghiêng về lư thuyết sách vở nhiều hơn. Ngay cả khi mới ra trường, lúc mới hành nghề giáo lư cũng vậy, nhiều khi rất vụng về lúng túng, c̣n quá lệ thuộc vào lư thuyết, phương pháp, nguyên tắc, thành ra thiếu tự nhiên bột phát. Vậy, phải khiêm nhường chấp nhận giai đoạn ngượng ngập vụng về này. Nhưng coi chừng, chấp nhận không có nghĩa là buông xuôi thất vọng, chịu măi một bề, mà phải coi đó như một giai đoạn nhất thời phải trải qua để rút kinh nghiệm mà sửa đổi và tiến bộ. Dần dà với kinh nghiệm những lần thực tập áp dụng phương pháp, lư thuyết, ta sẽ đi đến chỗ tự ḿnh biết phải hành động thế nào, đâu là những cạm bẫy, khuyết điểm cần phải tránh.

III. HỌC HỎI VÀ NGHIỀN GẪM LỜI CHÚA

1. Học hỏi

Dạy giáo lư là truyền thông Lời Chúa cho người ta bằng h́nh thức giảng dạy một cách khúc chiết mạch lạc. Lời Chúa ta loan truyền là toàn bộ sứ điệp cứu độ. V́ thế, trước khi truyền thông, phải học hỏi cho hiểu biết kỹ sứ điệp này. Có nhiều cách học Lời Chúa. Có cách học sâu xa uyên bác của những nhà chuyên môn Thánh Kinh, thần học, phụng vụ. Tất nhiên, không đ̣i các giáo lư viên phải học Lời Chúa theo lối đó, đành rằng có những giáo lư viên là những nhà chuyên môn trong các địa hạt này. Nhưng điều không thể bỏ qua được là giáo lư viên phải biết Kinh Thánh, phụng vụ, thần học theo mức độ thông thường, nghĩa là biết những nét chung về lịch sử ơn cứu độ mặc khải trong Kinh Thánh, biết cách sinh hoạt phụng vụ, tổ chức việc cử hành các lễ nghi cho có ư nghĩa và biết đạo lư về Chúa, các bí tích, ân sủng, Giáo Hội, thiên đàng, hoả ngục, sự chết, sự sống lại, v.v… Không những biết mà c̣n có thể cắt nghĩa cho người khác hiểu được. Muốn vậy, cần phải được huấn luyện, học hỏi, nghiên cứu không ngừng, tuỳ khả năng, thời giờ và chức nghiệp của ḿnh. Nếu là tu sĩ, chủng sinh, linh mục th́ khác. Nếu là giáo dân chuyên dạy giáo lư hay giáo dân thiện chí t́nh nguyện tham gia hoạt động tổ tông đồ bằng h́nh thức dạy giáo lư th́ khác. Có điều phải liệu sao cho việc nghiên cứu học hỏi này được duy nhất, tập trung và đưa về con người của Chúa Giê-su, Đấng xuống trần gian để cứu chuộc nhân loại, giúp sống đời sống phụng vụ và gần với kinh nghiệm thông thường của các tín hữu trong đời sống hằng ngày trong gia đ́nh, ngoài xă hội, khi họ phải đối phó với những vấn đề hết sức thiết thực như cơm áo, công việc làm ăn, buôn bán, t́nh yêu, hạnh phúc, tội lỗi, sự đau khổ, tai nạn rủi ro, sự bất công tàn nhẫn, chiến tranh, bạo lực, v.v… Phải nói như vậy, v́ lối giảng dạy giáo lư của ta từ trước đến nay thường thiếu tính thức thời. Và v́ thế không làm cho người nghe giảng đạo lưu tâm bao nhiêu và nhận thấy đạo lư có liên lạc chặt chẽ với đời sống của họ. Đó cũng là lư do tại sao phần đông giáo dân ít biết và ham học đạo lư.

Đàng khác, việc hỏi học nghiên cứu lại phải diễn ra thế nào để mang lại lợi ích và hứng thú cho chính đương sự. Xưa nay, người ta vẫn ngại học đạo lư, kể cả những người có nhiệm vụ như chủng sinh, tu sĩ và linh mục. Có chăng là học v́ bó buộc phải học để được lên chức và khi lên chức hay “tới bến” rồi th́ mấy ai c̣n chịu khổ công trau dồi những môn học đó.

Thực ra, những môn học này không lấy ǵ làm vẻ vang và có lợi cho bằng những môn học và công việc khác. Giới giáo sĩ, linh mục, tu sĩ mà c̣n như thế, nói chi đến giáo dân. Thực trạng là như vậy. Nói ra không phải để than phiền hay chỉ trích, mà để nh́n vào một thực tại bi đát phải đối phó, nếu chúng ta muốn là người trung thực với ḿnh, với sứ mệnh và ơn gọi.

Cho nên vấn đề là chịu “đầu tư” và khổ công học hành, nghiên cứu những môn học về đạo, về Chúa và làm cho những môn đó trở nên hấp dẫn, thiết thực, bằng tất cả những đóng góp mới mẻ của các khoa học nhân văn như tâm lư, sư phạm, xă hội, khoa học, kỹ thuật áp dụng cho phạm vi đạo lư.

2. Nghiền ngẫm

Học hỏi nghiên cứu là động tác thứ nhất trong công cuộc chuẩn bị xa để giảng dạy giáo lư. Động tác thứ hai đi liền với động tác thứ nhất là nghiền ngẫm những điều ta đă học hỏi. Việc nghiền ngẫm này rất quan trọng. Có thể nói đây là việc “tiêu hoá’ các kiến văn đạo lư đă học được, để những kiến văn đó trở nên của ḿnh, lưu thông trong huyết mạch, nuôi dưỡng sự sống thiêng liêng của ta và do đấy có thể truyền thông sức sống cho người khác. Đó là công tác của giáo lư viên và cũng là điều kiện ngoại tại giúp người đó thành công trong việc truyền thông sứ điệp cứu độ cho người khác.

Việc nghiền ngẫm này có thể diễn ra bằng cách dựa vào những điều đă học về đạo lư, về Lời Chúa mà đem ra suy đi nghĩ lại, t́m hiểu cho thấu đạo hơn, bằng cách đọc thêm sách báo, hoặc dùng chính những ư tưởng đó để cầu nguyện trong đời sống hằng ngày, hay áp dụng vào ngay chính cuộc đời của ta. Như vậy, Lời Chúa có thể là một cuộc tra hỏi không ngừng, một tiếng gọi liên lỉ mời ta điều chỉnh lại cuộc đời cho thuận hợp với đường lối của Chúa, hay nói khác đi một tác động chuyển hoá nội tâm liên tiếp. Việc nghiền ngẫm này có tác dụng làm cho Lời Chúa trở thành nội tại trong ta, khiến ta mỗi ngày một đồng hoá với Lời Người, đến nỗi khi ta đem lời ấy truyền thông cho người khác th́ hành vi ấy diễn ra như tự phát và do đấy có sức cảm hoá ḷng người. Bằng không th́ lời nói của ta chỉ hời hợt, giả tạo dù ta có tài ăn nói đến đâu đĩ nữa, v́ những lời đó thật là vô hồn và thiếu kinh nghiệm sống cá nhân, điều kiện cần thiết để gây tin tưởng và tín nhiệm nơi người nghe.

IV. HIỂU BIẾT CỬ TOẠ

1. Hiểu biết theo khoa học và hiểu biết theo kinh nghiệm sống

1/ Hiểu theo trực giác và khoa học

a. Trực giác

Theo tâm lư thuộc phạm vi tôn giáo, có hai thái độ suy tưởng đối nghịch và bổ túc lẫn nhau : đó là thái độ sống t́m cách thông cảm, tham dự, thấu hiểu người khác bằng cách quan sát một cách chăm chú và kính trọng, khiến ta có thể hiểu được đời sống thiêng liêng của họ. Cha sở họ Ars đă thấu cảm được ḷng người theo lối này. Một giáo lư viên cũng phải có thể phân biệt được tâm hồn của các thanh thiếu niên như vậy. Giáo lư viên nào cũng có thể có một phán đoán về cử toạ của ḿnh theo lối trực giác. Nhận thức này có thể sâu xa, phong phú, nhưng cũng mơ hồ v́ nhiều khi chỉ dựa vào những dấu hiệu khả nghi và khó giải thích, cho nên không có tính phê b́nh, khách quan và cũng chẳng có chi gọi được là “khoa học”.

b. Khoa học

Ngược lại, có một lối nhận thức khác không dựa vào trực giác và t́nh cảm mà dựa vào lư trí để phân tích t́m hiểu, theo những định luật khách quan. Đó là lối nhận thức theo khoa học. Mục đích của lối nhận thức này là t́m hiểu một cách chính xác những cơ cấu khách quan biểu lộ đời sống tôn giáo và các định luật điều khiển những cơ cấu đó. Như vậy, người ta sẽ t́m cách xác định cách thế một trẻ em 7 hay 10 tuổi hoặc một thanh niên h́nh dung và tŕnh bày về Chúa thế nào. Theo lối này, phương pháp dùng phải thật chính xác, có tính phê b́nh và đưa đến những định luật vững vàng. Thường là nghiên cứu một chi tiết, nhưng chi tiết được quan sát đó sẽ rất khách quan và khó ḷng chối căi được. Lối nhận thức khách quan này cũng như lối nhận thức theo trực giác bổ túc lẫn nhau và thực ra chỉ là hai giai đoạn của cùng một nhận thức, v́ không có thái độ cảm thông, sự nhận thức sẽ khô khan cứng cơi, thiếu t́nh người ; ngược lại, nếu không có thái độ phê b́nh, khách quan, sự nhận thức sẽ mơ hồ lỏng lẻo.

2/ Kỹ thuật

Sau lối nhận thức vừa kể là phương pháp kỹ thuật. Kỹ thuật là cách thế hành động để đạt tới mục đích. Kỹ thuật ở đây hiểu là cách thế đem một kiến thức ra áp dụng trong thực hành. Kỹ thuật này thay đổi và tiến bộ tuỳ các kiến thức ta có. Thường khi nói đến kỹ thuật là hiểu về kỹ thuật khoa học, phát sinh từ một nhận thức có tính khoa học nghĩa là duy lư, đ̣i hỏi chính xác. Kỹ thuật khoa học ngược với kỹ thuật thực nghiệm, v́ thực nghiệm dựa vào kinh nghiệm hơn phân tích, lư luận phê b́nh và do đấy nhiều khi thiếu chính xác.

Hiện nay, người ta thường dùng kỹ thuật khoa học khi dạy giáo lư, như sử dụng phương pháp trắc nghiệm, phân tích các thứ năo trạng và áp dụng các định luật của năng động tập thể v.v…

Tuy dùng kỹ thuật nhưng không nên phế bỏ cách thế hành động riêng của mỗi người. Có chăng là áp dụng kỹ thuật để kiện toàn hành động đó cho thêm chính xác và hữu hiệu, v́ trong lối hành động của mỗi cá nhân có một cái ǵ là hồn nhiên, bột phát do bản tính riêng của mỗi người, cũng như cách thế sống sứ điệp cứu độ và lối nh́n cử toạ của họ mà ta phải kính trọng. Tất nhiên, cách thế cá nhân này không hoàn hảo, nên cần được thanh luyện phong phú và hữu lư hoá bằng lối suy nghĩ có phê b́nh, phân tích để giúp đương sự thấy những khuyết điểm và kẽ hở mà cải tiến. Và đó chính là vai tṛ và nhiệm vụ của nhà trường, các cố vấn và kỹ thuật khoa học.

2. Biết do sách vở và biết do quan sát

Nhưng đối với phần đông giáo lư viên, vấn đề cụ thể đặt ra một cách khác, nghĩa là họ biết cử toạ một phần do quan sát và một phần do đọc các sách báo chuyên môn về tâm lư cử toạ. Điều cần là sách vở phải giúp họ quan sát tinh tế và chính xác. Sách vở soi dẫn việc quan sát và quan sát đối chiếu với sách vở làm cho nhận thức thêm sâu sắc và sách vở nhờ thế cũng trở nên linh động. Nghĩa là thường càng có kinh nghiệm bao nhiêu th́ lại càng thích đọc sách bấy nhiêu với điều kiện là sách vở phải thích hợp với kinh nghiệm, tâm trí và văn hoá của giáo lư viên. Hay nói ngược lại, càng nghiên cứu những sách vở có giá trị và thích hợp bao nhiêu th́ kinh nghiệm đích thực, chín chắn, vững vàng lại càng phát triển và làm cho giáo lư viên cảm thấy thoải mái khi thực hành bấy nhiêu.

3. Quan sát trong lớp và ngoài lớp

Trong một lớp học giáo lư, ta có rất nhiều dịp quan sát các trẻ em và có thể quan sát được nhiều lắm, từ áo quần, tóc tai, mặt mũi đến khả năng tri thức và nhậy cảm, trí nhớ, trí hiểu, kiểu cách ăn nói, đi đứng, tính nết, t́nh cảm, v.v… Dần dà trong năm học, ta lại càng nhận thấy rơ hơn các đức tính cũng như các nết xấu của chúng. Nhiều giáo lư viên cùng quan sát là một điều rất hữu ích, v́ những nhận xét của người này có thể bổ túc cho người kia. Cho nên, lư tưởng là giáo lư trưởng nên làm một hộp thẻ về từng em một, để hiểu biết kỹ hơn, ngơ hầu có thể theo dơi và hướng dẫn chúng hữu hiệu hơn. Nếu làm thêm được những cuộc trắc nghiệm về từng em một th́ lại càng tốt hơn nữa, ít là trắc nghiệm về những điều chính yếu như về tâm thức tôn giáo của chúng chẳng hạn.

Dù vậy, sự hiểu biết của riêng ḿnh ta vẫn không đầy đủ mà c̣n cần sự đóng góp của các giáo lư viên khác, của phụ huynh, giáo sư và chúng bạn của các học sinh nữa, để giúp ta giải quyết nhiều vấn đề liên hệ. Hơn nữa, nếu chỉ quan sát để hiểu biết học sinh trong lớp học không thôi th́ chưa đủ, v́ thường học sinh không bộc lộ chân tướng của chúng trong lớp học bao nhiêu.

Vậy, đối với thanh thiếu niên, giáo lư viên c̣n cần dựa vào những điểm sau đây để t́m hiểu thêm chúng :

1/ Các bài giảng trong lớp : để cho học sinh được tự do phát biểu ư kiến phê b́nh, ngơ hầu thấy rơ phản ứng của chúng, do đấy có thể nh́n thấy bộc lộ những vấn đề tôn giáo của chúng. Nhưng thường người Việt Nam ưa nói chuyện thời sự, chính trị, tiếu lâm hơn thích tranh luận và phát biểu ư kiến trong những cuộc hội họp hay sinh hoạt tập thể v́ chưa có thói quen. Bởi thế, phải luyện tập cho học sinh có thói quen này và nhiều khi (nhất là ban đầu) phải thôi thúc chúng nữa. Nếu không nói, không phản ứng làm sao người khác có thể biết được quan điểm, ư kiến, lập trường của ḿnh.

Ngược lại, nếu phần đông trong chúng ta ngại hay sợ phát biểu ư kiến nơi công chúng th́ lại hay tâm sự, nói nhỏ với một vài người quen thân ở chỗ người ngoài không nghe thấy. V́ vậy, các giáo lư viên phải biết khai thác một cách khôn khéo chúng bạn của các học sinh để biết chúng nghĩ và ham thích những ǵ. Tất nhiên, khai thác ở đây không có nghĩa là ṭ ṃ, ŕnh xét hay canh chừng mà chỉ có ư nói gặp gỡ, hỏi han một cách khéo léo để biết về bạn hữu của chúng.

2/ Nh́n xem sinh hoạt của các học sinh những khi chúng họp hội đoàn, đi cắm trại hay làm công tác ǵ chung v.v… xem thái độ, cách tham gia và phản ứng cùng cách thế đối xử của chúng với bạn bè như thế nào ?

3/ Xem chúng ưa đọc sách báo nào, thích nghe những bản nhạc, ưa thích những tiết mục nào trong chương tŕnh Tivi, Radio, v.v… Lại để ư xem khi mệt mỏi, chán nản, buồn bực, chúng có ǵ để giải khuây hay t́m đến những môn giải trí nào, hoặc chẳng giải trí ǵ cả ?

Những điểm này cũng có thể đem áp dụng cho người lớn. Loại người này thường sống xa các giáo lư viên, nhưng lại rất có thể đến tiếp xúc, bày tỏ những nhu cầu hay khó khăn của họ, do đấy, hai bên có thể đối thoại để dễ biết nhau hơn.

4. Hiểu biết lớp học

Nếu là người lớn học giáo lư, ta phải biết cảnh vực bao quanh họ, năo trạng của cảnh vực đó, nghề nghiệp và những mối bận tâm của họ. C̣n đối với các học sinh, ta cũng biết năo trạng của lớp chúng học. Có một thứ năo trạng chung cho mỗi loại người cùng sinh hoạt với nhau trong một tập thể. Về điểm này, ta có thể dùng phương pháp phân tích năo trạng, nghĩa là đưa ra một bản câu hỏi, rồi phát cho mỗi học sinh, yêu cầu các em trả lời một cách thành thật, chung quanh một điểm giáo lư ta muốn giảng dạy, để biết thái độ và phản ứng của chúng đối với vấn đề này như thế nào, dựa vào các sự kiện, các khẩu hiệu, lời chứng (thí dụ người ta thường nói về Chúa Giê-su, Giáo Hội, các vị Giám mục như thế này, c̣n ư riêng các em nghĩ sao ?).

Làm như vậy, không phải chỉ có ư hiểu biết lớp học một cách hoàn toàn khách quan mà chính là để biết rơ hơn thái độ của các học sinh đối với vấn đề đạo, nhờ đó có thể nhận thấy những nhu cầu, khát vọng, quan niệm hay trở ngại của chúng đối với Lời Chúa mà t́m phương đối phó, đồng thời căn cứ vào câu trả lời của chúng mà hướng về bài giáo lư ta sẽ dạy. Nhờ bản trả lời của các học sinh, ta có thể rút ra những điểm sau đây :

1/ Biết cách phải dạy những ǵ hoặc bổ túc hay uốn nắn những ư tưởng sai lạc nơi các học sinh.

2/ Cách thế các học sinh hiểu và sống mầu nhiệm ta sẽ dạy thế nào cũng có thể thấy thoáng hiện qua những câu trả lời đó.

3/ Nhờ vậy mà biết xu hướng, khát vọng, những vấn nạn hoặc bế tắc của học sinh hay tính ươn lười không muốn t́m hiểu của chúng.

4/ Cuối cùng biết được ngôn ngữ học sinh dùng để diễn tả sứ điệp cứu độ mà t́m cách điều chỉnh lại trong bài nói chuyện, nếu chúng dùng sai.

5. Biết do tiếp xúc

C̣n một cách biết khác thông thường và hữu hiệu là tiếp xúc giữa người với người. Muốn cho sự tiếp xúc này đem lại nhiều kết quả, phải liệu cho giữa học sinh và giáo lư viên có sự tín nhiệm, cởi mở và thiện cảm với nhau, v́ ta dễ nghe và dễ nói cũng như dễ bộc lộ với người mà tự nhiên ta thấy có thiện cảm.

Thiện cảm là điều tự nhiên có giữa người này với người kia nhưng cũng có thể là kết quả của ḷng mến phục do sự trao đổi, tiếp xúc mà thân hiểu biết và khám phá ra nhau. Đối với các trẻ em cũng thế. Tự nhiên chúng thích người này hay không thích người kia. Và giáo lư viên cũng vậy, tự niên thấy đứa nhỏ này dễ thương, thích t́m cách gần gũi, tỏ ḷng thương mến, săn sóc nó và ngược lại nh́n đứa khác lại thấy ngứa mắt, khó chịu và không muốn nói năng tiếp xúc ǵ với nó.

Vậy, phải vượt qua những mối thiện cảm hay ác cảm tự nhiên mà căn cứ vào con người của mỗi em, đành rằng không thể nào loại bỏ được hết những động tác thông thường và tự nhiên của t́nh cảm, đồng thời đừng quên nhiệm vụ chính yếu của giáo lư viên là làm cho Lời Chúa thấm nhuần tâm hồn những người thụ huấn, ngỏ hầu h́nh ảnh về Chúa trở nên sống động nơi họ.

Muốn tiếp xúc, phải gần gũi đi lại. Thường ở xứ ta, người lớn phải đến với người nhỏ th́ nhỏ mới dám. Ngoài ra, dù là lớn, nhưng lại phải tỏ ra bé nhỏ, che dấu cái “cao lớn”, thông minh, vĩ đại hay tài năng của ḿnh đi để các trẻ em khỏi mặc cảm sợ hăi, khi giao tiếp với những người lớn. Đừng t́m cách trổ tài hay khoe khoang sự thông minh, tài giỏi của ḿnh làm chi mà hăy trở nên đơn sơ giản dị, gần gũi, thông thường cho trẻ em dễ hiểu và dễ theo, bắt chước gương Chúa Giê-su đă chẳng khư khư giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, mà lại hạ ḿnh xuống, huỷ ḿnh đi, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.

6. Cảm thông với cử toạ theo lối nh́n của Chúa

Các bài dạy giáo lư của ta chính là giáo lư của Chúa Giê-su nói với thế giới hiện đại. Nói như vậy có nghĩa là giáo lư viên cũng phải có cái nh́n đối với cử toạ như Chúa Giê-su đối với quần chúng đến nghe Người giảng dạy khi xưa. Tất cả những ǵ chúng ta hiểu biết về trẻ con, thanh niên, người lớn đều phải hoà hợp trong tinh thần đức tin, làm cho ta cảm thông được với họ theo lối nh́n của Chúa Ki-tô. Ta phải nh́n cử toạ theo ánh sáng và thiện ư của Chúa, nghĩa là t́m xem Chúa muốn họ làm ǵ, Chúa gọi họ bằng cách nào, họ có thể làm ǵ để đáp lại tiếng gọi của Chúa ?

Nếu chúng ta chỉ biết cử toạ theo phương pháp khoa học kỹ thuật, sư phạm và tâm lư mà không có cái nh́n theo đức tin và sự cảm thông gặp gỡ đích thực giữa ta với Thiên Chúa th́ sự hiểu biết của ta rất có thể là uyên thâm, xác đáng, nhưng chỉ dừng lại ở bề mặt mà không đi vào chiều sâu của ḷng người, không gây được những tác động mănh mẽ biến đổi cuộc đời họ. Nói khác đi, nếu ta chỉ chú trọng đến tâm lư, xă hội, sư phạm, phương pháp, chương tŕnh mà coi thường việc chuẩn bị cho người ta gặp gỡ Chúa Ki-tô th́ giáo lư của ta chưa phải là giáo lư đích thực.

V́ vậy, nh́n cử toạ theo tinh thần đức tin và biết cảm thông với họ theo lối nh́n của Chúa, có nghĩa là giáo lư viên vẫn tận dụng các đóng góp quư giá của các khoa học nhân văn, nhưng ḷng trí th́ đầy tín nhiệm và từ tốn, không băn khoăn lo sợ phải nói ǵ, nói làm sao với cử toạ, v́ Chúa Thánh Thần sẽ giúp họ trong việc đó, như lời Chúa Giê-su phán : “Thánh Thần sẽ dạy anh em biết những điều phải nói” (Lc 12,11-12). Niềm tín thác cậy trông này sẽ làm cho giáo lư viên nh́n trẻ em một cách thanh thản và cảm thông với chúng. Về phương diện nhân loại, họ đă làm những ǵ cần thiết để sửa soạn, c̣n về phần thiêng liêng Chúa Thánh Thần sẽ linh hứng. Do đấy, giữa hoạt động của con người và hoạt động của Thiên Chúa có một tương giao nhiệm mầu làm bí quyết thành công cho mọi việc tông đồ.

CHƯƠNG II :
CHUẨN BỊ GẦN ĐỂ SOẠN MỘT BÀI GIÁO LƯ

DẪN NHẬP

Trong chương trước, tôi đă đề cập đến vấn đề chuẩn bị xa để soạn và dạy một bài giáo lư. Chương này nói về việc chuẩn bị gần, nghĩa là khi bắt tay vào việc dạy giáo lư phải làm những ǵ và làm thế nào ? Đó là nội dung những điều sẽ bàn đến trong chương này.

QUẢNG DIỄN

Có nhiều việc phải làm trước khi sửa soạn một bài dạy giáo lư. Đại khái có việc sắp xếp chương tŕnh các bài học trong năm, t́m chủ đề chung rồi chia ra từng bài một cho ăn nhằm với chủ đề chung ấy, sau đó đến việc soạn bài dạy giáo lư theo từng tiết mục trong chủ đề chung.

TIẾT I : XẾP ĐẶT CHƯƠNG TR̀NH

Nếu có Uỷ ban giáo lư toàn quốc, th́ thường chương tŕnh chung cho mỗi bậc học, loại người, hạng tuổi đều do Uỷ ban này soạn thảo và phổ biến cho các địa phận. Nhiều nơi, dù có uỷ ban giáo lư toàn quốc rồi, uỷ ban giáo lư địa phận lại cũng làm riêng một chương tŕnh cho thích hợp với t́nh trạng trong địa phận ḿnh nữa. Thứ đến là chương tŕnh do các tác giả soạn sách giáo lư xếp đặt, căn cứ vào chương tŕnh toàn quốc, chương tŕnh mỗi địa phận hay do sang kiến riêng. Cuối cùng là chương tŕnh của giáo lư viên dựa vào những chương tŕnh trên đặt ra cho hợp với nhu cầu và hoàn cảnh riêng nơi ḿnh dạy giáo lư. Dù có chương tŕnh chung, nhưng giáo lư viên vẫn được quyền xếp đặt, thay đổi lại.

Xếp đặt và theo một chương tŕnh giáo lư là điều cần thiết và quan trọng, v́ như thế giáo lư viên biết được ḿnh đi từ đâu đến đâu, tránh được hoang mang lộn xộn. Nếu không có chương tŕnh chung toàn quốc hay riêng địa phận, giáo lư viên có thể lấy một thủ bản giáo lư của tác giả nào có uy tín được nhiều người theo, rồi dựa vào đó mà xếp đặt chương tŕnh.

TIẾT II : SOẠN BÀI GIÁO LƯ

Có thể soạn bài giáo lư theo ba lối : dùng bài có sẵn trong thủ bản, lấy sách bổn ra đọc và cắt nghĩa, tự ḿnh soạn bài lấy. Lối thông thường và đỡ tốn công hơn cả là lấy sách bổn ra đọc và cắt nghĩa. Lối này là một cách tiết kiệm nhân lực đồng thời cũng dễ đưa đến chỗ dung dưỡng tính lười biếng của giáo lư viên, và không tạo được những kết quả sâu sắc, v́ theo lối này, người ta thường không soạn bài kỹ lưỡng và không áp dụng những phương pháp sư phạm để nội tâm hoá Lời Chúa nơi các trẻ em, mà chỉ chú trọng đến việc cho chúng học thuộc ḷng, dù chúng chẳng hiểu bao nhiêu điều chúng học.

Cách thứ hai : dùng thủ bản để dạy giáo lư. Cách này có thể khá hơn, nhưng cũng thường gặp nguy hiểm ỷ lại vào sách vở và tự miễn cho ḿnh công soạn bài, đến giờ chỉ lấy sách ra đọc hoặc xem qua trước rồi giải nghĩa cho học sinh.

C̣n lại cách thứ ba : tự ḿnh soạn bài lấy là lư tưởng và đáng giá hơn cả. Nhưng cũng phải nói ngay rằng soạn bài theo lối này rất vất vả phí tổn th́ giờ và đ̣i phải hy sinh nhiều. Nhưng có chấp nhận những hy sinh vất vả này mới hy vọng đạt được kết quả tối đa trong việc giảng dạy giáo lư.

Vậy, trước khi soạn một bài giáo lư cần phải xem tài liệu trong các sách thủ bản giáo lư, hoặc sách báo nói về vấn đề liên hệ. Ở Việt Nam cũng đă có những bộ sách giáo lư dịch của ngoại quốc như bộ giáo lư công giáo của Đức do Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên dịch, hoặc Giải nghĩa bổn cho trẻ em của Ḿnh Đạo, cuốn Đền Chúa ngự của Minh Đạo, các sách giáo lư cho bậc tiểu và trung học do Trung tâm huấn giáo Sài G̣n biên soạn và ấn hành. Uỷ ban giáo lư Đà Nẵng từ mấy năm qua cũng in ronéo và phổ biến hạn hẹp các tài liệu giáo lư cho bậc trung tiểu học. Chắc hẳn, khi hoàn cảnh thuận tiện, Đà Nẵng sẽ cho in những sách này. C̣n sách Anh, Pháp, nhất là Pháp th́ rất nhiều, năm nào cũng có sách mới cho từng bậc và loại tuổi.

Ta có thể đọc những sách đó, chọn những ǵ thích hợp có thể dùng được trong bài giáo lư ḿnh soạn, ghi chú những điều ưng ư rồi sau đó viết lên giấy nháp những ư tưởng nảy ra trong trí, chưa cần chính xác và thứ tự vội, miễn là có ư tưởng sau đó sẽ sắp xếp và sửa chữa lại. Sau khi đă sắp xếp, sửa chữa có thể viết thành văn từ đầu đến cuối, nếu chưa quen, nhất là lúc đầu, hoặc chỉ làm một dàn bài tỉ mỉ, rồi xem lại cho kỹ đến gần như thuộc ḷng để khi tŕnh bày, có thể diễn tả một cách tự nhiên và vững chắc hơn. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một cách thế soạn bài, trong nhiều cách thế khác. Điều cần là t́m ra được cách nào xem ra thích hợp và hữu hiệu cho ḿnh, theo các kinh nghiệm bản thân. Tôi nói như vậy, v́ điều này tương đối, thí dụ có người cần phải thứ tự ngăn nắp trong pḥng làm viêc, nơi bàn giấy, mới viết báo hay sách hay được. Nếu người này dạy cách làm văn viết báo, tất nhiên ông ta sẽ nhấn mạnh đến ngăn nắp, trật tự. Người khác cũng làm văn viết sách báo, dạy học, nhưng bàn giấy, nhà cửa hết sức bề bộn, thế mà ông ta vẫn “sản xuất” được !

Ngoài ra, khi soạn bài lại phải để ư đến hai điều này nữa :

1/ Về phía Chúa, tức mầu nhiệm hay chân lư đức tin, phải làm thế nào để tŕnh bày những điều thuộc phạm vi đó mà không đi ra ngoài hay có chăng th́ cũng là đưa về Chúa hoặc mầu nhiệm.

2/ Về phía người ta, liệu tŕnh bày thế nào cho họ có thể hiểu và lănh hội được Lời Chúa. Và như vậy, phải lưu ư đến sư phạm và các phương thế thích hợp như sẽ nói sau để thu hút sức chú ư và giúp cử toạ dễ lănh hội Lời Chúa.

Tốt hơn nữa là nhiều người cùng soạn một bài giáo lư. Ban đầu chưa quen làm việc chung, chắc sẽ thấy khó, nhưng lâu dần sẽ cảm thấy cách thế làm việc như vậy rất phong phú và bổ ích v́ có sự đóng góp ư kiến và nhận xét của nhiều người, nhưng với điều kiện là mỗi người phải góp phần làm việc t́m ṭi. Hiện nay, nhóm soạn thảo giáolư cho bậc trung học gồm một số chuyên viên huấn giáo vẫn cùng nhau làm việc theo lối này và kết quả có phần rất phấn khởi. Tuy nhiên, làm việc theo lối này phải biết phân công và cuối cùng đúc kết và ai nấy đều phải sẵn sàng đảm nhiệm phần công tác người ta giao cho ḿnh. Cuối cùng, cũng thuộc phần soạn bài giáo lư là chuẩn bị các tài liệu, tranh ảnh, biểu ngữ, khẩu hiệu để dùng cho bài giáo lư. Phải nghĩ, t́m và sửa soạn trước mới chu đáo được.

PHỤ TRƯƠNG

A. SƠ ĐỒ MỘT BUỔI HỌC GIÁO LƯ

I. Nội dung sứ điệp

1. Giáo lư vững vàng chính xác.

2. Sự phạm thiết thực hấp dẫn.

II. Cử toạ đón nghe Lời Chúa

1. Thành phần, tuổi tác, tính phái.

2. Phản ứng, xu hướng, thái độ của cử toạ đối với vấn đề tŕnh bày.

1/ phản ứng bất lợi, t́m hiểu lư do

2/ phản ứng thuận lợi : chú ư, phấn khởi, tích cực tham gia…

B. SƠ ĐỒ MỘT BÀI GIÁO LƯ

I. Cách bố cục

Liệu cho bài được duy nhất và tiến triển qua từng giai đoạn từ dễ đến khó, từ ngoài vào trong, từ tiền huấn giáo đến huấn giáo và nổi bật ở một cao điểm là ư nghĩa chính của bài, đồng thời loại bỏ những thứ rườm ra vô ích làm cho bài mất quân b́nh.

1. tŕnh bày cho gẫy gọn, chí lư.

2. vào đề một cách khéo léo bằng một câu chuyện hay một sự kiện.

3. chuẩn bị đưa dần vào mầu nhiệm hay ư nghĩa chính bằng phần tiền huấn giáo là những giá trị nhân bản thông thương c̣n đang trong phạm vi tự nhiên.

4. tập trung vào cao điểm của sứ điệp là ư nghĩa chính hay khía cạnh nổi nhất của mầu nhiệm vừa tŕnh bày.

5. Chuẩn bị cho cử toạ đáp ứng Lời Chúa.

II. Tranh ảnh, tài liệu và các hoạt động

Nhớ sửa soạn chọn lọc các tài liệu, tranh ảnh, bản văn, nhạc, phim, băng, v.v… trước, nhưng liệu cho phù hợp với bài.

1. tài liệu, tranh ảnh hay các bản văn.

2. truyện hay bằng chứng.

3. sơ đồ bài học vẽ lên bảng.

4. đặt các câu hỏi.

5. vẽ, viết, làm thủ công từng người hay từng nhóm.

6. băng nhạc, phim, biểu ngữ, khẩu hiệu.

III. Nhận xét và phê b́nh

1. Bài giáo lư.

1/ có ăn nhằm với chương tŕnh ?

2/ có đạt mục đích đề ra ?

3/ cách tŕnh bày có hợp lư và thuyết phục cử toạ ?

4/ có ǵ phản nghịch tâm lư ?

5/ giá trị sư phạm thế nào ? Chữ dùng, kiểu nói, giọng nói, tính cách duy nhất của bài, các hoạt động, đối thoại, tài liệu, v.v…

6/ giá trị đạo đức : bài giáo lư có đưa người ta tới chỗ nghiêm trang sốt sắng ?

2. Lớp giáo lư

1/ có kỷ luật ?

2/ cử toạ có chăm chú theo dơi ?

3/ lớp học có không khí trang nghiêm đạo đức ?

4/ nhận xét về học sinh này học sinh kia ?

IV. Vở thực tập

Dùng môt tập vở học sinh, lấy 2 trang, chia làm 4 cột, 2 cột bên trái ghi trước, 2 cột bên phải ghi sau khi nói chuyện.

1. Hai cột bên trái ghi nhận xét về :

1/ bài nói chuyện, đề tài, mục đích, cách lư luận, hoạt động và tài liệu.

2/ các lời giải nghĩa giáo lư hay tâm lư, sư phạm khi dạy.

2. Hai cột bên phải ghi nhận xét về :

1/ thái độ của học sinh khi nghe dạy giáo lư.

2/ phê b́nh nhận xét của riêng ḿnh hay của các đồng nghiệp trong nhóm.

Trên đây là một sơ đồ mẫu lư tưởng về một lớp và bài giáo lư. Ta có thể tuỳ nghi thêm bớt, sửa đổi cho hợp với nhu cầu và hoàn cảnh, theo kinh nghiệm riêng. Có điều phải thí nghiệm đă, mới biết được nên, chăng, hay, dở. Như vậy, cần phải thử xem thế nào.

CHƯƠNG III :
TR̀NH BÀY LỜI CHÚA

Sau khi đă chuẩn bị xa gần một bài giáo lư, đây là lúc chúng ta đem Lời Chúa ra tŕnh bày cho cử toạ. Trước hết, chúng ta tŕnh bày và giải thích Lời Chúa. Cách thế tŕnh bày và giải thích phải diễn ra thế nào để cử toạ thấy rằng đó chính là Lời Chúa nói với con người. Cho nên cần làm thế nào để cử toạ lắng nghe. Tiếp đến là thái độ con người đón nhận Lời Chúa. Có hai giai đoạn chính trong việc tŕnh bày Lời Chúa : giai đoạn thứ nhất tŕnh bày và giải thích, giai đoạn thứ hai khêu gợi những tâm t́nh và thái độ xứng hợp nơi cử toạ hầu giúp họ đáp ứng Lời Chúa.

Cụ thể, chúng ta có những việc sau đây phải làm khi giảng dạy một bài giáo lư :

1. Mấy lời thăm hỏi, trao đổi tin tức với cử toạ.

2. Khảo bài.

3. Nhắc lại những ư tưởng chính của bài cũ.

Sau đó bắt đầu cắt nghĩa bài mới. Có nhiều cách thế cắt nghĩa, tuỳ loại người hạng tuổi, nhưng điểm chính vẫn là làm thế nào để người ta nghe và hiểu được Lời Chúa, đồng thời đem Lời Chúa đó ra thực hành trong đời sống. Đại khái, ta có thể dựa theo lược đồ đă nói trong chương II mà tŕnh bày. Có lúc phải nói nhiều lời, có khi chỉ nên nói ít vừa đủ để gợi ư và để cho cử toạ t́m ṭi, suy nghĩa trao đổi. Tuy vậy, giáo lư viên bao giờ cũng là người chủ động, hướng dẫn và nói nhiều hơn cả trong một lớp giáo lư. Có điều cần phải tế nhị là biết dừng lại đúng lúc và nhường lời cho người khác, bằng cách gợi cho người ta những câu hỏi để trả lời.

Ngoài ra, khi nói, giáo lư viên cần lưu ư nói sao cho gẫy gọn, xác đáng, dùng chữ và kiểu nói thích hợp với tŕnh độ hiểu biết của cử toạ, nhất là liệu cho cung cách được tự nhiên, tâm t́nh đích thực phù hợp với cử chỉ diễn tả ra bên ngoài.

Nhưng đó mới chỉ là những điều phụ thuộc, tuy rất hữu ích và có thể tăng thêm giá trị cho bài thuyết tŕnh về giáo lư của ta. C̣n chính yếu là tŕnh bày Lời Chúa, tức cũng là huấn giáo.

TIẾT I: HUẤN GIÁO

Huấn giáo là loan báo Lời Chúa. Lời Chúa được diễn tả dưới h́nh thức những biến cố do một số người làm trung gian và chủ động gồm có CỰU và TÂN ƯỚC, Giáo Hội thời xưa và Giáo Hội thời nay.

Lời Chúa được mặc khải cho ta qua các ngôn sứ, Chúa Ki-tô và Tông huấn. Giáo Hội giải thích và mặc cho những biến cố đó các ư nghĩa. Công tŕnh huấn giáo là nhằm tŕnh bày và loan báo những sự kiện tôn giáo, đi từ những sự kiện đến chỗ làm cho người ta hiểu ư nghĩa, nghĩa là đi từ sự kiện đến mầu nhiệm.

1. Cốt yếu của huấn giáo : loan truyền Lời Chúa.

a. Chúa nói bằng những sự kiện lịch sử trong CỰU ƯỚC và TÂN ƯỚC.

b. Chúa nói qua các trung gian là các ngôn sứ, và chính Con Một Người là Đức Ki-tô, lời sống động của Thiên Chúa.

2. Đặc tính của huấn giáo : đi từ sự kiện để bước vào mầu nhiệm.

a. tŕnh bày sự kiện.

b. mặc cho sự kiện đó một ư nghĩa siêu nhiên cứu độ.

3. Trung tâm điểm của mặc khải là : sự kiện Chúa Giê-su, cái chết và sự sống lại của Người.

TIẾT II: TR̀NH BÀY VÀ LỢI DỤNG
CÁC SỰ KIỆN NHƯ THẾ NÀO ?

Ngày từ đầu bài huấn giáo, giáo lư viên đi từ một sự kiện, một biến cố, một hoàn cảnh, một dấu hiệu, rồi mặc cho những thứ đó một ư nghĩa. Nhưng điều quan trọng và hữu ích là phải chọn sự kiện để mà loan báo.

1. Quy tắc chung

a. Phải chọn một sự kiện, một biến cố có ư nghĩa, ăn nhằm với mầu nhiệm ta sắp loan báo. Sự kiện đó phải thực và thuộc về lịch sử cứu độ, chứ không phải những chuyện bày đặt.

b. Phải chọn 1 sự kiện có thể làm cho cử toạ thích thú tuỳ tuổi, khu vực sinh sống và môi trường văn hoá, một sự kiện thuộc tầm kinh nghiệm của cử toạ và làm cho họ có cảm giác là ḿnh cũng liên hệ đến sự kiện đó.

2. Lợi dụng một việc đời

a. Thường hay bắt đầu bằng một việc đời. Thí dụ khi nói về ḷng Chúa tha thứ th́ có thể kể một chuyện tha thứ cho nhau trong gia đ́nh hay ngoài xă hội.

b. Có thể căn cứ vào tương quan giữa kinh nghiệm sống với mặc khải và ơn sủng, để xem sự kiện đó có thích hợp và dùng vào huấn giáo được không.

c. Tránh dùng những sự kiện cầm chân người ta lại trong phạm vi tự nhiên v́ hoạt động hay t́nh cảm.

d. Sự kiện đó phải có thể chuyển sang địa hạt tôn giáo được.

3. Lợi dụng việc đạo

1/ Việc đạo là những việc thuộc Chúa Ki-tô và Giáo Hội. Thí dụ việc trong Phúc Âm hay thuộc lịch sử Giáo Hội. Trong trường hợp này, không đi từ con người nữa mà đi từ chính Chúa.

2/ Nhưng dầu vậy, việc đó vẫn phải gần gũi với con người, không quá xa lạ với những sự kiện nhân loại, những dự định, thái độ của con người. Phải nói về Chúa Ki-tô như một người hoàn toàn, nói về Đức Mẹ và các thánh như những gương mẫu của nhân loại rồi mới đi lên tới phạm vi cao cả hơn. Ngoài ra phải liệu sao cho bài được duy nhất.

TIẾT III: TÍNH DUY NHẤT CỦA BÀI NÓI CHUYỆN

1. Duy nhất về ư tưởng

Đă hẳn, bài nói chuyện cần phải duy nhất. Điều ấy có nghĩa là cả bài và từng phần một đều phải nhắm và làm cho người ta hiểu một ư hướng rơ ràng, một khía cạnh rơ rệt của mầu nhiệm, ngơ hầu đi tới một thái độ thiêng liêng cũng rơ rệt nữa. V́ vậy, phải thẳng tay loại trừ tất cả những ǵ rườm rà, vô ích, đưa cử toạ lạc xa ư tưởng chính yếu, đồng thời hướng tất cả nỗ lực vào việc làm cho sứ điệp truyền thông được nổi bật và chân lư hiện ra sáng ngời rực rỡ.

Tuy nhiên, ta có thể dùng nhiều kiểu nói và cách thế diễn tả khác nhau, nhưng chung quy vẫn là làm cho ư tưởng chính được hiểu biết và lănh hội. Về điểm này, có nhiều người tưởng rằng phải nói nhiều điều một lúc và nói hết về mầu nhiệm ngay trong một bài. Đó là điều không thể được, phản trái sư phạm và tâm lư, nhất là đối với trẻ em và ngay cả người lớn nữa, v́ sức người lănh hội trong một lúc chỉ có giới hạn nào đó thôi. Bởi vậy, nếu nói về việc chúa làm cho bánh hoá nhiều đối với trẻ em mà nói lan man nào là Chúa Giê-su là Đấng quyền năng, tốt lành, Người là của ăn dưỡng nuôi chúng ta bằng đức tin và phép Thánh Thể, hay là nói về tội nhẹ mà lại đi từ tội tổ tông rồi nói đến sự xưng tội mà quên đào sâu ư nghĩa của tội nhẹ th́ quả thật là đi ra ngoài nhiều quá và làm cho bài nói về phép lạ bánh hoá nhiều hoặc tội nhẹ mất cả tính duy nhất và tâm trí các em chơi vơi, không tập trung vào ư tưởng chính là bánh hoá nhiều và tội nhẹ. Sở dĩ như vậy v́ thiếu soạn bài, sắp xếp ư tưởng và lựa chọn những điều cần phải nói và đáng nói.

Có nên sợ rằng nếu chỉ tŕnh bày một ư tưởng th́ bài nói chuyện sẽ khô khan, nghèo nàn và không biết nói ǵ hay có ǵ để nói cho hết khoảng thời gian dành cho bài nói chuyện không ? Thực ra, tự nhiên th́ đáng sợ như vậy. Nhưng, nếu biết nhấn mạnh đến ư tưởng chính và t́m ra những ư tưởng phụ hoặc đưa ra những sự kiện để yểm trợ và làm chứng cho ư tưởng chính th́ thiết tưởng bài vẫn phong phú và có khi lại không đủ giờ để nói hết những điều ta muốn nói nữa. Nhưng vẫn phải coi chừng v́ không khéo lại vấp phải tật nói lan man và đi lạc xa đề chính là điều ta có ư tránh để giữ cho bài được duy nhất.

2. Duy nhất sống động

Muốn bài nói chuyện được duy nhất sống động, phải dùng nhiều yếu tố khác nhau và xếp đặt cho mỗi yếu tố đó đóng một vai tṛ khác nhau nữa. Vấn đề là làm thế nào để đi từ sự kiện để tiến dần tới mầu nhiệm. Vậy phải quy tụ các yếu tố khác nhau trong một bài nói chuyện chung quanh một cao điểm, một trung tâm. Trung tâm và cao điểm đó là bày tỏ mầu nhiệm và khơi động đức tin. Cho nên, khi soạn và tŕnh bày một bài giáo lư, phải t́m cho ra cao điểm này và sửa soạn đúng lúc để dồn hết lực lượng vào thời khắc làm cho nổi bật ư tưởng chính và thu hút sức chú ư vào cao điểm đó. Vậy, phải tránh phân tán sức chú ư và làm cho cử toạ mệt mỏi trước khi đưa người ta tới cao điểm, đồng thời sửa soạn trước những câu nói quan trọng để đánh động người nghe vào lúc này.

Nhưng, v́ sức chú ư của con người có hạn và không nên để cho không khí trong lớp giáo lư căng thẳng từ đầu đến cuối, bởi vậy, hoặc trước hoặc sau lúc đă đưa cử toạ tiến về cao điểm phải có những phút thảnh thơi, thoải mái bằng cách xen kẽ vào những câu chuyện lư thú vắn tắt, một điệu hát, một đoạn sách, hỏi vài ba câu, đi viếng nhà thờ, ra ngoài sân chơi hoặc cho các em cầm sách và đọc chung với nhau một vài câu ư nghĩa.

TIẾT IV: CÁCH THẾ
GIÚP CHO BÀI NÓI CHUYỆN ĐƯỢC LINH ĐỘNG

Khi dạy giáo lư, giáo lư viên dùng lời nói kèm theo các cử điệu để diễn nghĩa. Có khi c̣n dùng nhiều phương tiện khác nữa như bảng đen, h́nh ảnh, sách, băng nhạc, v.v… Vậy, tưởng nên đề cập đến cách thế sử dụng những phương tiện này sao cho hữu hiệu và linh động để tăng thêm giá trị cho bài giáo lư.

1. Cử chỉ

Trước hết nên bàn về cử chỉ của giáo lư viên, v́ cử chỉ thiết yếu cho lời nói, một h́nh thức biểu dương ngôn ngữ và có sức tô điểm cho lời nói thêm vẻ đẹp và hấp lực. Cử chỉ làm cho lời nói thêm linh động và ư nghĩa. Nhiều khi chỉ cần một cái vẫy tay, một ánh mắt, một cái nh́n cũng đủ nói với chúng ta nhiều lắm. Phim “Đảo trọc” (L’ile nue) của Nhật bản được giải thưởng điện ảnh của Liên Xô cách đây mấy chục năm không có một lời nói nào thế mà lại nói với người ta nhiều lắm qua các cử chỉ.

Đứng về phía cử toạ th́ ta phải nói rằng người ta hiểu ai là nhờ tiếng nói của người ấy. Ngôn ngữ nói truyền thông một tư tưởng. Ngôn ngữ này lại được cử chỉ làm cho thêm linh động, dễ hiểu, biểu lộ hoạt động và có khi cả con người dùng ngôn ngữ đó nữa. Cử chỉ làm cho tiếng nói như thêm ấm áp. V́ thế nó có một tầm quan trọng lớn nơi giáo lư viên. Cũng một tiếng như Chúa, Giáo Hội, Trời mà nói ra với thái độ và cử chỉ cung kính mến yêu, th́ khác xa với khi ta nói một cách hững hờ lănh đạm. Nhưng lời nói cũng như cử chỉ cần phải đích thực và chân thành. Không ǵ nhạt nhẽo và vô vị hơn là làm những cử chỉ vay mượn giả tạo. V́ thế phải học tập và sửa soạn làm các cử chỉ cũng như tập đặt câu. Nhưng phải tập trước khi chẩn bị xa để thành thói quen bột phát mới tự nhiên, chứ không phải đến lúc ra dạy giáo lư mới tập. Như thế, khó ḷng tránh khỏi vụng về và thiếu tự nhiên.

Nói tóm lại, cử chỉ và thái độ của chúng ta phải là cử chỉ và thái độ của Chúa đối với cử toạ, đầy dịu dàng, hiền từ, khiêm nhường mến yêu nhưng cũng đầy uy quyền và mạnh mẽ nữa.

2. Đọc một bản văn hay kể một câu chuyện

Đang khi dạy giáo lư, có nhiều lúc giáo lư viên cần phải đọc một đoạn văn trích trong sách hay kể một câu chuyện. Đọc một bản văn cho hay, kể một câu chuyện cho khéo léo là một điều khó. Vậy phải học cho biết đọc hay, và kể khéo léo theo phương pháp nghiêm chỉnh. Sau đây là vài quy tắc thông thường :

a. Nếu đọc một bản văn th́ phải đọc cho rơ các vần các tiếng, phân câu, dứt ư, giữ các dấu chấm phảy và nghỉ cho đúng phép. Ngoài ra, lại phải theo nhịp và ư nghĩa của câu mà làm nổi bật những chỗ cần chú ư. Làm như vậy, cốt yếu là đem lại hồn sống cho bản văn. Khi dùng một bản văn đạo hay đời, giáo lư viên cũng như người cầm trong tay một bản nhạc để biểu diễn. Bản nhạc hay nhiều hay ít là nhờ tài tŕnh diễn của nhạc công và nhạc trưởng. Vậy phải soạn bài ḿnh sẽ đọc trước để có thể diễn tả ư nghĩa sâu sắc và bộc lộ tất cả ư nghĩa của sứ điệp bao gồm trong đó. Nếu là một bài văn Kinh Thánh, th́ ngoài kỹ thuật diễn xuất ra lại cần những thái độ đức tin kèm theo nữa. Cách đọc của ta có thể làm tăng thêm hay làm bớt ư nghĩa cũng như cái hay của một bản văn. Thường đọc một bản văn cho khéo nhiều khi đă đủ làm cho cử toạ đi từ sự kiện bước sáng phạm vi mầu nhiệm rồi. Thêm vào đấy là những lời giải thích với những cử điệu của cả toàn thân con người ta, bản văn lại càng thêm linh động trong sáng. Tuy vậy, đọc một bản văn không cần phải làm nhiều cử điệu, v́ nếu làm nhiều quá, người ta sẽ chú ư đến cử điệu của người đọc nhiều hơn là ư nghĩa của bản văn.

b. Giáo lư viên cũng có thể kể một chuyện đạo hay đời. Những quy tắc mới nói có thể áp dụng cho việc kể chuyện ở đây. Nhưng, nếu tự ta bày chuyện ra mà nói th́ phải lưu ư những điểm sau đây :

1/ chuyện phải có thật. Cho nên phải loại bỏ những chuyện bịa đặt hoang đường. Hay nếu dùng chuyện biến ngôn th́ phải nói theo loại biến ngôn và nói cho người ta biết đó là chuyện biến ngôn, chỉ nên lưu ư chú trọng đến ư nghĩa mà bỏ qua h́nh thức, các nhân vật, thời gian và nơi chốn v.v…

2/ chuyện phải hay và gây hứng thú. Muốn vậy, phải lựa lời tŕnh bày cho khéo, dùng những kiểu nói và h́nh ảnh đẹp đẽ để thu hút sức chú ư của người nghe.

3/ nếu là chuyện đạo th́ phải làm nổi bật tính cách tôn giáo, chứ đừng che đậy, giấu giếm nội dung ư nghĩa, v́ mặc cảm hay sợ người ta nghe sẽ chán. Có khi nên tóm tắt lại cốt chuyện Kinh Thánh rồi đem kể lại theo lối của riêng ḿnh, có khi nên đọc nguyên văn Kinh Thánh tuỳ trường hợp, thời giờ và như ḿnh thấy nên chăng trong mỗi hoàn cảnh.

3. Đặt câu hỏi

a. Có hai lối thường dùng khi giảng dạy một bài giáo lư : đó là kể chuyện đặt các câu hỏi cho cử toạ thưa. Khi dạy giáo lư cho trẻ em, thanh niên hay người lớn, h́nh thức đặt câu hỏi xem ra có phần linh động hơn, v́ làm cho cử toạ chú ư và thúc đẩy họ t́m ṭi để trả lời. Tất nhiên, muốn đạt tới mục đích, phải luyện cho các tham dự viên lớp giáo lư bớt thụ động, nhưng tích cực và mạnh dạn, lay động họ khỏi tính ỷ lại, không muốn phiền đến thân và hay khoán trắng công việc cho đôi ba người. Chúng ta phải lưu ư điều này rất nhiều, v́ phần đông trong chúng ta cũng như con em chúng ta và những người khác đều quá quen thói thụ động và không muốn bị rầy rà, tự ḿnh đảm lấy trách nhiệm.

b. Có nhiều cách hỏi. Có khi hỏi một điều người ta đă biết rồi, v́ chủ ư cho người ta thưa để kiểm soát xem họ c̣n nhớ hay nói đúng không. Có khi hỏi để gợi ư cho người ta áp dụng những nguyên tắc ḿnh đă dạy vào trường hợp này hay trường hợp kia, hay là hỏi để yêu cầu người ta đưa ra những thí dụ, t́m những kiểu so sánh, v.v…

Nhưng hỏi để đạt kết quả ta mong muốn nhiều khi không phải là dễ, v́ các câu hoặc là quá dễ, hoặc vô ích hoặc khó quá. Vả lại, các câu trả lời của cử toạ không soi sáng và giải quyết hoàn toàn được vấn đề ta đặt ra, mà mới chỉ là những cái mốc cho ta t́m thêm, giải nghĩa thêm. V́ thế, muốn đặt những câu hỏi cho nhằm và bổ ích, phải theo những quy tắc sau đây :

1/ sửa soạn trước những câu hỏi một cách hợp lư, khách quan và linh động, và chuẩn bị để trả lời những câu cử toạ hỏi, miễn là canh chừng những câu hỏi ấy cho khỏi lạc đề.

2/ sửa soạn cho cử toạ nghe và theo dơi những câu hỏi qua những bài nói chuyện trước, những sự kiện đạo đời đă nói. Có thể cùng với một số học sinh hay người lớn soạn thảo các câu hỏi trước.

3/ có khi dùng một câu chuyện ư nhị để thế cho câu hỏi và trả lời.

4. Vài phương tiện khác để giúp linh động hoá lớp học

a. Sách thủ bản

Thường các em học sinh có riêng mỗi người một thủ bản (phần dành cho học sinh). Đôi khi, ta có thể bảo các em mở sách đọc hay chính giáo lư viên đọc rồi cắt nghĩa. Có bài giáo lư chỉ là những lời diễn giảng các điều đă ghi trong sách của các học sinh v́ trong sách này nhiều khi đă gồm sẵn những bản tóm, những lời kinh, những câu phải học thuộc ḷng.

b. Bảng đen

Các trẻ em và ngay cả người lớn cũng vậy không chú ư được lâu. Phải có cái ǵ đập mạnh vào mắt hay giác quan họ. V́ thế, một chiếc bảng đen, mấy cục phấn, vài h́nh vẽ, mấy bức tranh dán lên bảng nhiều khi rất có ích và gây hứng thú sống động. Tuy vậy, viết, vẽ lên bảng đen chưa đủ mà c̣n cần lời diễn nghĩa của giáo lư viên nữa.

c. H́nh ảnh

Trong buổi dạy giáo lư, có thể chọn những lúc thích hợp để cho xem và cắt nghĩa một hay nhiều h́nh ảnh liên quan đến bài học. Hiện nay, có rất nhiều bộ h́nh làm sẵn cho các lớp giáo lư. Ta chỉ cần chọn mua những bộ nào đẹp và thích hợp, rồi chọn đúng những h́nh có sức gợi cảm và ăn nhằm với bài ta dạy. Đôi khi chỉ cần tŕnh bày và cắt nghĩa một bức ảnh cũng đủ để làm một bài giáo lư ! Nói như vậy để ta thấy công dụng và ư nghĩa của các bức h́nh dùng trong việc dạy giáo lư.

C̣n nhiều phương tiện khác thường gọi là thính thị giác có thể giúp ích rất nhiều cho việc linh động hoá một lớp giáo lư. Nhưng vẫn phải coi chừng khi sử dụng những phương tiện đó, nghĩa là làm thế nào để bài giáo lư khỏi bị đứt quăng, mất duy nhất và thăng bằng v́ sự xâm lấn quá đáng của các h́nh ảnh, bài hát hăy những đoạn phim. Những thứ đó chỉ có công dụng và đóng vai tṛ làm bối cảnh hay phần nhạc đệm mà thôi. Chừng nào chúng quá ồn ào và chiếm mất nhiều chỗ không cần thiết trong bài giáo lư, chừng đó chúng không đóng đúng vai tṛ của ḿnh nữa và cần phải loại bỏ bớt đi để cho bài giáo lư được duy nhất và quân b́nh, đồng thời nét chính yếu của chân lư đức tin được nổi bật. Hiện nay cơn cám dỗ đối với nhiều giáo lư viên là đi từ thái cực này đến thái cực khác. Ngày trước th́ không có ǵ là thính thị giác, bây giờ th́ cái ǵ cũng phải có thính thị giác thành ra không khí của những buổi giáo lư ồn ào và tan loăng quá ! Vậy phải biết điều hoà và chế giảm.

CHƯƠNG IV :
LIÊN LẠC
GIỮA BÀI NÓI CHUYỆN VÀ SỰ CẦU NGUYỆN

Mục đích của bài nói chuyện là giúp cho cử toạ hiểu biết những chân lư trong đạo. Bài nói truyện kể là đạt tới đích, khi đánh động ḷng người nghe và thúc đẩy họ đáp ứng lại những rung động trong ḷng ḿnh mà quyết chí đem ra thực hành bằng việc cầu nguyện hay sửa đổi lại đời sống. Đó chính là liên lạc giữa bài nói chuyện với việc cầu nguyện sẽ bàn giải sau đây :

1. Cầu nguyện khi nghe giảng giáo lư

Thực ra, bài giáo lư chưa phải là một lời cầu nguyện cũng không trực tiếp đưa ngay đến sự cầu nguyện : nó mới là giảng dạy để truyền thông một chân lư, một sự mầu nhiệm nào đó về ḷng Chúa yêu thương loài người. Cử toạ nghe giảng giáo lư chưa cầu nguyện ngay đâu ! Họ mới chỉ nghe để cố t́m hiểu và đón nhận Lời Chúa. Nỗ lực của họ bấy giờ tập trung cả vào việc nghe, hiểu, nhớ, phân tích, tổng hợp, thấm nhuần. Tất cả trong giai đoạn đầu c̣n dừng lại phạm vi lư trí. T́nh cảm sẽ đến sau. Những rung động, khoái cảm sẽ đến sau khi đă hiểu và thấm nhuần những điều vừa thụ huấn. V́ thế, không nhất thiết là lời giảng dạy phải đưa ngay đến cầu nguyện, mà chỉ cần dọn đường trước. Thường c̣n một quăng cách, một giai đoạn từ khi nghe dạy giáo lư đến lúc cầu nguyện. Điều cần là làm thế nào cho người thụ huấn sau khi nghe dạy giáo lư ra về mà ḷng như trĩu nặng trầm tư, hướng về chiêm niệm, để đến một lúc nào đó phát xuất thành lời cầu nguyện minh nhiên hay bằng hành động cụ thể. Và đó là điều cần phải nhằm tới, khi giảng dạy giáo lư. Nhưng làm thế nào ?

Thiết tưởng, nếu phối hợp lời giảng dạy với Kinh Thánh, Phụng vụ và những hoạt động nội tâm hoá (mỗi bài giáo lư đều phải hội tụ những yếu tố đó), dần dà ta sẽ tạo cho trẻ em những tâm t́nh và thái độ tôn giáo thích hợp, dường như bột phát, để trong trường hợp này trường hợp kia, chúng sẽ tự động cầu nguyện. Vấn đề là giáo dục để gây ư thức và thói quen. Vả lại, vào cuối mỗi bài giáo lư ta vẫn thường hướng dẫn các em cầu nguyện dựa theo các điều mới học. Khi chúng đă tạm quen với lối cầu nguyện này, ta có thể khuyến khích chúng cầu nguyện bột phát ngay sau giờ học một cách công khai trước mặt các bạn bè, và nhắc bảo chúng mỗi ngày cầu nguyện ít là đôi ba lần giông giống như thế.

2. Không khí cầu nguyện của lớp giáo lư

Đành rằng, bài dạy giáo lư không nhất thiết phải đưa ngay đến cầu nguyện nhưng cũng phải liệu cho lớp giáo lư có không khi cầu nguyện bằng lời lẽ trang nghiêm, cử chỉ đoan trang của giáo lư viên cũng như cách đứng ngồi nói năng xứng hợp của các em học sinh. Không khí trang nghiêm đó như nhắc nhở người nghe có Đấng vô h́nh đang hiện diện nơi họ, khiến họ phải cung kính, thầm lặng, lắng nghe. V́ thế, phải liệu cho lớp giáo lư được trang nghiêm. Nhưng trang nghiêm ở đây không có nghĩa là nặng nề, cau có, nghẹt thở. Trang nghiêm ở đây là nhẹ nhàng, trầm lắng kính tôn để nghe truyền thông sứ điệp của Chúa. V́ vậy, về phía giáo lư viên cũng như cử toạ, đôi bên đều phải ở trong tư thế cung kính và đón nghe Lời Chúa như nhau. Giáo lư viên th́ trọng kính sứ điệp ḿnh phải truyền thông, và luôn luôn lắng nghe Chúa tác động nơi ḿnh, khi ḿnh diễn giảng Lời Người ; c̣n cử toạ th́ cũng cung kính đón nhận v́ đó là Lời từ Chúa mà đến qua trung gian giáo lư viên. Thường giữ cho lớp học được trang nghiêm và gây được cho các em ư thức rằng chúng đang nghe Lời Chúa, Chúa đang dùng một người trần gian để truyền lại Lời Người cho chúng th́ đó cũng là bước khởi đầu cho động tác cầu nguyện rồi.

Nhưng với lối tổ chức và trường sở của chúng ta từ trước đến nay, thật khó tạo cho lớp giáo lư một bầu khí trang nghiêm, thích hợp cho sự cầu nguyện. Thêm vào đấy là thói quen nói chuyện của các em khi gặp đông người, dù đă được yêu cầu và nhắc bảo nên giữ im lặng. Ngay cả người lớn cũng thế. Cứ nh́n những buổi tổ chức hội họp, khi có người đứng ra nói trước công chúng th́ biết. Đáng lư ra chỉ một người nói, c̣n những người khác ngồi nghe cho đến khi người ta nói xong đă, đàng này không, ai nói cứ nói và rốt cuộc là chỉ có những người nói mà không c̣n người nghe, thành ra vô cùng hỗn độn. Về điểm này, các giáo lư viên phải coi chừng sửa soạn trước để có những điều kiện thích hợp, hầu tạo được không khí trang nghiêm cho lớp giáo lư, điều kiện cần thiết để giúp cầu nguyện và đưa tới cầu nguyện.

3. Cầu nguyện khi nào ?

Như vừa nói, mục đích của bài giáo lư không phải là đưa ngay cử toạ đến cầu nguyện mà là giảng giải, chuẩn bị và tạo không khí cầu nguyện, đành rằng cũng có những bài giáo lư có thể đưa ngay người ta đến chỗ cầu nguyện. Vậy cầu nguyện lúc nào ? Điều này cũng c̣n tuỳ trường hợp và tuỳ loại người, trẻ con, thanh niên hay người lớn.

a. Trẻ con

Đối với trẻ con, vấn đề tương đối giản dị, ta có thể bảo chúng cầu nguyện hay hướng dẫn chúng cầu nguyện mà không sợ bị phản đối. Ta có thể tuỳ lúc và tuỳ nhu cầu của chúng ta mà bảo chúng và giúp chúng cầu nguyện. Một nguyên tắc chắc chắn là khi nào thấy chúng sẵn sàng cầu nguyện một cách chân thành hay ước muốn cầu nguyện. Nhưng làm thế nào để nhận thấy như thế ?

Có một số những dấu hiệu giúp ta nh́n ra nhu cầu và khát vọng đó, thí dụ khi thấy chúng yên lặng, lắng nghe, hoặc vui vẻ đợi chờ. Thường đối với trẻ em nên dành những phút cầu nguyện vào cuối giờ học, khi Lời Chúa đă thấm nhuần tâm hồn chúng và khi chúng được sửa soạn đủ với Lời Kinh Thánh, một số bản văn phụng vụ hoặc những lời chỉ dẫn, khuyến khích. Nhưng coi chừng, không phải cầu nguyện vào lúc cuối chỉ v́ bấy giờ đến lúc phải cầu nguyện mà chính v́ mới nghe Lời Chúa kêu mời và bây giờ thấy cần phải đáp lại lời kêu mời đó mà cầu nguyện. Cũng không hẳn là chỉ có về cuối giờ học mới cầu nguyện mà ngay cả đang giữa bài giáo lư, khi bài học đă đạt tới chỗ cao điểm hay khi tới những chỗ thấy là thích hợp cho sự cầu nguyện th́ ta bảo và giúp các em cầu nguyện. Lời cầu nguyện bấy giờ sẽ diễn ra một cách hồn nhiên, bột phát. Ngay cả khi mới bắt đầu bài học giáo lư cũng vậy, nhưng nên thận trọng, v́ nhiều khi những phút cầu nguyện lúc bắt đầu và kết thúc bài giáo lư diễn ra một cách quá máy móc theo thông lệ, làm mất hẳn ư nghĩa của sự cầu nguyện.

Ngoài ra, cũng nên t́m dịp tạo cho các em biết tự động cầu nguyện một cách cá nhân hơn, đang lúc giảng giáo lư hoặc để cho chúng tự do chọn các hoạt động liên quan đến việc cầu nguyện hay ra viếng nhà thờ v.v… Thường lời cầu nguyện phải ăn khớp với bài giáo lư, và là một cách thế đáp ứng lại sứ điệp các em mới nhận được. Nếu bảo cầu nguyện là lúc nào các em cũng đọc kinh “Lạy Cha hay Kính mừng” th́ e rằng có thể là máy móc hoặc giả tạo, kém tự phát.

b. Thanh niên và người lớn

Đối với hai loại người này, ta cũng có thể giữ nguyên tắc nêu trên là chỉ cho cầu nguyện khi đă sửa soạn ; chẳng vậy, lời cầu nguyện sẽ thành ra gượng ép, hời hợt và không đạt tới kết quả. Tất nhiên giúp cho thanh niên và người lớn cầu nguyện khó hơn, v́ đến tuổi này họ không c̣n mềm mại, dễ uốn nắn như các trẻ em. Đàng khác, ta cũng khó nhận ra lúc nào họ sẵn sàng và muốn cầu nguyện hoặc khám phá được những nhu cầu của họ.

Tuy vậy, ta cũng có thể nh́n xem khi nào Lời Chúa có vẻ như đánh động họ qua cách thế họ đón nhận sứ điệp do ta truyền thông. Điều quan trọng hơn là giảng bài giáo lư thật chu đáo cho họ, để nhờ sự hiểu biết và thấm nhuần tư tưởng đạo, đến một lúc nào đó, họ sẽ tự ư cầu nguyện. Nhưng cũng đừng quên phải luyện tập và giúp cho họ biết cầu nguyện nữa, v́ nhiều khi họ biết là cần phải cầu nguyện, nhưng không biết cầu nguyện thế nào. Hơn nữa, thường những người này lại hay có thiên kiến về sự cầu nguyện. Cầu nguyện thật là xa lạ đối với họ, họ không nghĩ tới mấy khi và không có thói quen. Sở dĩ như vậy, v́ họ ít biết đạo không hiểu ǵ về Kinh Thánh và Phụng vụ và dường như chẳng đọc sách báo đạo bao giờ (lại cũng v́ thiên kiến cho rằng các sách báo này khô khan, đ̣i hỏi, hành văn kém, nông cạn, chỉ toàn có khuyên răn, cấm đoán), nên lại càng thêm mù mịt những sự về Chúa. Bởi vậy nhiệm vụ của ta là phải kiên nhẫn đối với họ, nhân nhượng đối với những hiểu biết yếu kém của họ về đạo, đồng thời tự vấn lương tâm có khi tại ḿnh đă lơ là không tận tâm làm việc theo ơn gọi của ḿnh là truyền thông Lời Chúa cho người ta, nên mới xảy ra cớ sự như thế !

Hiện chúng ta đang đứng trước một vấn đề thật bi đát : thanh niên, người lớn ít được dạy giáo lư và họ cũng không thích học môn này, v́ chưa có tổ chức dạy đạo cho người lớn, không có đủ người, cách tŕnh bày không c̣n thích hợp cho họ nữa. Nhưng cũng may là mấy năm gần đây thấy du nhập vào Việt Nam phong trào Cursillos. Đó là một phong trào Ki-tô học cho người lớn. Nhiều người đi dự về thấy tỏ ra say mê hứng thú. Như vậy, th́ cũng chưa lấy ǵ làm tuyệt vọng, nếu có phong trào đáp lại nhu cầu học đạo cho người ta một cách thoả đáng. Nhưng dù sao cũng phải nói rằng chúng ta đang sống trong t́nh trạng báo động về vấn đề này.

4. Cầu nguyện thế nào ?

Nên nhớ rằng giáo tŕnh này nhấn mạnh đến việc dạy giáo lư cho trẻ em. V́ thế, những điều bàn giải cũng nhắm vào giới này nhiều hơn.

Trước hết, xin giới hạn bốn điểm và căn cứ vào những điểm đó để nói phải cầu nguyện thế nào.

a. Cung cách

Tuỳ hoàn cảnh, thời khắc và nơi chốn mà ta bảo các em đứng quỳ hay ngồi khi cầu nguyện. Theo lối Tây Phương th́ đứng cũng là một cách tỏ vẻ kính trọng và khiêm nhường trước tôn nhan Chúa. C̣n đối với người Đông Phương th́ sụp lạy, vái mới là rất mực cung kính. Hiện nay có phong trào khai thác những kiểu cách Yoga để cầu nguyện. Người Tây Phương hiếu động đang t́m về Đông Phương để dung nạp những cách thế tham thiền, hầu chế ngự những náo động nội tâm cho dễ kết hợp với những tư thế mềm mại, uyển chuyển, lắng động của thân xác nơi người Đông Phương theo thiền phái cung cấp cho. Một vài cộng đoàn nữ tu không dùng ghế nữa mà chỉ dùng chiếu trải trong nhà nguyện và quỳ ngồi, sụp lạy theo lối Đông Phương để cầu nguyện.

Nói như thế để có ư bảo rằng cung cách cầu nguyện thế nào là tuỳ hoàn cảnh và mỗi loại người cũng như tuỳ thời cơ mà áp dụng và thay đổi. Có điều phải lấy thái độ cung kính, trang nghiêm khi cầu nguyện với Chúa, dù theo cung cách nào cũng thế. Phải chăng như vậy là xa cách, giảm bớt phần thân mật với Chúa hay là cầu nguyện một cách g̣ ép theo phương thức quá, không c̣n ǵ là bột phát tự nhiên, cởi mở và thân t́nh với Chúa ? Nhiều người trẻ tuổi bây giờ nghĩ như vậy, v́ họ đă quen cung cách tự do, phóng khoáng khi sinh hoạt trong các đoàn thể hoặc giữa đám đông, nên khó ḷng giữ một thái độ có kiểm soát khi cầu nguyện. Nhưng đó không phải là lư do để loại bỏ kiểu cách trang nghiêm cung kính đối với Chúa khi cầu nguyện. Cũng đừng quên rằng Thiên Chúa là Đấng vô cùng cao cả vừa nội tại, vừa thân t́nh. Phải dung hợp cả hai thái độ trang nghiêm cung kính với gần gũi thân t́nh. Cái này không mâu thuẫn và loại bỏ cái kia, v́ vẫn có thể gần gũi thân mật và cung kính, như con cái gần gũi mến yêu cha mẹ, nhưng nào chúng có dám lỗ măng, khinh thường. Đó là cung cách thuận hợp và là điều kiện giúp cho việc cầu nguyện được dễ dàng và đạt tới kết quả.

b. Cầu nguyện riêng hay chung ?

Trong một lớp học, cầu nguyện chung là điều hết sức thông thường và hợp lư, nhất là sau khi đă nghe giảng giáo lư, để bộc lộ những tâm t́nh chung, những nhu cầu tập thể. Đàng khác, phụng vụ cũng dạy chúng ta cầu nguyện chung và có những lời kinh thích hợp cho động tác này.

Nhưng bên cạnh những lúc cầu nguyện hay đọc kinh chung này, lại cũng cần phải có những thời khắc dành cho mỗi cá nhân thầm lặng cầu nguyện, tiếp xúc riêng với Chúa. Như vậy mới thấm thía và đáp ứng nhu cầu riêng của mỗi người. Về điểm này, ngay trong bài nói chuyện hay khi để cho các em làm các hoạt động nội tâm hoá Lời Chúa, ta có thể gợi ư, khuyến khích thúc đẩy cho mỗi người cầu nguyện theo nhu cầu của ḷng ḿnh, hoặc tạo ra những khoảnh khắc yên lặng chung, để ai nấy dựa theo những điều đă diễn giảng hay gợi ư mà cầu nguyện riêng.

c. Cầu nguyện tự phát hay kinh có sẵn

Thường người ta hay cầu nguyện theo kinh đă có sẵn. Như thế giản dị, dỡ mất công sửa soạn, t́m ṭi hay suy nghĩ. Nhiều người đă quá quen lối này nên có ai tự phát cầu nguyện theo cảm hứng của ḷng ḿnh th́ họ cho là bày đặt và không theo thể thức nào cả.

Thực ra không ai phủ nhận lợi ích thuận tiện của những kinh đă có sẵn. Nhưng có điều nguy hiểm v́ những kinh đó có thể làm cho ta cầu nguyện một cách máy móc, không suy nghĩ và lười biếng nữa. Đă hẳn, những kinh “Lạy Cha, Kính Mừng” là những kinh rất ư nghĩa và sâu sắc, nhưng lúc nào cũng đọc những kinh đó, và hễ nói đến cầu nguyện là lôi những kinh đó ra đọc mà không suy nghĩ và sửa soạn th́ e rằng hơi có sự “lạm phát” và vô ư thức, v́ đọc những kinh đó như lấp những chỗ trống trong bất cứ trường hợp nào.

Vậy để bổ cứu, ta vẫn có thể đọc những kinh đă có sẵn nhưng đọc một cách hết sức thận trọng và ư thức, hoà hợp ḷng ḿnh với lời kinh ḿnh đọc, đồng thời tập cầu nguyện một cách tự phát chân thành, dùng lời Kinh Thánh và Phụng Vụ để cầu nguyện cho thêm sâu sắc và phong phú nữa, nhất là bây giờ chúng ta không c̣n gặp trở ngại do bức tường tiếng La-tinh nữa mà có thể trực tiếp đọc lời Kinh Thánh và Phụng Vụ bằng tiếng nước nhà.

d. Cầu nguyện bằng lời lẽ tôn vinh hay xin ơn

Khi nói đến cầu nguyện, tự nhiên ta thường nghĩ ngay đến xin ơn. Điều này không phải là sai, nhưng nếu chỉ nghĩ như thế th́ quả thực phạm vi của cầu nguyện bị thu hẹp lại nhiều quá.

Vậy, cần phải giáo dục và hướng dẫn người ta biết mở rộng phạm vi cầu nguyện mà không chỉ nguyện nghĩ đến xin ơn mà c̣n tôn vinh, cảm tạ và thờ lạy nữa, v́ đó là những cách thế cầu nguyện vô vị lợi làm đẹp ḷng Chúa thường được sử dụng trong Kinh Thánh mà điển h́nh là Tán tụng ca của Đức Mẹ. Cầu nguyện theo h́nh thức này là một cách thế chứng tỏ ta ngưỡng mộ, cảm phục và biết ơn Chúa. Thái độ và tâm t́nh này làm cho ta thêm gần gũi Chúa và Chúa gần gũi ta hơn v́ trong trường hợp này, ta cầu nguyện v́ Chúa nhiều hơn v́ ta.

Nhưng có phải v́ vậy mà loại bỏ lối cầu nguyện xin ơn không ? Không. Trong kinh Lạy Cha, Chúa Giê-su đă dạy ta cách thế cầu nguyện thích hợp, trong đó phối hợp cả tôn vinh và xin ơn. Điều nên lưu ư là không phải chỉ lúc cầu xin ơn nọ ơn kia mới cầu nguyện mà cầu nguyện bất cứ lúc nào, dù không có nhu cầu vật chất hay tinh thần. Nếu biết cầu nguyện như thế, ta đỡ thấy nhàm chán và thấy có nhiều lư do để cầu nguyện và lời cầu nguyện sẽ trở nên uyển chuyển và phong phú. Từ trước đến nay, ta chỉ quen xin ơn khi cầu nguyện th́ bây giờ bên cạnh lời cầu nguyện xin ơn tăng thêm những lời cảm tạ, tôn vinh, thờ lạy.

5. Dùng tiếng hát để cầu nguyện

Thánh Âu-tinh nói : hát hay hát đúng là cầu nguyện hai lần. Câu này có ư nhắc bảo chúng ta tiếng hát có một tác dụng đặc biệt trong việc cầu nguyện, làm cho lời cầu nguyện trở thành linh động, hấp dẫn. Trước kia, thường hát bằng tiếng La-tinh, nhiều người không hiểu, nhưng bây giờ hát bằng tiếng bản quốc, việc hoà hợp ḷng ḿnh với ư nghĩa của lời ca tiếng hát dễ dàng hơn. Tuy nhiên, phải hát với tất cả tâm hồn và mức độ nghệ thuật có thể có được, nghĩa là càng hát cẩn thận và hay bao nhiêu là lời cầu nguyện càng được yểm trợ và gây hứng thú bấy nhiêu, nhất là bây giờ âm nhạc được sử dụng rất nhiều trong phụng vụ, v́ đó là một cách thế linh động để diễn tả t́nh cảm tôn giáo.

a. Vai tṛ của tiếng hát

Tiếng hát dựa trên tiếng kêu, nhưng không phải bất cứ tiếng kêu nào mà là tiếng kêu nhịp nhàng tiết điệu biểu lộ tâm trạng của con người, hay nói khác đi là một cách phát âm do lư trí điều khiển để phát biểu những tâm tư, t́nh tự, rung động về những trạng huống sinh tồn. Mục đích của tiếng hát không phải để làm cho hiểu mà là cảm. Nó là một thứ ngôn ngữ diễn tả hơn là một đối tượng của tri thức. V́ thế, nó không đủ khả năng xác định một ư tưởng, tŕnh bày một quan niệm cho bằng khởi động một rung cảm, diễn tả một tâm trạng. Địa bàn hoạt động của nó là t́nh cảm. Mà quả thực, người ta không hát nếu không cảm thấy một cái ǵ hay không muốn truyền cảm cho người khác.

Nhưng nếu chỉ có tiếng hát không thôi mà không có lời ca diễn tả th́ cũng khó cảm thấy tiếng hát đó muốn nói hay diễn tả cải ǵ. Thí dụ một bài hát vui. Nhưng vui có nhiều thứ lắm. Biết là thứ vui nào nếu không có lời diễn tả, v́ tiếng hát tự nó chưa phải là một ngôn ngữ đầy đủ, khi tách biệt hẳn với lời ca, thành ra hát phải đi đôi với lời. Lời trong bài hát phải là thơ hay có tính chất thơ v́ khả năng rung cảm của thơ rất phong phú. Thơ và nhạc đi đôi với nhau : một bên là tiết tấu, một bên là nhịp điệu. Hai bên phối hợp với nhau th́ thành tiếng hát có lời và lời nói ra thành tiếng hát.

Khi tâm t́nh của con người được diễn tả ra bằng lời ca, tiếng hát, th́ tâm t́nh ấy có thể mạnh mẽ hơn, thấm thía hơn và rung cảm hơn. V́ thế rất nên hát khi cầu nguyện. Phụng vụ đă dành cho thánh ca một địa vị xứng đáng.

Nhưng cụ thể xin hỏi nên hát vào lúc nào khi dạy giáo lư ? Có thể hát vào bất cứ lúc nào, khi tâm t́nh dào dạt, ḷng trí tràn đầy những t́nh cảm mến yêu thán phục, khát khao mong chờ. Tuy vậy cũng nên xác định một vài thời khắc xem ra thích hợp và thuận tiện hơn : đó là khi bắt đầu bài giáo lư, đang giữa bài và khi kết thúc. Bài hát lúc khai mạc có ư chuẩn bị cho các em những tâm t́nh xứng hợp để đón nghe Lời Chúa ; bài hát vào giữa để làm nổi bật ư tưởng chính yếu và bài hát khi kết thúc để ca tụng, mến yêu thờ phượng, xin ơn trước khi giải tán.

b. Những điều kiện để trở thành một bài hát đạo

Về lời th́ phải là thơ, về nhạc th́ phải gợi lên hay diễn tả những t́nh cảm tôn giáo, nhất là mầu nhiệm Chúa Cứu Chuộc chúng ta. Nguyên lời và nhạc tách riêng ra cũng không đủ mà phải phối hợp với nhau và hội tụ những điều kiện vừa nói. Ngoài ra điệu nhạc lại phải thấm nhuần tinh thần trang nghiêm, tin tưởng, cung kính, làm cho người ta hoà hợp và giao cảm với Thiên Chúa.

Nói như vậy, nhưng thật khó dung hoà v́ nhạc thường diễn t́nh mà t́nh lại thiên về nhân loại, có khi đắm đuối, uỷ mị. V́ thế cũng chưa được thanh luyện đủ để thành tôn giáo. C̣n v́ phải làm cho có vẻ đạo, nên nhiều khi nhạc lại khô héo, thiếu nghệ thuật.

Bàn về bài hát đạo th́ có hai loại : một loại phụng vụ để hát trong nhà thờ, c̣n một loại gần phụng vụ thôi để hát ở ngoài. Loại phụng vụ gọi là thánh nhạc phải theo những quy tắc chặt chẽ hơn, c̣n loại gần phụng vụ được tự do như loại Ca vào đời của nhóm Alleluia. Nhưng dù sao, một bài nhạc đạo cũng phải hội tụ những điều sau đây :

1/ diễn tả một thái độ cung kính, đạo đức, không quá gợi cảm, kích động cơ năng ồ ạt, nhí nhảnh, bay bướm.

2/ diễn tả những t́nh cảm tôn giáo : kiên tâm bền chí khi phải phấn đấu với nghịch cảnh, vui vẻ chịu đựng khi gặp đau khổ, tin tưởng vào Chúa khi gặp những nỗi lo âu, xao xuyến.

3/ nhạc đạo làm ra là để cho nhiều người hát được nên phải có tính cách phổ thông, đại chúng, nhưng không được kém về nghệ thuật. Làm thế nào để càng hát đồng ca được bao nhiêu hay bấy nhiêu ; những câu độc ca chỉ là để xướng hoặc đối đáp với cộng đoàn. Như thế, bài hát mới đại đồng hợp với tính tập thể của cộng đoàn họp mừng Phụng Vụ.

c. Giáo dục về hát khi dạy giáo lư

Như vừa nói, v́ tác dụng của tiếng hát nên phải dành cho hát một địa vị trong khi dạy giáo lư v́ hát là cầu nguyện và cầu nguyện có thể hát ; v́ hát làm cho tinh thần được lôi cuốn, linh động hơn. Khi nào cảm thấy nhu cầu hay hứng thú th́ hát.

1/ về cung cách khi hát cũng phải giữ như khi cầu nguyện, nghĩa là nghiêm trang cung kính. V́ thế phải phân biệt tập hát với hát thật. Khi dùng hát mà cầu nguyện th́ đó là hát thật. C̣n ngoài ra là hát tập, hát chơi. Phải tập hát trước khi cầu nguyện. Tập cho kỹ, cho thuộc hẳn. Nếu diễn nghĩa bài hát trước được th́ càng tốt ; đọc cho người ta nghe lời cả để hiểu rồi hoà hợp ḷng với lời ca đó khi hát.

2/ cố t́m cách chọn bài hát thích hợp với những điều dạy trong bài giáo lư. Điều này hơi khó, v́ các nhạc sĩ của chúng ta chưa nghĩ đến giáo lư khi sáng tác nhạc. Đàng khác họ lại sáng tác tuỳ hứng, không theo chủ đề và ít dựa vào Kinh Thánh hay Phụng Vụ. Mong rằng thế hệ các nhạc sĩ trẻ đang lên sẽ để ư đến vấn đề này nhiều hơn.

Việc chọn bài hát thích hợp là điều cần thiết, làm nổi bật ư tưởng tŕnh bày trong bài giáo lư. Thí dụ, nếu dạy về sự xưng tội th́ nên hát thánh vịnh 50 hay bài hát nào diễn tả ḷng yêu thương, nhân từ tha thứ của Chúa. Ngay cả trong lễ Chúa nhật cũng vậy, nên chọn những bài hát nào gần với ư nghĩa Chúa nhật hôm đó. Thà hát ít, hay và hợp c̣n hơn hát nhiều mà dở v́ không đi sát với ư nghĩa.

3/ lựa bài hát hợp với loại người và tuổi.

Dù đối với trẻ em cũng không nên cho hát những bài non nớt, ấu trĩ, thiếu kém nghệ thuật. Có thể cho hát những bài dành cho người lớn và những bài hát có tính phụng vụ các em thường có dịp nghe hát lại trong nhà thờ. Nhưng không phải v́ thế mà loại bỏ những bài không có tính phụng vụ, v́ giáo lư không phải là phụng vụ, tuy có dùng phụng vụ trong giáo lư. Những bài hát này nhiều khi diễn tả những lối cảm nghĩ và những nhịp điệu đầy nhân loại tính thanh cao, dọn đường cho ta kết hợp với Chúa và ca tụng Người. Điều nên lưu ư là cần thích nghi cho hợp t́nh hợp cảnh để sử dụng.

6. Cử hành Phụng vụ

Cử hành phụng vụ ở đây là một lễ nghi trong đó các em đóng vai tṛ chính, trừ chức vụ chủ tế, thí dụ cử hành một buổi suy tôn Lời Chúa, lễ nghi Sám hối hay Rước lễ bao đồng, v.v… Đây là một cuộc cử hành không chính thức, không có người ngoài tham dự, trừ chính các em và các giáo lư viên. Mục đích của các buổi cử hành này là thực tập và nội tâm hoá các điều các em đă nghe giảng dạy trong lớp giáo lư. Đó cũng là một h́nh thức cầu nguyện. Vậy, cần phải phân tích bản tính, vai tṛ và các định luật cử hành phụng vụ khi giảng dạy giáo lư.

a. Bản tính của việc cử hành

1/ Liên lạc với giáo lư

Trước hết, phải liệu cho lễ nghi cử hành ăn nhằm với bài giáo lư đă dạy hay sẽ dạy cho các em. Mối liên lạc này rất cần thiết để cho thấy rơ tính liên tục giữa bài học và sự cầu nguyện, đồng thời cụ thể hoá được những lời giảng dạy. Nếu không tạo được mối dây liên lạc này, th́ việc cử hành phụng vụ trong lớp giáo lư không có lư do hiện hữu.

2/ Có tính cộng đồng

Cử hành phụng vụ phải có tính cộng đồng v́ đó là một hoạt động có nhiều người tham dự, cùng sống một mầu nhiệm được diễn tả bằng những cử chỉ và dấu hiệu. Khi cử hành phụng vụ, mỗi người đều phải là diễn viên và cùng chung hành động với nhau. Vậy, phải liệu sao cho cộng đoàn đều tham dự một cách tích cực, v́ đây là lúc mọi người phải cầu nguyện theo các nghi thức trang nghiêm kính cẩn.

b. Thời gian cử hành và những yếu tố cần thiết

1/ Yếu tố

Như vừa nói, cử hành là một hành động, nên phải bao gồm tất cả yếu tố của một hành động, nghĩa là phải có bài đọc, chú giải, cử điệu, hát xướng để đánh động ḷng người tham dự.

Mỗi người đều có một vai tṛ riêng được sắp đặt và phân chia trước, thí dụ người hướng dẫn, người đọc sách, các ca viên, v.v…

Ngoài ra, lại phải tạo cho lễ nghi cử hành một vẻ trang nghiêm, thánh thiện, v́ thế, y phục cử chỉ của những diễn viên chính trong buổi cử hành cũng phải gợi cho người ta vẻ thiêng thánh.

2/ Thời gian cử hành

Thời gian cử hành lễ nghi phụng vụ cũng bao gồm những thời khắc giống như trong lễ, khi cử hành phụng vụ Lời Chúa, nghĩa là :

– Sửa soạn để nghe Lời Chúa. Giai đoạn này có thể diễu hành, hát, cầu nguyện chung.

– Nghe Lời Chúa. Được chọn những đoạn văn trong Kinh Thánh thích hợp với hoàn cảnh và ư nghĩa buổi cử hành. Có thể đứng, Lời Chúa có thể do một người đứng đọc hay đọc cho những người khác tŕnh diễn bằng các cử điệu.

– Nghe đọc Lời Chúa xong, mọi người ngồi suy niệm hoặc nghe chú giải.

– Sau đó, hoặc ngồi yên lặng hoặc hát thánh ca, thánh vịnh. Nên chọn những bài hợp với ư nghĩa bản văn mới nghe.

– Cầu nguyện chung do chủ tế gợi ư rồi để cho mỗi người tự động bày tỏ các ư chỉ cầu nguyện, hoặc cầu nguyện âm thầm rồi kết thúc bằng một lời nguyện chung. Chủ tế đọc lời nguyện này, trong đó thu hợp tất cả ư nguyện của cộng đoàn dâng lên Chúa như một cử lễ.

– Diễu hành ra về. Khi diễu hành, hát những bài thích hợp.

c. Các định luật phải theo khi cử hành phụng vụ trong lớp giáo lư

1/ Xét về phương diện giáo lư

– Phải coi việc cử hành là một cuộc cầu nguyện và liệu cho có liên lạc chặt chẽ với những điều đă giảng dạy, sẽ giảng trong các bài giáo lư. Đó cũng là một cách thế nội tâm và cụ thể hoá những điều đă học.

– Liệu cho trước sau được duy nhất bằng cách tập trung tất cả vào một câu nào đó trong bài giáo lư hay một thái độ đạo đức rút ra từ bài giáo lư.

2/ Về phương diện phụng vụ

– Đặt ưu tiên cho Lời Chúa, nghĩa là cốt làm cho Lời Chúa vọng tới tai người nghe, cho người ta nghe, hiểu, nghiền ngẫm rồi đem ra thực hành. Nhưng ở đây nghe phải là chính. Đừng diễn nghĩa dài ḍng, lặp đi lặp lại măi một ư tưởng làm cho người ta nhàm chán và cảm thấy nặng nề. Hăy để cho Lời Chúa hoạt động, thâm nhập ḷng người nghe, đừng đứng ra cản lối hay làm chướng ngại.

– Để cho người nghe được tự do đáp lại Lời Chúa, và phần người hướng dẫn th́ kín đáo và tế nhị, nghĩa là không nên nói liên hồi, không c̣n để khoảng nào trống cho các em có thể tự ḿnh nói vài điều riêng với Chúa, trong thâm tâm của chúng, hoặc nói hết, làm hết thay cho tất cả, khiến không ai c̣n ǵ để làm nữa.

– Biết thích ứng để biết lúc nào nên rút bớt, lúc nào nên kéo dài tuỳ phản ứng và sức chú ư cũng như chịu đựng của các em. Có nhiều buổi kinh lễ kéo dài quá lâu một cách không cần thiết, làm cho người ta mỏi mệt và chán nản tất cả những ǵ về Chúa, về đạo. Vậy phải tinh ư coi chừng không nên làm quá lâu, hát nhiều quá hay năng tổ chức những cuộc cử hành Phụng vụ quá. Thường cuối mỗi tam cá nguyệt một lần là đủ. Nhưng phải sửa soạn trước cho chu đáo và chọn một điểm nào cần nhấn mạnh hơn trong các bài giáo lư hay một thời gian phụng vụ nào trùng hợp với mầu nhiệm giảng dạy cần làm nổi bật mà tổ chức những buổi cử hành.

Kết luận

Chương này bàn về tương quan giữa bài giáo lư và sự cầu nguyện. Mục đích trực tiếp của bài giáo lư chưa phải là sự cầu nguyện, nhưng cuối cùng vẫn phải đưa đến cầu nguyện. Sự cầu nguyện sẽ trở nên tương đối dễ dàng và dường như bột phát, nếu qua bài dạy giáo lư, các em hiểu rơ về Chúa và thấm nhuần những tư tưởng đạo, lại được nuôi dưỡng bằng Kinh Thánh và Phụng vụ cùng chứng kiến và tham dự những buổi cử hành Phụng vụ liên quan trực tiếp đến các bài giáo lư đă học.

Nhưng, dầu sao dạy đạo vẫn là một công cuộc đầu tư lâu dài, nên phải biết sửa soạn và chờ đợi. Như mưa thấm vào ḷng đất dần dần để làm cho nó ra mầu mỡ th́ Lời Chúa cũng phải được tưới gội ḷng người nay một ít mai một ít. Và đó chính là nhiệm vụ của các giáo lư viên.

CHƯƠNG V :
TƯƠNG QUAN GIỮA VIỆC DẠY GIÁO LƯ
VÀ HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM

Lời Chúa ta truyền thông cho các em hay người lớn tuổi trong lớp giáo lư là có ư gợi cho họ đáp ứng. Trong trường hợp này, Lời Chúa vừa có tác dụng kêu gọi, thúc đẩy, thức tỉnh, lại vừa đánh động, lôi cuốn, khiến họ nh́n thấy Chúa Cứu Độ qua bài giáo lư mà đi tới chỗ thờ phượng, mến yêu, ca tụng Người, đồng thời giúp họ khám phá ra con người thực của ḿnh với những khả năng và giới hạn cũng như những bất trung và tội lỗi mà ăn năn hối cải. Lời Chúa được hiểu và đón nhận như thế rất có sức huấn luyện lương tâm.

Vậy trong chương này, ta sẽ cùng nhau nh́n xem bài giáo lư có thể huấn luyện lương tâm thế nào và những cách thế để đạt tới mục đích đó.

TIẾT I: DẠY GIÁO LƯ VÀ HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM

1. Gây không khí huấn luyện

Trong chương trước đă nói về sự cầu nguyện. Sự cầu nguyện phải bao trùm lớp học, như không khí, nghĩa là làm thế nào cho học sinh đắm ḿnh trong cầu nguyện như được ngụp lặn trong không khí. Như vậy, trước khi dạy giáo lư, phải gây cho học sinh ư thích vâng nghe Lời Chúa. Thái độ này phải mỗi lúc một thêm rơ ràng và vững mạnh, mỗi khi tiến sâu thêm vào bài giảng giáo lư. Đến cuối bài, học sinh sẽ nghe thấy tiếng Chúa rơ hơn và do đấy cũng nhận thấy bổn phận của ḿnh. Bấy giờ, tự nhiên học sinh có thể tự đi đến chỗ xét ḿnh, hối lỗi và quyết chí sửa điều này, làm việc kia.

2. Huấn luyện chung và liên lỉ

Có người tưởng rằng chỉ khi dạy về sự xét ḿnh, ăn năn tội, xưng tội mới là huấn luyện lương tâm cho các học sinh. Không phải thế, v́ chưa chắc khi đưa cho các em đó một bản xét ḿnh kê khai các thứ tội và khi đọc xong bản kê khai đó là các chúng biết xét ḿnh thật sự. Nếu chúng không được huấn luyện sâu xa và kỹ lưỡng về lương tâm, nghĩa là biết phân biệt cái nào là tội, cái nào không, tội nào nặng tội nào nhẹ và mềm mại nghe theo tiếng thúc giục thầm kín trong ḷng bảo làm điều này, tránh điều kia th́ rất có thể mỗi lần đi xưng tội, chúng sẽ xưng một số tội thông thường mà không hiểu tội đó nặng nhẹ thế nào, cũng chẳng hiểu ư nghĩa và điểm cốt yếu của phép giải tội ở chỗ nào, nên kể là chưa được huấn luyện ǵ về tinh thần sám hối, do đấy hiệu lực của phép giải tội bị suy giảm nhiều.

Vậy, phải dạy cho các em nay một ít mai một ít, b iết tự ḿnh phê phán về ḿnh dưới cái nh́n của Chúa. Việc huấn luyện này đ̣i phải có thời gian, cũng lâu như việc huấn luyện đức tin. Mà lương tâm và đức tin gắn liền với nhau. Đức tin mạnh, th́ lương tâm cũng bén nhạy, v́ khi tự vấn lương tâm, các học sinh cũng phải đặt ḿnh trước mặt Chúa, nhờ ơn Người soi sáng, thúc đẩy và đánh động sau khi đă học bài giáo lư.

Cho nên phải huấn luyện lương tâm trong suốt thời gian dạy giáo lư, qua từng đoạn từng chương một, về những thái độ và đ̣i hỏi chính đáng của mỗi mầu nhiệm đă tŕnh bày khiến các em tập sẵn được những cách thế phải hành động theo tinh thần siêu nhiên mỗi khi cần đến.

Điều này thật hiển nhiên trong phạm vi luân lư, v́ vấn đề là biến đổi hành động của con người, do ảnh hưởng Lời Chúa đă được học hỏi.

3. Điều kiện cần thiết để huấn luyện lương tâm

a. Dạy giáo lư cho vững vàng cụ thể

Điều kiện huấn luyện lương tâm cũng là những điều kiện phải có khi dạy giáo lư. Vậy, khi dạy giáo lư, ta phải nói với những con người cụ thể, phải thích hợp với tâm địa người ta, với nhu cầu thiêng liêng và khả năng hành động thiết thực của họ, khi huấn luyện lương tâm cũng phải đặt học sinh trước những đ̣i hỏi cụ thể của Lời Chúa, gây cho chúng những thái độ và phản ứng rơ rệt trong hoàn cảnh này hay hoàn cảnh kia. Điều này có thể thực hiện, một khi chúng đă thấm nhuần giáo lư. Giáo lư càng được thấm nhuần, khi lời giảng dạy đi vào cuộc đời và gắn liền với đời sống thông thương của con người, nghĩa là không viển vông, xa xôi, trừu tượng, mơ hồ.

b. Tŕnh bày bộ mặt đích thực của Chúa

Chúa là Đấng Cứu Độ ta qua Con Một Người là Đức Giê-su Ki-tô. Phán quyết của Người là phán quyết do ḷng yêu thương. Khi huấn luyện lương tâm cho học sinh ta đừng quên nhấn mạnh đến những điểm này. V́ Chúa yêu thương cứu ta, nên ta cũng phải lấy ḷng yêu thương tín nhiệm mà đáp lại. Lấy t́nh yêu đáp trả t́nh yêu th́ không có giới hạn nào. Càng yêu càng cho nhiều, làm nhiều và chịu đựng nhiều v́ nhau. Giáo lư dựa trên yêu thương th́ mạnh mẽ và rộng răi hơn là dựa trên sự sợ hăi, dù là sợ tội. Từ trước đến nay, trong các bài giáo lư, ta đă nhấn mạnh đến những việc làm v́ luật bó buộc, không th́ có tội. V́ sợ tội và h́nh phạt mà làm chứ không phải v́ mến yêu tự nguyện. Cho nên chỉ làm đến một mức tối thiểu, nghĩa là cần đến đâu, làm đến đó, không làm quá mức. Riêng đối với tâm tính của phần đông chúng ta, cái ǵ buộc mới làm, cái ǵ để tự do th́ không. Trong bao năm, lễ giáo Khỗng Mạnh đă rèn đúc ta trong khuôn khổ luật lệ, bó buộc, khiến tự nhiên ta chỉ làm v́ luật buộc thôi, c̣n ít khi có những hành vi chí nguyện, tự phát.

Đàng khác, nền giáo dục ấy dường như làm cho con người chúng ta ưa nặng hơn ưa nhẹ. Muốn được việc th́ phải nói mạnh, làm mạnh, nếu cần, dùng cả đạo lực nữa. Chẳng vậy, tục ngữ mới có câu “Yêu cho roi cho vọt ; Ghét cho ngọt cho bùi” mà không ngờ đến những kết quả tai hại trong phạm vi giáo dục. Cái tai hại của câu này là ở chỗ quan niệm rằng roi vọt, cấm đoán, đe doạ, sửa trị là cách thế làm cho người ta giữ luật, c̣n nếu đối xử một cách ngọt ngào, dùng lời khuyên dụ để cảm hoá th́ xem ra như ít hữu hiệu và như thế không phải là thương yêu. Trong thực tế, ta cũng phải đau ḷng nhận thấy như thế. Nói lịch sự có vẻ thiết tha yêu cầu, kêu gọi đến tinh thần tự giác tự trọng th́ chẳng mấy ai đếm xỉa và lo thi hành, c̣n nếu dùng quyền, lấy luật mà bắt ép, bấy giờ người ta mới chịu. Ngoài ra lại c̣n cái tật này nữa, và đó là nết xấu chung của nhiều người là sự vô hiệu của lời nói, khi lời ấy chỉ kêu gọi lương tri mà không cấm đoán khe khắt. Nếu chỗ nào không có cảnh binh đứng ŕnh thổi c̣i bắt phạt th́ người ta không coi luật lệ lưu thông ra ǵ cả. Bảng đề là cấm đổ rác, cấm phóng uế th́ ở ngay chỗ đó là rác rưởi và mùi hôi thối của nước tiểu và những đống phân.

Cho nên, vấn đề nội tại hoá lề luật, giữ điều này điều kia v́ hiểu biết, yêu mến, tự động hơn là v́ bó buộc, v́ bất đắc dĩ là một công tŕnh giáo dục cần phải thực hiện nơi các học sinh. Phải có như vậy, việc giữ luật mới có ư nghĩa và anh hùng. Nhưng điều này thuộc phạm vi giáo dục lương tâm. Một lương tâm tế nhị, nhậy cảm với những đ̣i hỏi của ḷng mến yêu mới đi tới cùng mà vẫn ít cảm thấy nặng nề và ràng buộc v́ t́nh yêu mến Chúa là động lực nâng cao tâm hồn và ban cho sức mạnh phấn đấu, chịu đựng thắng vượt.

TIẾT II: VÀI CÁCH THẾ ĐẶC BIỆT
ĐỂ HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM

1. Xét ḿnh và dốc ḷng

a. Có thể kết thúc bài dạy giáo lư bằng cuộc xét ḿnh hay kiểm thảo và một vài điều dốc ḷng cụ thể. Thí dụ nếu vừa giải thích về việc Chúa Giê-su tự nguyện vác Thánh giá để cứu chuộc ta và cho thấy Thánh giá hay những rầy rà, cực khổ, khó chịu ta bằng ḷng nhận v́ người khác để giúp hay cứu họ th́ đó là biểu hiệu của ḷng yêu thương và của ư chí muốn làm môn đệ ai, như Chúa nói : “Ai muốn làm môn đệ tôi th́ hăy vác thánh giá ḿnh”, rồi từ đó nói với các em t́m những việc trong ngày để thực thi điều đó, v́ có nhiều lúc chúng sẽ gặp thánh giá, như thấy rằng muốn giữ luật, vâng lời, tử tế với chúng bạn không phải dễ. Những điều ấy đ̣i chúng phải từ bỏ ḿnh, chịu rầy rà khổ cực, có khi mất mát, thiệt tḥi nữa, v.v…

Sau khi đă giải thích và hỏi các em về những trường hợp có thể xảy ra để chứng tỏ quyết tâm theo Chúa, ta viết những câu trả lời đó lên bảng. Đoạn gợi ư cho các em  biết lúc nào Chúa muốn ta cùng chịu “đóng đinh” với Người. Vậy, nếu từ chối không chấp nhận như vậy là lười biếng, ích kỷ, kiêu ngạo hay không muốn theo Chúa Giê-su.

Cuối cùng, nên dành một vài phút im lặng để cho ai nấy suy nghĩ và t́m điều dốc ḷng.

Đến bài nói chuyện sau, ngay từ đầu hay trước khi kết thúc, cùng nhau kiểm thảo xem mỗi người đă giữ điều dốc ḷng chưa.

Một thí dụ khác : nếu bài nói chuyện có ư giải thích việc xưng tội và minh chứng rằng đi xưng tội là cáo tội với Chúa qua linh mục được Chúa uỷ quyền, chứ không phải cáo tội với một người trần gian đâu. V́ thế, ta phải kính cẩn, khiêm nhường, và tín nhiệm trong toà giải tội, v́ khi đó ta tiếp xúc với Chúa. Linh mục chỉ là người trần gian là môi giới chứ không phải Chúa.

Tuy vậy, việc xét ḿnh và dốc ḷng mỗi người phải tự làm lấy. Giáo lư viên chỉ hướng dẫn gợi ư chứ không thể làm thay.

Nên lưu ư rằng trong những lúc yên lặng, cần làm thế nào cho các em biết suy nghĩ một chút về đời sống của chúng để xem Chúa kêu gọi chúng sửa đổi ở những điểm nào.

b. Nhưng coi chừng, đừng làm nhiều quá và không phải sau bài giáo lư nào cũng làm đâu ! Như thế sẽ dễ trở nên nhàm chán và giả tạo. Thỉnh thoảng làm một lần, đặc biệt vào những mùa phụng vụ hay lễ lớn. Nếu bài giáo lư được sửa soạn kỹ càng và giải nghĩa tỉ mỉ, chắc chắn những lời đó sẽ gây được những ảnh hưởng tốt nơi trẻ em, khiến cho chúng, nhờ ơn Chúa giúp, biết đáp lại những tiếng gọi đánh động ḷng ḿnh mà nhận ra phải làm điều này, phải sửa đổi điều kia. Lời Chúa là lời đ̣i hỏi. Ta đừng quên điều đó và liệu cho cách đ̣i hỏi của lời này được hiện tỏ. Đă có đ̣i hỏi th́ phải có đáp ứng. Và đáp ứng là nhiệm vụ của mỗi người trong chúng ta đối với Lời Chúa.

2. Sửa soạn xưng tội

a. Sửa soạn chung

Sửa soạn chung là sửa soạn cho các em đón nhận các bí tích để bước vào cuộc đời ân sủng là phép giải tội. Sau phép rửa tội th́ giải tội là cửa ngơ để bước vào thế giới ân sủng. Huấn luyện lương tâm cho các em cũng là huấn luyện cho chúng có ư thức về tội. Một trong những tai hoạ của thời đại ta là người bây giờ mỗi lúc một mất dần ư thức tội lỗi. Những cuộc khủng hoảng và xáo trộn về luân lư hiện nay là do sự đánh mất ư thức đó cộng thêm với sự yếu kém ḷng tin. Mà hai thứ này lại đi đối và gắn liên với nhau : không c̣n biết tội và coi tội là ǵ nữa, th́ cũng chẳng c̣n tin và không muốn tin.

Biết tội là ǵ, và có ḷng khinh chê, gớm ghét tội v́ ḷng mến yêu Chúa là Đấng tốt lành thánh thiện, đó là đầu mối sự khôn ngoan.

Cho nên, trước khi sửa soạn xưng tội, phải cho các em biết tội là ǵ và nh́n nhận mọi người ai cũng đều có tội trước mặt Chúa mà đến cáo tội và xin Người tha thứ. Tất nhiên, trước khi cáo tội phải biết ḿnh có những tội nào và do đấy lại đặt vấn đề xét ḿnh như đă nói. Nhưng điều cần là dạy cho các em tự ḿnh nhận ra tội lỗi, có những tâm t́nh thống hối và cử chỉ sám hối thật sự.

b. Dùng các á bí tích

Đă hẳn giữa việc dạy giáo lư và các bí tích có một mối dây liên lạc chặt chẽ. Nhưng điều này lại đặt thêm một vấn đề khác là nếu sự ăn năn tội và phép giải tội gắn liền với nhau như thế th́ liệu có thể nói đến tinh thần sám hối mà không nói đến phép giải tội không, hay nói khác đi, phải chăng không thể bảo người ta xin lỗi mà không bắt đi xưng tội, nghĩa là muốn được tha th́ phải vào toà giải tội ? Cụ thể hơn, nếu nói đến sự ăn năn của vua Đa-vít và khuyên chê ghét các tội như nhà vua th́ phải chăng sau bài giáo lư cũng phải bảo người ta đi xưng tội ngay ? Như vậy thiết tưởng hơi quá đáng. Nhưng không được làm cách nào cho trẻ em nghĩ rằng v́ xưng tội và xin lỗi là hai việc khác nhau, có thể tách biệt được, nên xưng tội chỉ là điều thêm vào và dường như phụ thuộc đối với tinh thần sám hối và sự ăn năn tội.

Thực ra, câu trả lời cho vấn đề này, theo nguyên tắc đă có rồi, do việc phân biệt trong đời sống giữa cái minh nhiên và ám tàng, thí dụ không phải cứ mỗi lần sai lỗi là ta công khai đến xin lỗi má, mà chỉ trong ít nhiều trường hợp, khi sai lỗi nặng, ta mới đến xin lỗi thôi. Đối với Chúa cũng vậy. Những luật đi từ ám tàng tới minh nhiên được áp dụng theo t́nh trạng riêng biệt của mỗi linh hồn và tuỳ hoàn cảnh, nhưng vẫn phải theo luật lệ của Giáo Hội về vấn đề này.

Ngoài ra, cũng có thể sử dụng các á bí tích để được ơn tha tội v́ đó là những cách thế thông thường và thích hợp cho những tội nhẹ ta tỗi phạm hằng ngày. Nếu bỏ qua th́ thật đáng tiếc trong việc huấn luyện lương tâm. Như vậy, có thể đọc kinh “Lạy Cha”, kinh “Cáo ḿnh” để được tha các tội nhẹ. Trong kinh “Lạy Cha” có câu “xin tha nợ chúng con” và trong kinh “Cáo ḿnh” đă có sẵn công thức sám hối được Giáo Hội công nhận. Rồi trong Mùa Chay lại có rất nhiều kinh và cử chỉ biểu lộ ḷng ăn năn đền tội. Tất nhiên, những á bí tích này chỉ có công hiệu tha tội nhẹ mà thôi, c̣n các tội nặng th́ phải vào toà xưng tội. Nếu trong lớp giáo lư đôi khi cử hành lễ nghi sám hối tập thể, th́ không ǵ ngăn cản ta sử dụng một á bí tích để được tha các tội nhẹ. Đó cũng là một cách xưng tội, nhưng chỉ áp dụng cho các tội nhẹ.

3. Nhờ những buổi nói chuyện đặc biệt

Diễn giảng mấy chương về sự ăn năn và phép giải tội không đủ để huấn luyện tinh thần sám hối. Vậy, cần lưu ư mấy điểm sau đây :

a. Phải tôn trọng thứ tự. Trước hết, phải nói đến sự ăn năn và lư do ăn năn là chính Chúa. Ta chỉ phàn nàn chua xót v́ đă xúc phạm đến Chúa là Đấng tốt lành thánh thiện, và tội lỗi là những chướng ngại làm ngăn cách Chúa với ta, phá vỡ cái thế liên lạc ân t́nh giữa ta với Người, khiến ta trở thành kẻ bất trung, phản bội.

b. Tạo dây liên lạc giữa sự ăn năn và những quy kết dĩ nhiên của nó là thú tội, dốc ḷng và sửa chữa. Khi đă ăn năn đau đớn th́ muốn thú nhận tội lỗi với Chúa và quyết chí dốc ḷng không tái phạm nữa, đồng thời sửa chữa bằng cách làm việc đền tội.

c. Đền tội là cách thế chứng tỏ tính cách đứng đắn của việc ăn năn. V́ thật ḷng ăn năn nên mới đền bù, sửa lỗi.

Bởi thế, nếu muốn huấn luyện lương tâm cho kỹ lưỡng chắc chắn, cần phải tổ chức những buổi nói chuyện và diễn nghĩa đặc biệt về những điểm này.

4. Tổ chức những buổi cử hành lễ nghi sám hối

Lễ nghi sám hối là một lễ nghi bán phụng vụ. Sau lời cầu nguyện chuẩn bị, giáo lư viên duyệt qua lại những sai lỗi các em học sinh có thể phạm và thúc đẩy mỗi em tự xét ḿnh riêng, rồi yên lặng suy nghĩ một lát để giục ḷng ăn năn tội. Có thể gợi ư cho các em chọn một việc dốc ḷng và một việc đền tội riêng. Cứ hai ba tuần làm như thế một lần. Mục đích của những lần cử hành này là dần dần tập cho các em có những tâm t́nh và thái độ sám hối đích thực từ bên trong.

Có thể cử hành ở lớp học, nếu thuận tiện hay ở nhà thờ. Để thêm phân trang trọng và do đấy đánh động các em hơn, khi cử hành nên cho mặc áo phụng vụ và vừa đến nơi cử hành vừa hát những bài thánh vịnh bày tỏ ḷng ăn năn thống hối, thí dụ thánh vịnh 50. Trước khi xét ḿnh, giáo lư viên hay linh mục nói một bài giảng dụ vắn tắt theo ư bài Sách Thánh nào liên quan đến việc thú tội và thống hối, sau đó xét ḿnh. Việc xét ḿnh này có thể chuẩn bị cho các em xưng tội ngay sau đó hoặc đón nhận ơn tha tội bằng một á bí tích như đă nói ở trên.

H́nh thức này có vẻ long trọng, không buộc hết mọi lần cử hành đều phải làm như vậy. Nếu làm luôn hai, ba tuần một lần th́ mỗi tam cá nguyệt cử hành một lần long trọng cũng được. C̣n những lần khác, làm một cách đơn sơ ngay trong pḥng giáo lư. Công dụng của lễ nghi tập thể này là gây ư thức tập đoàn và liên đới : mọi người đều phạm tội trước mặt Chúa và đều phải liên đới cùng nhau về những ác quả của tội lỗi mà đồng thanh thú nhận và xin Chúa thứ tha. Vả lại, khi cùng thú nhận tội lỗi trước mặt Chúa như vậy, tự nhiên thấy có không khí giúp dễ khiêm nhường và can đảm nhận lỗi, v́ nghĩ rằng ai cũng vậy cả, đâu có phải riêng ḿnh mà mặc cảm.

CHƯƠNG VI :
CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LỚP GIÁO LƯ

Thời đại bây giờ thiên về hoạt động và hữu hiệu. Do đấy, các phương pháp sư phạm cũng chịu ảnh hưởng mà đ̣i phải linh động, cụ thể, hữu hiệu để giúp đạt tới kết quả trong việc giảng dạy và truyền thông kiến thức, chính v́ thế mới phát hiện những phương pháp thính thị giác.

Giáo lư tự nó đă thiên về tư tưởng, mầu nhiệm. Diễn tả tư tưởng đă khó, phương chi lại diễn tả mầu nhiệm th́ lại càng khó hơn. V́ thế, nếu không dùng những cách thế thích hợp để làm giảm bớt phần khó khăn th́ công việc giảng dạy sẽ quá nặng nề và khó ḷng đạt được kết quả mong muốn, đành rằng kết quả của việc này tuỳ thuộc nhiều ở sức tác động của ơn Chúa, nhưng con người cũng phải góp phần vào đó. V́ thế, chương này nói đến các hoạt động trong lớp giáo lư và coi đó như những phương tiện để kiểm soát mức hiểu biết của các học sinh về những điều đă được nghe giảng dạy, đồng thời cũng để giúp các em nội tâm hoá những điều đă học, hầu tạo được những tâm t́nh và thái độ xứng hợp, khi sống và biểu dương đức tin của ḿnh.

Vậy, hoạt động trong lớp giáo lư là ǵ và phải tuân theo những luật lệ nào khi làm những hoạt động đó ?

TIẾT I: TƯƠNG QUAN GIỮA BÀI GIÁO LƯ

VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG

1. Những hoạt động nhằm đưa tới bài giáo lư

Những hoạt động này cốt chuẩn bị cho người nghe đón nhận Lời Chúa hoặc thúc đẩy họ tự ḿnh đi t́m cách đáp ứng lại Lời Chúa kêu gọi.

Tuỳ mỗi đề tài nói chuyện mà chọn những hoạt động móc nối với bài ấy. Thí dụ, nếu nói về ơn gọi làm linh mục, ta có thể cho các em t́m xem trong địa phận có bao nhiêu linh mục, người ta nghĩ ǵ về Giáo Hội, Công Đồng, phép giải tội, v.v… Cũng có thể dùng những cuộc thăm viếng hoặc chiếu phim làm những hoạt động chuẩn bị cho bài giáo lư. Đó là khởi điểm giúp ta căn cứ vào đó mà bắt đầu. Tất nhiên, giáo lư viên phải biết những hoạt động đó sẽ đưa ḿnh tới đâu và mục đích ḿnh muốn đạt tới, khi đưa ra những hoạt động đó là thế nào ? Cho nên những hoạt động chuẩn bị phải tuỳ thuộc nội dung của bài giáo lư. Giá trị của những hoạt động đó cũng tuỳ thuộc giá trị của bài nói chuyện.

2. Những hoạt động hỗ tương của giáo lư viên và cử toạ

Trong lớp giáo lư, không phải chỉ có giáo lư viên hoạt đông hay ngược lại chỉ có cử toạ hoạt động, mà ngược lại hai bên hoạt động hỗ tương nhau, tuy mỗi bên có phần việc riêng của ḿnh. Việc của giáo lư viên là giảng dạy. Lời giảng dạy sẽ linh động và dễ hiểu hơn nếu có những hoạt động kèm theo để làm cho sáng tỏ. Hoạt động ấy có thể là những câu hỏi, những lời giải thích bằng cử chỉ, h́nh vẽ, những bài đọc, những tích truyện, v.v… Hoạt động của cử toạ là chăm chú lắng nghe và t́m hiểu. Nhưng không thể chỉ ngồi nghe một cách thụ động và như thế sẽ chóng chán và buồn ngủ. Bởi vậy, cử toạ cũng có phần việc phải làm là đặt những câu hỏi, yêu cầu giải nghĩa rơ thêm điểm này điểm kia, hoặc trả lời những câu giáo lư viên hỏi hay cùng nhau t́m ṭi để góp chung một kinh nghiệm tôn giáo đặc biệt. Như thế, trong bài giáo lư, có nhiều chỗ giáo lư viên và cử toạ thay nhau hoạt động. Nhưng coi chừng, những hoạt động đó không được đi quá xa ra ngoài bài giáo lư. Về điểm này, giáo lư viên phải tinh ư vừa khêu gợi lại vừa kiểm soát những hoạt động đó.

3. Những hoạt động nhằm “tiêu hoá”, cắt nghĩa, giải đáp bài giáo lư

Khi nói đến hoạt động, nhất là hoạt động trong lớp giáo lư cho trẻ em, thường người ta nghĩ ngay đến những hoạt động sau bài giáo lư. Những hoạt động này nhằm giúp các em hiểu rơ thêm bài giáo lư, nội tâm hoá những tâm t́nh và ư tưởng đă được nghe giải nghĩa hay t́m cách đáp ứng lại Lời Chúa. Ngoài những lợi điểm cốt yếu này, những hoạt động đó lại c̣n tạo cơ hội cho giáo lư viên và học sinh đối thoại với nhau. Qua những lời trao đổi, những câu hỏi của học sinh, giáo lư viên có thể thấy học sinh hiểu những lời ḿnh giảng đến đâu, hiểu thế nào, điều nào cần giải nghĩa thêm, điều nào làm chúng không ưa, điểm nào c̣n mù mờ cần lưu ư, v.v… Những hoạt động c̣n có thể tạo nên một bầu khí thân hữu v́ làm cho các em có dịp cùng nhau suy nghĩ, giúp nhau và như vậy thực hiện được một cộng đoàn làm việc chung với nhau.

Như đă nói, những hoạt động liên hệ mật thiết với bài nói chuyện. Phải đưa ra những hoạt động có liên lạc với bài và làm cho bài đó thêm linh động và được hiểu biết kỹ lưỡng hơn. Thường những hoạt động hay cũng là kết quả của một bài nói chuyện tốt. Nh́n vào những hoạt động, người ta có thể t́m ra ư nghĩa của bài nói chuyện, nội dung chính yếu của bài hoặc mục đích bài muốn đề ra. Nếu trẻ em thấy hứng thú và có khả năng làm các hoạt động với điều kiện là phải cố gắng th́ đó cũng là thước đo một phần giá trị của bài nói chuyện.

TIẾT II: CÁC LOẠI HOẠT ĐỘNG

Có nhiều loại hoạt động tuỳ theo nguyên tắc phân chia chúng ta lựa chọn. Có thể chia làm hai loại như vừa nói : loại chuẩn bị và loại nội tâm hoá bài nói chuyện, hay nhiều loại khác tuỳ khả năng trí tuệ, thực hành của học sinh hay tuỳ môn như Kinh Thánh, Phụng vụ, v.v… Đại để có 5 loại :

1. Ghi chú những sự kiện

Những hoạt động này nhằm ghi chú những sự kiện về cuộc đời Chúa Giê-su, các nhân vật trong dụ ngôn, các hoạt động của linh mục, các yếu tố của một lễ, v.v… và chỉ cốt chuẩn bị cho những hoạt động kế tiếp vượt qua các sự kiện để t́m hiểu ư nghĩa. Những hoạt động quan sát này cũng quan trọng, nhưng chỉ là khởi điểm để giúp ta hiểu biết ư nghĩa một sự kiện.

2. Đi từ sự kiện đến mầu nhiệm, từ dấu hiệu tới ư nghĩa

Qua những hành vi và ngôn từ của Chúa Giê-su, hiểu rằng “Người là ai” nói lên ư nghĩa của các dụ ngôn, phép lạ, cái chết và sự sống lại, các nghi lễ phụng vụ, tác phong của người tín hữu, giải thích con người của Chúa Ki-tô và Đức Mẹ, chú giải các bản Sách Thánh, v.v… đó là phần việc của loại hoạt động thứ hai này.

Nhưng phải canh chừng cho việc đi từ phạm vi sự kiện đến mầu nhiệm có thể diễn ra thực sự, chứ không phải chỉ dừng lại ở phạm vi nhân loại, thí dụ chỉ tŕnh bày Chúa Giê-su tốt lành, tận tâm, nhân hậu, mà không cho thấy Người là Đấng Cứu Thế từ trời xuống ; hoặc chỉ đứng trong phạm vi sự kiện mà thôi, như khi đưa ra những bằng chứng Chúa Giê-su đă sống lại, mà không làm cho người ta thấy và hiểu rằng điều ấy có nghĩa là Người đă vào chốn vinh quang đă chiến thắng cái chết và sự tội, Người quyền năng cao cả th́ như vậy là vẫn ở trong phạm vi dấu hiệu mà chưa đạt tới ư nghĩa của mầu nhiệm sống lại.

Muốn cho tiến tŕnh này được dễ dàng, trong các hoạt động, phải dùng những kiểu so sánh tương phản, những h́nh ảnh đối nghịch, những tâm tưởng và thái độ của trần gian với tâm t́nh, ư tưởng của Chúa Giê-su cho thấy rơ sự đối chọi giữa đôi bên để cuối cùng nhận định đâu là ư nghĩa và chủ trương của Phúc Âm. Cũng có thể dùng một sự kiện thuộc phạm vi tự nhiên, như một ngày lễ ở đời, một t́nh bạn, một cuộc gặp gỡ, một trường hợp riêng tư, rồi so sánh phân tích để dần dần đưa tới ư nghĩa siêu nhiên. Bây giờ người ta ưa dùng lối này như dùng đề tài một cuốn phim, một chuyện tiểu thuyết, một bài ca để đem vào ư nghĩa tôn giáo.

3. Những hoạt động đi từ mầu nhiệm tới sự kiện

Nghĩa là ta kể như mầu nhiệm có đó, được công nhận, rồi từ mầu nhiệm này, ta rút ra những kết luận áp dụng cho trường hợp này, trường hợp kia. Đó là phương pháp diễn xuất đối với phương pháp quy nạp. Hoạt động để khám phá ra những sai lầm trong những ư tưởng hay lập luận hoặc tŕnh thuật ta đưa ra làm thực tập thường cũng là những cách thế đi từ mầu nhiệm đến sự kiện.

Nhờ cách thế này, ta làm cho cử toạ hiểu rơ những công hiệu của mầu nhiệm cứu độ. Tuy vậy, vẫn phải dùng phương pháp quy nạp nữa, nghĩa là đi từ những sự kiện lẻ tẻ đến một kết luận, một nguyên tắc chung, v́ thường giữa mầu nhiệm và sự kiện, luôn luôn có sự qua lại.

4. Những hoạt động đi từ sự kiện này đến sự kiện khác

Những hoạt động này giúp ta thiết lập được sự liên tục và đồng hiện hữu của các sự kiện như các sự kiện chính yếu trong đời ông Áp-ra-ham và đời Chúa Giê-su ; thu thập các hoạt động truyền giáo trong lịch sử Giáo Hội với những hoạt động khác, t́m ra những điểm tương đồng trong CỰU và TÂN ƯỚC.

Đă hẳn, những hoạt động này chỉ sửa soạn giúp ta đi tới mầu nhiệm hay một góc cạnh nào phong phú hơn của mầu nhiệm, và thường khi đề ra hoạt động đă thấy rơ mục đích nào rồi.

Nhưng khi trí khôn các em càng nảy nở và biết suy luận th́ các hoạt động để t́m hiểu đức tin lại càng đ̣i phải phân tích và tổng hợp nhiều sự kiện có liên lạc với nhau. Như vậy, dễ có thể quả quyết Chúa là Đấng Hoá Công, không phải sau khi chỉ nh́n qua vũ trụ mà chính là sau khi đă nh́n hết mọi vật Chúa đă dựng nên theo bài tŕnh thuật trong sách Sáng Thế và nhận rằng Chúa Giê-su từ Chúa Cha mà đến không phải sau khi đă nghiên cứu một phép lạ mà nhiều phép lạ khác nhau và toàn bộ đời sống của Nười. Qua các dấu hiệu và lễ nghi phụng vụ trong phép rửa tội, ta sẽ hiểu được ư nghĩa của phép đó. Ta cũng nh́n thấy tính duy nhất của phép Thánh Thể qua các lễ nghi trong thánh lễ và các lễ quanh năm. Như thế, trí tuệ càng mở mang và có khả năng suy nghĩ rộng th́ lại càng phải đối chiều nhiều sự kiện thuộc lịch sử và địa dư để đi tới một kết luận.

5. Những sự kiện tŕnh bày từng khía cạnh của mầu nhiệm

Sau khi đă biết những sự kiện và ư nghĩa của những sự kiện đó, phải t́m cho thấy liên lạc mật thiết giữa những sự kiện đó với nhau hay giữa những khía cạnh của mầu nhiệm để hiểu rơ hơn. V́ thế có những hoạt động nhằm cho thấy những tương quan chặt chẽ giữa CỰU và TÂN ƯỚC, cái chết, sự sống lại, lên trời của Chúa Giê-su với việc Chúa Thánh Thần hiện xuống và sự thành lập Giáo Hội, cuộc đời Chúa Ki-tô với cuộc đời các thánh, các bí tích, Đức Chúa Thánh Thần và Giáo Hội, Chúa Ki-tô trước và sau khi sống lại, thiên đàng, hoả ngục, v.v… Những hoạt động thuộc loại này đều có ư làm cho hiểu những sự kiện một cách hữu lư và chu đáo. Tuy nhiên, phải tuỳ theo mức độ hiểu biết của cử toạ mà áp dụng.

Bây giờ, nếu hỏi những hoạt động đó là những hoạt động nào ? Thực ra khó nói. Có điều có thể nói chung là tất cả những ǵ động viện sự tài khéo của chân tay hoặc vận dụng những khả năng trí tuệ để làm cho hiểu, đều được coi là hoạt động thuộc loại này như diễn kịch, cắt giấy, vẽ h́nh, biểu diễn, v.v… Ăn thua là giáo lư viên biết t́m ra những hoạt động đó và chỉ cách cho học sinh làm. Nếu tự ḿnh không t́m ra được, nên bàn hỏi, hiệp lực với các giáo lư viên khác. Tuy vậy, không phải bó buộc lúc nào cũng phải làm cho đủ năm loại hoạt động này, mà có thể lựa chọn những loại hoạt động nào thích hợp với khả năng của ḿnh và của các em học sinh.

TIẾT III: CÁC ĐỊNH LUẬT PHẢI THEO
KHI LÀM CÁC HOẠT ĐỘNG

1. Trung thành với sứ điệp của Chúa

Khi làm các hoạt động trong lớp giáo lư, điều trước tiên phải lưu ư là làm sao cho những hoạt động ấy diễn tả sứ điệp của Chúa một cách trung thực, nghĩa là đúng theo tinh thần sứ điệp, khơi gợi đức tin chứ không phải chỉ là những hoạt động thông thường như vẽ, hát, chơi để giải trí. Làm thế nào cho trong suốt thời gian thực tập, Lời Chúa luôn được nhắc nhở một cách khéo léo để thấm nhuần tâm hồn các em học sinh. Điều này có nghĩa là phải chọn các loại hoạt động có tính tôn giáo và gần gũi với sứ điệp.

Có nhiều loại hoạt động và mỗi hoạt động nhằm những quan năng khác nhau, thí dụ có loại, nhằm nhắc lại những điều đă học cho nhớ, có loại dùng đến khả năng suy nghĩ để hiểu, có loại nhằm khơi gợi ḷng tin và khuyến khích cầu nguyện, v.v…

Nhưng loại nào cũng phải nhằm giáo dục đức tin và dành ưu tiên cho những hoạt động nào hướng về mục đích đó.

2. Trung thành với hoạt động của trí tuệ con người, nghĩa là :

a. Tôn trọng cách thức hiểu biết của các học sinh đi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến siêu h́nh, từ sự kiện tới ư nghĩa.

b. Để cho các em được tự do và sáng kiến làm một hoạt động thực sự. Giáo lư viên ở cạnh để hướng dẫn cho các em khỏi ngập ngừng và lẫn lộn, đồng thời chỉ bảo cung cấp cho các em những phương tiện cần thiết để làm.

c. Thích hợp với khả năng hiểu biết, mức tuổi cũng như môi trường sinh hoạt của chúng.

d. Thay đổi hoạt động cho đỡ mệt mỏi và nhàm chán. Nếu trong bài nói chuyện, các em đă phải suy nghĩ, lắng nghe, th́ trong giờ sinh hoạt nên chú ư đến phần thể xác của các em từ trước đến giờ đă bị bất động mà cho chúng chạy nhảy múa hát, v.v…

đ. Hướng những hoạt động đó về những kiểu cách sinh hoạt đạo đức.

e. Nhằm đưa về một điểm cốt yếu, chứ đừng để cho tâm trí các em bị phân tán đi nhiều ngả quá mà không tập trung được vào điểm chính.

CHƯƠNG VII :
THỦ BẢN GIÁO LƯ

Ư kiến về Thủ bản giáo lư của những người tán đồng và chống đối rất khác nhau. Người tán đồng th́ cho là cần thiết, hữu ích, giúp cho giáo lư viên đỡ mất thời giờ và công phu t́m ṭi soạn thảo. Người chống đối th́ cho là thụ động, lười biếng, hời hợt, v́ thủ bản chỉ là một cách thế giản tiện thù hẹp những đề tài giáo lư cho dễ học, dễ dạy mà không sâu sắc linh động, v́ thiếu phần đóng góp và kinh nghiệm sống của giáo lư viên.

Trước những ư kiến và dư luận trái ngược như vậy, biết theo bên nào, bên nào phải, bên nào trái ?

Thực ra, khó mà nói cho dứt khoát nên theo bên nào, và bên nào phải bên nào trái, v́ bên nào cũng có những lợi điểm và nhược điểm. Riêng trong hoàn cảnh Việt Nam, v́ thói quen và điều kiện eo hẹp về nhân sự, phương tiện, tài liệu, sách vở, xem ra phần đông thiên về việc lựa chọn dùng thủ bản hơn là để cho giáo lư viên tự ḿnh soạn lấy bài giáo lư. Dù vậy, tưởng cũng nên bàn tới vấn đề thủ bản giáo lư để đi tới một giải pháp dung hoà cho hợp với t́nh cảnh của giáo lư viên ở nước ta, đồng thời đem lại ích lợi tối đa cho những người thụ huấn.

Vậy trong chương ngày, tôi sẽ lần lượt bàn tới bốn điểm dưới đây

TIẾT I: NHẬN XÉT VÀ PHÊ B̀NH VỀ THỦ BẢN GIÁO LƯ

Như đă nói, ư kiến về thủ bản giáo lư khác nhau. Mỗi người một ư tuỳ theo tán đồng hay chống đối. Dù tán đồng hay chống đối, chung quy, tôi thấy có những nhận xét và phê b́nh như sau :

1. Lư tưởng

Lư tưởng ở đây hàm ư là ảo tưởng và viển vông, nghĩa là một thủ bản giáo lư tốt là điều không thể có và nguy hiểm nữa. Không thể có v́ không thể nào đầy đủ và xứng hợp hoàn toàn, dù cho một loại tuổi hay một loại người. Nguy hiểm v́ thủ bản th́ thường phải vắn tắt và chặt chẽ, v́ thế trở thành một bản tóm khô khan. Nếu bàn cụ thể và khai triển rộng th́ giáo lư viên chẳng c̣n ǵ độc đáo để nói nữa.

Ngoài ra, trong một thủ bản không thể làm nổi bật tầm quan trọng của chương này hay đoạn kia. Rồi thủ bản cũng mau lỗi thời lắm, hoặc v́ những sự kiện hay ư tưởng tŕnh bày thủ bản không c̣n hợp với lúc giáo lư viên tŕnh bày nữa, hay có những phương pháp và những khám phá mới mẻ không thấy nói đến trong thủ bản, hoặc nội dung thủ bản không c̣n hợp với tâm địa của giáo lư viên và những người thụ huấn nữa.

2. Lệ thuộc

Lư do thứ hai những người chống đối đưa ra là tính cách lệ thuộc của giáo lư viên đối với thủ bản. Dùng thủ bản có khác chi là lập lại lời của tác giả, th́ ra giáo lư viên chỉ là người cắt nghĩa thủ bản và dồn người thụ huấn vào chỗ chỉ c̣n có biết thủ bản, học theo thủ bản (nhất là khi làm bài thi lại căn cứ vào thủ bản). Đàng khác, nhiều khi v́ quá lệ thuộc vào thủ bản mà giáo lư viên cũng như người thụ huấn như xa rời thực tế, v́ thủ bản đâu có nói hết được những ǵ cụ thể, thành ra thủ bản trở thành một thứ b́nh phong ngăn chặn giáo lư viên và người thụ huấn với các thực tại bao quanh.

3. Phế bỏ thủ bản

Từ đó, những người chống đối dùng thủ bản đề nghị phế bỏ thủ bản đi. Nhưng cũng phải coi chừng. Dù thủ bản không hoàn toàn hay có những điểm lất lợi, tưởng chưa nên khẳng định ngay như thế mà c̣n phải phân biệt, v́ nếu chỉ dùng một thủ bản duy nhất và chỉ theo hoàn toàn như trong thủ bản th́ khác, nhưng nếu dùng nhiều thủ bản và không nhất thiết theo ư như thế th́ khác. Vả lại, vấn đề c̣n tuỳ thuộc ở người sử dụng thủ bản. Nếu là một giáo lư viên tốt, biết thích nghi và chọn lựa cho ḿnh những ǵ thích hợp để giảng dạy th́ không ǵ ngăn cản việc sử dụng thủ bản. Ngược lại, nếu là một giáo lư viên xoàng và thụ động, bấy giờ, thủ bản có tất cả những bất lợi như vừa nói. Thành ra, điều quan trọng hơn là giáo lư viên chứ không phải thủ bản. Một thủ bản tốt cách mấy đi nữa mà không có người biết khai thác, sử dụng vẫn không đem lại những kết quả mong muốn. Ngược lại, một thủ bản tầm thường nếu vào tay một giáo lư viên giỏi th́ thủ bản ấy cũng có thể trở thành thích ứng và hữu hiệu. Cho nên, giáo lư viên giỏi c̣n cần hơn thủ bản giáo lư tốt.

Như vậy, có phải nói rằng giáo lư viên giỏi không cần thủ bản giáo lư không ? Điều này đúng, v́ giáo lư viên giỏi tự ḿnh có thể soạn bài. Nhiều khi nếu lệ thuộc vào thủ bản, họ lại c̣n cảm thấy ḿnh bị vướng vít nữa. Nhưng t́m đâu cho đủ giáo lư viên giỏi để có thể không cần đến thủ bản giáo lư nữa và tự ḿnh soạn lấy những bài giáo lư. Bởi vậy, tốt hơn là cố soạn những cuốn giáo lư hay để giúp cho những giáo lư viên thông thường có tài liệu khả đáng để dạy giáo lư.

TIẾT II: ĐỊA VỊ CỦA THỦ BẢN GIÁO LƯ
TRONG VIỆC HUẤN GIÁO

Ở trên đă nói về sự nên chăng và cần thiết của thủ bản giáo lư. Bây giờ thử đề cập đến địa vị của thủ bản giáo lư trong việc huấn giáo. Có thể nói ngay thủ bản giáo lư cũng như là một dụng cụ trong tay giáo lư viên và học sinh. Muốn làm một cái ǵ th́ cũng phải có dụng cụ thích hợp để làm công việc đó. Dụng cụ tốt trong tay thợ khéo có thể thành ra một cái ǵ tốt đẹp. Địa vị của một dụng cụ là tuỳ ở công dụng của nó. Vậy ta thử xét xem công dụng của một thủ bản giáo lư và thế nào ?

1. Cung cấp chất liệu

Công dụng của thủ bản giáo lư là cung cấp chất liệu đức tin gồm Lời Chúa và những mầu nhiệm trong đạo. Các người thụ huấn chưa biết hay c̣n biết ít về vấn đề này, nên công việc của giáo lư viên là truyền thông cho họ những kiến thức về các vấn đề đó. Có khi họ đă biết một phần rồi. Nếu vậy, nhiệm vụ của giáo lư viên là nhắc lại, đào sâu và cung cấp thêm phần họ chưa biết. Để làm công việc này, một phần giáo lư viên giảng dạy, một phần cung cấp hay giới thiệu cho họ thủ bản giáo lư làm căn cứ. Trong trường hợp này, thủ bản là một phương thế mở rộng kinh nghiệm kiến thức, về Chúa, về đạo.

2. Diễn nghĩa mầu nhiệm và chân lư đức tin

Thủ bản diễn nghĩa mầu nhiệm và chân lư đức tin. Tất nhiên lời diễn nghĩa đầu tiên là của giáo lư viên. Nhưng bên cạnh lời diễn nghĩa sống động của giáo lư viên, c̣n có cả bản văn trong thủ bản giáo lư nữa. Người thụ huấn và cả người giáo huấn nữa đều có thể nh́n xem bản văn đó mà nghiền gẫm. Ngoài ra khi kết thúc một bài giáo lư, giáo lư viên thường nói tóm tắt lại trong mấy câu. Nếu chỉ nói không, e rằng lời đó sẽ qua đi nhanh chóng. Nếu ghi lại rơ ràng vắn tắt trên giấy, hiệu quả có thể lâu bền hơn. Và đó chính là công dụng của thủ bản giáo lư ; nghĩa là thường sau một bài đều có một bản tóm tắt dễ học dễ nhớ.

Bên cạnh bản tóm tắt này, cũng có thể kê khai một số hoạt động nên làm để nội tâm hoá những điều mới giải nghĩa. Những hoạt động đó phải liên lạc chặt chẽ với bài giáo lư. Điều này giúp cho giáo lư viên có sẵn một số những hoạt động thích hợp.

Sau cùng, c̣n có thể đặt ra những câu hỏi ở cuối bài trong thủ bản để giúp người thụ huấn dễ học và cũng dễ thuộc những điều đă giải nghĩa trong bài giáo lư.

3. Phản ảnh và ghi nhận sức lănh hội của người thụ huấn

Mỗi thủ bản giáo lư đều chứa đựng những điều cần thiết cho mỗi loại người mỗi loại tuổi. Giá trị của bài giáo lư cũng tuỳ thuộc một phần ở nội dung của thủ bản giáo lư. Nhưng người ta vẫn có thể hỏi : liệu thủ bản đó có thích hợp với nhu cầu của người thụ huấn không ? Hay là người thụ huấn phải tự liệu cho ḿnh có một thủ bản riêng thích hợp với nhu cầu của ḿnh ? Và như vậy, phải đặt luôn vấn đề một thủ bản do chính người thụ huấn làm lấy. Điều này có nghĩa là mỗi người thụ huấn phải có một tập vỡ ghi chép những điều ḿnh lănh hội được trong bài giáo lư, những phản ứng của ḿnh đối với những điều được nghe giải nghĩa. Đó là một cách thế làm việc tự lập. Tuỳ theo tuổi người thụ huấn có thể mỗi ngày thu thập thêm các tài liệu, các bản văn, các suy nghĩ, nhận xét, t́m ṭi, và tập vở đó sau này có thể trở thành một thủ bản quan trọng hơn chính thủ bản nhà trường phát cho hay ḿnh mua lấy, v́ ḿnh đă phải khổ công t́m ṭi, suy nghĩ riêng.

4. Phần đóng góp của các sách báo khác, ngoài thủ bản

Thủ bản có ích và cần thiết. Điều này không ai chối căi với điều kiện không nên coi đó như tài liệu duy nhất và đầy đủ v́ dù sao thủ bản vẫn không thể nói hết và cung cấp cho giáo lư viên tất cả những ǵ cần thiết cho việc dạy giáo lư. V́ thế, ngoài thủ bản ra c̣n phải sử dụng và nghiên cứu nhiều tài liệu khác nữa như Phúc Âm, Kinh Thánh, sách lễ, các thủ bản giáo lư khác nhau, sách báo, tài liệu về giáo lư, v.v… đành rằng như đă nói, chúng ta c̣n thiếu nhiều về vấn đề này.

Không kể những thứ này, c̣n phải nghĩ đến những tranh ảnh báo chí do chính các học sinh thu thập được do lời khuyến khích và chỉ dẫn của giáo lư viên, thí dụ những tranh ảnh và bài báo có liên lạc xa gần với các đề tài giáo lư các chúng cắt nhặt được trong các sách báo chúng đọc. Tất nhiên phải hướng dẫn và nói cho chúng hiểu nên cắt nhặt những tài liệu và tranh ảnh nào. Đây là công việc tương đối hơi tỉ mỉ, cần chịu khó, cẩn thận và nhẫn nại. Chắc hẳn những học sinh lười biếng, cẩu thả, vô tổ chức và vô trật tự sẽ không làm công việc này. Đàng khác, nếu có làm th́ tài liệu sách báo nói về đạo ở nước ta cũng lại ít, khiến cho việc sưu tầm trở nên khó khăn và nhạt nhẽo. Nhưng vẫn phải gợi ư và khuyến khích để chuẩn bị dần dần.

TIẾT III: PHẨM CHẤT CỦA MỘT THỦ BẢN GIÁO LƯ

Phẩm chất của một thủ bản giáo lư là tuỳ thuộc vào phẩm chất của bài giáo lư ta phải giảng dạy. Mà phẩm chất của một bài giáo lư, hay nói rộng ra của công việc giáo huấn là tuỳ như nó có phản ảnh trung thực Lời Chúa và trung thực với con người hay không. Cho nên, phẩm chất của một thủ bản giáo lư cũng phải dựa vào tiêu chuẩn : trung thực, trung thực với Chúa và với người.

1. Trung thực với Lời Chúa

Tiêu chuẩn trung thực này đ̣i hỏi một số nhứng điều kiện :

a. Tính siêu nhiên của Lời Chúa

Trước hết, một thủ bản phải cho người ta thấy tính siêu nhiên của Lời Chúa. Lời Chúa không giống như lời người trần gian, đành rằng Chúa nói với ta qua ngôn ngữ của loài người. Cho nên cũng phải tŕnh bày và hiểu Lời của Chúa theo phương diện siêu nhiên. Chắc hẳn có người sẽ cho rằng siêu nhiên th́ xa rời thực tế và không ăn nhằm ǵ với những hoàn cảnh sống thiết thực của người thời đại ta. Đó thật là một thử thách và căn cớ gây nên vấp phạm. Nhưng vẫn phải duy tŕ tính siêu nhiên của Lời này, v́ rất nhiều khi ta bị cám dỗ sắp đặt lại Lời Chúa cho hợp với đường lối và chủ trương của người trần gian, theo những mục tiêu trần tục và vật chất. Chính v́ vậy, người ta vẫn thường trách đạo, trách Giáo Hội là mơ hồ và không tưởng v́ chỉ bận tâm nói đến và giải quyết những vấn đề siêu nhiên. Mà siêu nhiên th́ có ai thấy đâu ! Dù vậy, vẫn phải cho thấy Lời Chúa là lời hiếu sinh, ban ơn cứu độ, mở đường giải phóng cho con người khỏi ṿng cương toả của tội lỗi và nết xấu. Điều trước tiên Lời Chúa mang đến cho con người là nguồn ơn cứu độ về đường thiêng liêng, rồi từ chỗ đó mới đi đến giải phóng về vật chất hay cũng có thể từ giải phóng vật chất đi đến giải phóng tinh thần, nhưng tựu trung, siêu nhiên hiểu như cái ǵ bền vững, không cùng, mới là đối tượng chính của Lời Chúa.

Nếu ai nói rằng Lời Chúa chỉ nói đến siêu nhiên mà không đề cập đến thực tế, xin mời đọc lại sách các ngôn sứ, những đoạn nói về bất công, bóc lột, đặc biệt hai ngôn sứ A-mốt và Hô-sê. Hai vị này đă thẳng tay vạch mặt những kẻ phạm tội bất công, tàn nhẫn với dân mà truyền thông Lời Chúa cho họ.

V́ tính cách siêu nhiên này mà Lời Chúa trở thành đ̣i hỏi phải hoàn toàn xác tín mà không cần phải thấu cảm thấy ǵ cả, đ̣i hỏi phải hy sinh cái tức thời cho cái vĩnh cửu, vật chất cho tinh thần và bằng ḷng chịu tiếng là khờ dại trước mặt người trần gian để nên khôn ngoan trước mặt Chúa. Nhưng hỏi mấy ai dám chấp nhận và tŕnh bày như thế ?

b. Ưu vị Lời Chúa và đời sống Giáo Hội

Nhiều khi v́ muốn “ăn khách” và thoả măn thị hiếu của độc giả, người làm sách giáo lư hay bị cám dỗ nói hoặc viết những điều ǵ hấp dẫn ở đâu thay v́ dành ưu vị cho Lời Chúa và đời sống Giáo Hội, nghĩa là tập trung nỗ lực chính vào việc tŕnh bày Lời Chúa và những sự kiện thuộc đời sống Giáo Hội, phụng vụ hay những suy nghĩ thần học, v.v… Điều này cũng gặp khó khăn giống như khi phải tŕnh bày và duy tŕ tính siêu nhiên của Lời Chúa, v́ tự nhiên, người ta thấy Lời Chúa cao siêu th́ có, nhưng không đem lại những lợi lộc vật chất và những giải quyết tức thời cho những vấn đề họ đang phải đối phó. Dù vậy, vẫn phải tŕnh bày Chúa Ki-tô và Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa như trung tâm và cùng đích của giáo huấn. Các phần đoạn khác đều phải dựa vào đó mà soạn thảo cho cân đối.

c. Tŕnh bày Phúc Âm như Tin Mừng

Thủ bản phải liệu tŕnh bày thế nào cho người ta thấy Phúc Âm là Tin Mừng loan báo ơn cứu độ, do đấy, phải có tính năng động và lôi cuốn. Nói đến Phúc Âm là nói đến một sức mạnh giải thoát, một niềm vui cho người sầu khổ, một mối hy vọng cho người đang đứng bên bờ tuyệt vọng, một sự phấn khởi cho người đang nao núng.

d. Nhấn mạnh vào những điểm cốt yếu

Trong mỗi phân đoạn đều phải nhấn mạnh đến những điểm cốt yếu như tŕnh bày về các điều răn th́ cố làm nổi bật đức ái, dạy về các bí tích th́ chú ư đặc biệt đến đức tin, v.v…

đ. Tŕnh bày một cách tích cực

Điều này có nghĩa là tạo cho độc giả một lối nh́n, một cách cảm nghĩ lạc quan, tin tưởng, như cho thấy ơn sủng mạnh hơn tội lỗi, mầu nhiệm Phục Sinh c̣n căn bản hơn mầu nhiệm Thánh giá. Ngoài ra là tạo cho người ta một thái độ cởi mở, đón nhận, không hẹp ḥi, tự tin thoả măn hay hiếu chiến, đồng thời cổ vơ tinh thần đại lượng dấn thân và đ̣i hỏi, trách nhiệm đối với tha nhân và chính ḿnh.

2. Trung thành với độc giả

Muốn vậy, thủ bản phải có tính cách quy nạp :

a. Trong mỗi chương

1/ Cho thấy các sự kiện các kinh nghiệm.

Trước hết trong mỗi chương, phải cho thấy các sự kiện, các kinh nghiệm về đạo mà bài nói chuyện sắp đề cập đến, hoặc các dấu hiệu cần phải làm cho sáng tỏ. Đó là những biến cố và lời Kinh Thánh, các hành vi phụng vụ và các sự kiện trong sinh hoạt Ki-tô giáo.

Trước khi tŕnh bày các sự kiện về Chúa, có thể tŕnh bày các sự việc thuộc con người là biểu hiệu những sự việc về Chúa mà ta phải t́m hiểu. Nếu những danh từ và kiểu nói dùng để cắt nghĩa trong bài, lại được dùng trong bản tóm hay trong các câu thưa hỏi th́ thật tốt, v́ như thế giúp cho dễ thuộc và dễ hiểu bản tóm.

2/ Khởi điểm từ các sự kiện rồi lồng ư nghĩa đức tin vào đó

Điều này hơi khó v́ không phải có thể lồng ư nghĩa đức tin vào bất cứ sự kiện nào, nên phải biết lựa chọn các sự kiện như đă nói và phải dùng phương pháp sư phạm đi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến siêu h́nh, hay từ các câu cắt nghĩa khác nhau đến một định nghĩa tổng quát bao hàm đức tin.

b. Trong toàn cuốn sách

Về điểm này có thể nói từ riêng đến chung như muốn nói về thiên đang, hoả ngục th́ nói đến cuộc chiến đấu thiêng liêng của mỗi người, về sự gay go ác liệt của cuộc chiến đấu đó, hay muốn cho người ta hiểu về Chúa Giê-su th́ nói đến sứ điệp, phép lạ, thái độ và liên lạc của Người đối với Chúa Cha cũng như nói về Chúa Ki-tô, Chúa Thánh Thần, trước khi nói về Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhưng vấn đề không phải đơn giản như vậy, v́ điều này c̣n tuỳ thuộc ở cách thế lănh hội của trẻ con do tuổi và môi trường sinh hoạt của chúng cũng như khả năng quy nạp của chúng nữa.

V́ vậy, việc xếp đặt các chương trong thủ bản giáo lư phải dựa vào cách thế và sức hiểu biết của trẻ em. Nhưng thường các tác giả vẫn theo thứ tự trong kinh Tin Kính, chu kỳ phụng vụ hoặc lịch sử ơn cứu độ.

TIẾT IV: CÁCH THẾ DÙNG THỦ BẢN

1. Chủ động

Trước hết phải chủ động, không quá lệ thuộc vào thủ bản nghĩa là trước khi dùng nên xem lại, và nếu cần xếp đặt lại. Có những thủ bản vắn tắt, tác giả chỉ đề ra một dàn bài với những ư tưởng chính và những tài liệu có thể tham khảo. Có thủ bản, tác giả viết đầy đủ từ đầu đến cuối. Dù là thủ bản nào, giáo lư viên cũng cần chủ động, không quá lệ thuộc, có thể tự do sắp xếp, thêm bớt theo ư ḿnh, tuỳ hoàn cảnh và nhu cầu của ḿnh cũng như các học sinh.

2. Phải dùng thủ bản, nếu học sinh có thủ bản đó

Thủ bản có là để dùng. Vậy, nếu học sinh có thủ bản, giáo lư viên phải dùng những h́nh ảnh, lời giải thích đó ngay khi dạy giáo lư. Không ǵ nản hơn cho học sinh khi thấy có thủ bản mà giáo lư viên không dùng hay chẳng mấy khi dùng tới, nhất là thủ bản đó có ghi những đoạn trích dẫn Lời Chúa, những lời nguyện, những thánh vịnh hay những bản kinh.

Mà không phải chỉ giáo lư viên mới dùng thủ bản, cả học sinh nữa. Thường bản dành cho học sinh đơn sơ vắn tắt hơn. Giáo lư viên phải giúp học sinh biết dùng thủ bản đó, khuyến khích chúng đọc lại những lời giải nghĩa, trả lời những câu hỏi và làm những bài thực tập đề ra trong đó.

Không ai cấm giáo lư viên chỉ dùng thủ bản như một điểm tựa. V́ thế, giáo lư viên có thể chỉ dùng một phần nào đó trong thủ bản, nói rộng thêm những bài giải nghĩa trong đó, hay ban đầu nói buông không dựa vào sách, cuối cùng mới dùng đến sách.

CHƯƠNG VIII :
TIÊU CHUẨN THẨM ĐỊNH.
KẾT QUẢ CỦA VIỆC HUẤN GIÁO

Muốn biết kết quả của việc huấn giáo, phải dựa vào tiêu chuẩn nào để thẩm định ? Thực ra, sau khi dạy giáo lư, ai cũng muốn đo lường kết quả công việc giảng dạy của ḿnh. Đó là điều hợp lư, nhưng khó, v́ kết quả nhiều khi đến sau một cách chậm chạp và không có phân khối trọng lượng để giúp ta dễ đo lường. Dù vậy, ta cũng có thể tạm dựa vào tiêu chuẩn hữu hiệu và tiêu chuẩn thực nghiệm để biết kết quả một phần nào.

TIẾT I: TIỂU CHUẨN HỮU HIỆU

Ở đây xét hữu hiệu dựa theo những sự hiểu biết về đạo, tâm t́nh mến yêu Chúa và tha nhân, cũng như những thái độ đạo đức ở bên ngoài của học sinh, sau khi đă nghe giảng dạy giáo lư. Cái ǵ làm căn cứ cho ta xét đoán ? Thưa là những dấu hiệu bên ngoài biểu lộ đức tin bên trong như khi ta thấy các học sinh biết tha thứ, mộ mến sự cầu nguyện, kiên tŕ trong khi bị thử thách, b́nh thản, vui tươi trước cái chết hay khi gặp tai ương, hoạn nạn hoặc cơn túng quẫn, v.v… Đă hẳn, những dấu hiệu này không hoàn toàn biểu lộ đức tin đích thực của các học sinh và khi nào có dấu hiệu đó là chắc chắn như vậy, nhưng ít ra chúng cũng cho thấy ảnh hưởng của các bài giáo lư trong đời sống của học sinh một cách tương đối.

Ngoài ra, lại c̣n những bài thi khảo, những lối trắc nghiệm, những cuộc trao đổi nói chuyền về đạo với các học sinh, hay những cuộc tiếp xúc khác, nhờ đó ta biết được học sinh thuộc, nhớ, hiểu và sống tinh thần những bài giáo lư đến đâu.

TIẾT II: TIÊU CHUẨN THỰC NGHIỆM

1. Thích học giáo lư

Nếu sau một thời gian, ta thấy cả trẻ con lẫn người lớn đều ham thích học giáo lư, hay nói và nhắc lại những điều đă được nghe giảng dạy, dù không ai bắt buộc, th́ đó cũng là một dấu hiệu cho biết kết quả của việc huấn giáo. Nếu chẳng những ham thích mà c̣n tiếp tục học hỏi thêm nữa th́ lại càng là dấu tốt chứng tỏ những bài giáo lư của ta đă đáp ứng được nhu cầu học biết về Chúa nơi họ.

2. Ham thích cầu nguyện

Như đă nói, cầu nguyện thường là kết quả của việc nghe dạy Lời Chúa. Nếu học sinh chăm chú cầu nguyện một cách tự phát trong những buổi sinh hoạt hay thực tập giáo lư th́ đó cũng là một dấu hiệu khá hiển nhiên về kết quả của việc giảng dạy giáo lư. Nếu về nhà và trong đời sống hằng ngày, ta thấy trẻ em thêm tinh thần cầu nguyện th́ không c̣n hồ nghi ǵ nữa mà có thể nói ngay đó là kết quả của lớp giáo lư.

3. Siêng năng giữ đạo

Giữ đạo ở đây hiểu theo nghĩa thông thường là chịu khó làm các việc thiêng liêng đạo đức, biết động ḷng ăn năn hối cải, thực hành đức bác ái và năng chịu các phép bí tích.

Đó là những dấu hiệu phấn khởi đáng mừng. Nhưng đừng quá dựa vào và t́m kiếm những dấu hiệu đó. Nếu không thấy chúng xuất hiện th́ cũng đừng vội vàng nản ḷng, nhất là sau khi đă cố gắng hết ḿnh, v́ c̣n tác động nhiệm mầu của ơn Chúa nữa mà ta chưa thể ḍ thấu. Vả lại, nếu chỉ dựa vào những dấu hiệu bên ngoài và coi đó như thước đo kết quả th́ nhiều khi ta dễ nản ḷng thất vọng lắm, nhất là khi không thấy một dấu hiệu nào bên ngoài chứng tỏ kết quả công lao khó nhọc giảng dạy của ta.

KẾT LUẬN

Giáo tŕnh “tổ chức và giảng dạy một lớp giáo lư” đến đây là hết. Thời gian 30 giờ dành cho giáo tŕnh này không cho phép nói nhiều và kỹ hơn nữa về những vấn đề khác liên hệ đến giáo lư. Tuy vậy, nếu nh́n vấn đề một cách giới hạn do chính giới hạn của thời giờ, tôi nghĩ rằng chúng ta đă tạm có đủ một vài yếu tố cần thiết để tổ chức và giảng dạy một lớp giáo lư, đi từ những chuẩn bị vật chất đến tinh thần, về trường sở, số người tham dự, khả năng chuyên môn, phương pháp diễn đạt, cách thế sinh hoạt và thực tập giáo lư, cũng như mục tiêu muốn đạt tới là dẫn đưa các người thụ huấn đến chỗ thấm nhuần Lời Chúa, để Lời Người soi sáng và hướng dẫn lương tâm họ, đồng thời thúc đẩy họ cầu nguyện tự phát và điều chỉnh đời ḿnh theo khuôn mẫu Lời ấy.

Nhưng đây mới chỉ là lư thuyết, c̣n phần thực hành thế nào là do những người sử dụng tập giáo tŕnh này, khi đem áp dụng vào thực tế. Kinh nghiệm bản thân và những hoàn cảnh sinh hoạt cụ thể sẽ là phần đóng góp đáng quư cho giáo tŕnh này và bổ túc cho những ǵ c̣n thiếu sót trong đó.