SƯ PHẠM

GIÁO LƯ

 

 

(LƯỢC TÓM)

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU NỘI BỘ

 

Dành tặng

Quư Tập Sinh khóa 1995-1998

 

 

 

 ‘ ... Miễn là Đức Kytô được rao giảng ... ’.(Pl 1.18)
Mục Lục

V

 

 

 

Chương mở đầu :

NHỮNG Đ̉I HỎI QUAN YẾU NƠI GIÁO LƯ VIÊN

 

 

Chương một :

TIẾN TR̀NH CĂN BẢN CỦA MỘT BÀI GIÁO LƯ

 

 

Chương hai :

VÀI H̀NH THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG BÀI GIÁO LƯ

 

 

Chương ba :

TRƯỚC VÀ SAU MỘT BÀI GIÁO LƯ

 

 

Chương bốn :

GIÁO LƯ DỰ T̉NG

 

 

Chương năm :

TÂM LƯ CHUNG CỦA CÁC HỌC VIÊN GIÁO LƯ

 

 

Chương phụ lục :

CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY GIÁO LƯ

 

 


 

Chương mở đầu

 

NHỮNG Đ̉I HỎI QUAN YẾU NƠI GIÁO LƯ VIÊN 

 

? ¤ ?

Muốn hướng dẫn Giáo Lư có hiệu quả, hoặc chí ít là để tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc, cần phải đạt được những điều kiện; trong số đó có những điều kiện thiết yếu sau đây mà một Giáo Lư Viên không thể không có :

                        - Đời sống thiêng liêng.

                        - Nhiệt thành tông đồ.

                        - Kiến thức tôn giáo.

                        - Khả năng sư phạm.

 

I. MỘT ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG SÂU SẮC

1- ‘Không thể cho người khác cái mà ḿnh không có’. Giáo Lư viên không thể thông truyền đức tin cho người khác được nếu chính bản thân Giáo Lư viên đó không có đức tin hoặc có một đức tin quá yếu kém và què quặt.  Chỉ có những ai có một đức tin sống động mới có thể chu toàn sứ mạng của ḿnh được trong nhiệm vụ thông truyền và giáo dục đức tin  cũng như làm tăng trưởng đức tin nơi người khác.

2- Chỉ những Giáo Lư Viên nào có một cảm nghiệm đích thân về Thiên Chúa mới có thể dẫn đưa người khác đến với Thiên Chúa được.  Lời giảng dạy của Giáo Lư Viên đă quan trọng, nhưng lối sống của Giáo Lư Viên c̣n quan trọng hơn rất nhiều.  Trước khi là thầy dạy, Giáo Lư Viên  phải là một chứng nhân.  Các học viên Giáo Lư sẽ không bao giờ chấp nhận một Giáo Lư Viên  ‘nói th́ hay mà cày th́ dở’.  Phải ‘sống với Chúa’ để minh chứng cho việc ‘nói về Chúa’.

 

II. MỘT TẤM L̉NG NHIỆT THÀNH TÔNG ĐỒ

1- Một Giáo Lư Viên có một ḷng nhiệt thành tông đồ thật sự sẽ rất đắc lực trong việc mở mang Nước Chúa cũng như đạt hiệu quả tốt trong việc dạy Giáo Lư.  Ngọn lửa nhiệt thành trong tâm hồn càng dâng cao th́ nó ắt sẽ tỏa sáng và lan rộng; tỏa sáng cho mọi người và lan rộng đến mọi người, đồng thời nó cũng tỏa sáng cho chính Giáo Lư Viên trong việc t́m ṭi và sáng tạo làm tăng hiệu năng trong công việc dạy Giáo Lư.

2- Ḷng nhiệt thành và t́nh yêu mến (yêu mến Chúa, yêu mến các linh hồn và yêu mến sứ mạng) sẽ giúp Giáo Lư Viên đào sâu và khơi rộng thêm những hiểu biết về Thiên Chúa cũng như về sứ mạng của chính ḿnh, nhờ đó sẽ gắn bó hơn nữa với sứ mạng được giao phó, dám sống chết với sứ mạng đó.  Ḷng nhiệt thành c̣n giúp Giáo Lư Viên vượt qua một cách dễ dàng những khó khăn bất tiện trong đời sống hàng ngày cũng như trong khi thi hành sứ mạng.

 

III. MỘT NỀN TẢNG GIÁO LƯ VỮNG CHẮC

1- Giáo Lư Viên phải được học hỏi và bồi dưỡng liên tục về nội dung Giáo Lư tức là Nhiệm cục Cứu độ mà Thiên Chúa dành cho con người cùng với ‘Mầu nhiệm trung tâm của trung tâm’. (Mầu nhiệm Phục sinh là trung tâm của cuộc đời Chúa Kytô, mà Chúa Kytô là trung tâm của Lịch sử Cứu độ ; nên Mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kytô được gọi là ‘Mầu nhiệm trung tâm của trung tâm’.)

Nói cách khác, nội dung Giáo Lư là : Lịch sử Cứu Độ mà Chúa Kytô là trung tâm cùng với Mầu nhiệm Phục Sinh của Người, phải  được các Giáo Lư Viên nắm vững và không ngừng được học hỏi thêm.

2- Một Giáo Lư Viên có một kiến thức tôn giáo phong phú sẽ giúp các học viên dễ dàng có một ư niệm về Thiên Chúa đúng đắn hơn, để có thể đến gần, tṛ chuyện và sống thân mật với Chúa hơn.  Ngược lại, một Giáo Lư Viên kém cỏi về mặt này có khi lại làm các học viên nghi ngờ những ǵ được nghe và đôi khi lại nghi ngờ chính Thiên Chúa nữa...

ĐGH Pio XI nói : ‘Ngu dốt về Giáo Lư là một sự nhục nhă cho các nước Kytô giáo Âu châu’. C̣n ĐGH Pio XII th́ nói : ‘Ngu dốt Giáo Lư là một vết thương toang hoác bên cạnh sườn Giáo Hội’.

 

IV. MỘT CỐ GẮNG VỀ SƯ PHẠM VÀ TÂM LƯ

1- Giáo Lư Viên cần phải có một khoa sư phạm để có thể truyền đạt Giáo Lư một cách có hệ thống, có phương pháp nhằm nâng cao tối đa hiệu năng.  Tuy vậy, không phải chỉ cần trải qua một ít thời gian học hỏi về Sư phạm Giáo Lư là đă có thể an tâm trong việc dạy Giáo Lư, mà phải không ngừng học hỏi và vươn lên. Phải tự ḿnh rút tỉa kinh nghiệm đồng thời cũng học hỏi nơi các Giáo Lư Viên khác để có những đổi mới cho phù hợp với thính giả, với môi trường và với những điều kiện khách quan khác trong việc truyền đạt Lời Thiên Chúa.

2- Ngoài ra, Giáo Lư Viên c̣n phải chú trọng đến tâm lư của các học viên của ḿnh, cách suy nghĩ cũng như khả năng  tiếp nhận ... Nhưng trên hết, Giáo Lư Viên  phải có thiện cảm và t́nh yêu thương thật sự dành cho các học viên của ḿnh. Bất cứ công cuộc giáo dục nào muốn thành tựu phải được đặt trên nền tảng của yêu thương, nhất là đối với thanh thiếu niên.  Làm cho các em sợ th́ dễ, nhưng làm cho các em yêu thích th́ rất khó.  Hơn nữa, giáo dục là cảm hóa, mà chỉ t́nh yêu mới có sức mạnh cảm hoá.  Trong công cuộc giáo dục đức tin, điều này càng đúng hơn nữa v́ ‘Thiên Chúa là t́nh yêu’ (1 Jn 4. 8,16) và yêu thương chính là giới luật trọn hảo của Kytô-giáo (x. Jn 13. 35).

            * Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm nói : ‘Các tài liệu của Huấn Quyền đều nhấn mạnh đến việc đào tạo Giáo Lư Viên một cách toàn diện và chuyên biệt’.

(- Toàn diện là bao gôm mọi chiều kích của công việc mà các Giáo Lư Viên.

 - Chuyên biệt là phù hợp với đặc tính của công việc mà các Giáo Lư Viên được mời gọi giúp các mục tử.)

            * ĐGH  Joan Phaolo II cũng minh định : ‘Để bảo đảm cho sứ vụ của Hội Thánh có nhân sự xứng hợp, cốt thiết phải có chương tŕnh đầy đủ và cơ chế thích hợp để đảm nhận việc huấn luyện Giáo Lư Viên về các mặt, từ huấn luyện nhân bản đến huấn luyện thiêng liêng, tín lư, tông đồ và chuyên môn’.

 

 

Chương một

 

TIẾN TR̀NH CĂN BẢN CỦA MỘT BÀI GIÁO LƯ

 

 

  

1

Trong cùng một khoảng thời gian dành cho giờ Giáo Lư (5O-7O phút) nhưng tùy theo số lượng và lứa tuổi của học viên mà chúng ta có những bước đi khác nhau.  Tuy vậy cũng xin đưa ra một tiến tŕnh căn bản, cách chung gồm bảy bước :

                        + Cầu nguyện mở đầu.

                        + Bài giảng.

                        + Nghe Lời Chúa.

                        + Cầu nguyện.

                        + Sinh hoạt.

                        + Chép bài.

                        + Cầu nguyện kết thúc.

* Vài điểm nhỏ cần lưu ư :

- Mỗi bước trong một bài Giáo Lư không nhất thiết phải bằng nhau về thời gian.

- Có thể rút ngắn (hay kéo dài) phần này hay phần kia để cho bài Giáo Lư thêm linh động, phù hợp.  Cũng vậy, có thể rút bỏ phần nào kém quan trọng...

- Như chúng ta đă thấy, phần cầu nguyện được đặt ở trung tâm bài Giáo Lư, rồi mở đầu và kết thúc của bài Giáo Lư cũng là cầu nguyện; như vậy đủ thấy tầm quan trọng của nó, đồng thời cũng thấy sự khác biệt giữa một giờ học Giáo Lư và một lớp học phổ thông.

- Lược đồ bảy bước này rất thích hợp cho các học viên nhỏ tuổi (7-15 tuổi) nhưng có vẻ không phù hợp lắm cho những học viên ở tuổi lớn hơn.

- Lớp học quá đông sẽ rất khó khăn về mặt sư phạm.

1-  Cầu nguyện mở đầu

- Thông thường các Giáo Lư Viên nên đến lớp sớm hơn giờ học một chút để có thời gian đón tiếp, thăm hỏi các em; đồng thời cũng để ổn định pḥng ốc. (Một kinh nghiệm riêng : đừng để các em chơi những tṛ chơi vận dụng quá nhiều thể lực liền trước giờ học Giáo Lư)

- Khi đă ổn định lớp xong mới cầu nguyện mở đầu, chứ không phải cầu nguyện là một cách để ổn định lớp.

- H́nh thức cầu nguyện vắn tắt và thường xuyên thay đổi cho đỡ nhàm chán.

- Mục đích :     

                        + Đặt các em trước mặt Chúa.

                        + Xin Chúa thánh hoá giờ học.

                        + Tạo bầu khí tôn giáo.

- Để đạt được những mục đích đó, trước khi cầu nguyện cần nhắc nhở các em trước về tư cách tác phong, cử chỉ thái độ.  Thông thường trong tư thế đứng nghiêm trang, khoanh tay hoặc chắp tay.

2-  Bài giảng

- Đây chính là phần tŕnh bày nội dung của bài Giáo Lư, nhưng trước khi giảng bài mới, cần có một ít thời gian để kiểm tra sơ lại bài cũ.

- Có 2 cách giảng : độc thoại và đối thoại.

            + Nếu độc thoại th́ nên giảng ngắn v́  sức chú ư của học viên có giới hạn.

            + Nếu đối thoại th́ có thể dài hơn (với cách này nên lưu ư 2 điểm  đừng quá dài để ‘cháy giáo án’ và coi chừng bị lạc đề v́ các câu hỏi của học viên).

- Sự chú ư của các học viên đang lên cao ở khoảng thời gian này, do đó phải khai thác tối đa bằng cách sắp xếp các ư tưởng thật mạch lạc, chọn kiểu nói dễ hiểu và cắt bỏ những ǵ dư thừa và phụ thuộc.

- Bài giảng c̣n được coi như một bài nói chuyện của Giáo Lư Viên, phải làm sao đạt được đồng thời hai mục đích: tŕnh bày đề tài bài học và khêu gợi tâm t́nh tôn giáo phù hợp với đề tài bài học.

- Thường th́ các Giáo Lư Viên hay dùng phương pháp quy nạp : khởi đầu bằng một sự kiện cụ thể hoặc một câu chuyện để rút ra một kết luận, một bài học, rồi áp dụng vào bài Giáo Lư đang tŕnh bày.

3-  Nghe Lời Chúa

- Trong phần bài giảng, các học viên đă được nghe giải thích Lời Chúa, bây giờ được nghe trực tiếp chính Lời của Chúa về đề tài đă tŕnh bày trong bài giảng.

- Chọn vài câu ngắn, nội dung dễ hiểu để đọc cho các học viên nghe.

- Điều quan trọng là tập cho các học viên có thái độ tôn kính tiếp nhận Lời Chúa với ḷng tin, để nhờ đó, Lời Chúa tác động từng bước trong tâm hồn các học viên.

4-  Cầu nguyện

Đây chính là chóp đỉnh của một bài Giáo Lư.  Tâm t́nh tôn giáo được bài giảng đánh thức rồi được tăng cường bằng việc nghe Lời Chúa, giờ đây kết tinh lại thành lời nguyện sống động trong mấy phút đối diện với Thiên Chúa.

5-  Sinh hoạt

- Phần sinh hoạt dài hay ngắn tùy vào số lượng và độ tuổi của học viên: học viên ít và nhỏ tuổi th́ sinh hoạt dễ và dài hơn. 

- Phần sinh hoạt này có hai mục đích :

            + Với các học viên : giúp hiểu sâu hơn bài học đồng thời thích thú với những ǵ đă học được bằng việc chủ động vận dụng tất cả các khả năng và cơ năng (óc thẩm mỹ, trí tưởng tượng, khéo léo chân tay...).

            + Với Giáo Lư Viên : giúp đánh giá dược mức độ hiểu bài của học viên đồng thời kiểm điểm lại cách thức giảng bài của ḿnh.

6-  Chép bài

- Sau khi sinh hoạt nên tóm tắt lại bài học, đúc kết, đề ra phần áp dụng (thực hành) sau đó cho chép vào tập rồi chỉ bài phải học thuộc ḷng ở nhà.

- Lần tới cũng nên hỏi bài lại xem các em đă hiểu bài và thuộc bài tới đâu, nếu cần cũng nên cho điểm để khuyến khích thi đua (thi đua chứ không phải ganh đua).  Nên khảo bài v́ ở tuổi học sinh dù có tự giác tới đâu vẫn cần phải có người thúc đẩy.

7-  Cầu nguyện kết thúc

Cuối cùng là phần cầu nguyện kết thúc có tính cách tạ ơn và dốc ḷng thực hiện những điều đă lănh hội trong lớp Giáo Lư.  Cũng giống như phần cầu nguyện mở đầu, h́nh thức nên thay đổi, đơn giản và vắn tắt.

 

&                                                               

 

I.  CẦU NGUYỆN TRONG BÀI GIÁO LƯ

Như trên ta thấy, trong một bài Giáo Lư có ba lần cầu nguyện.  H́nh thức và nội dung của phần cầu nguyện mở đầu và kết thúc hơi giống nhau nhưng lại khác hẳn so với phần cầu nguyện ở trung tâm bài Giáo Lư (được gọi là phần cầu nguyện đỉnh cao của bài Giáo Lư)

1-  Cầu nguyện mở đầu và kết thúc

Một Giáo Lư Viên giàu kinh nghiệm có thể đánh giá gần đúng tâm lư các học viên, những ǵ các em học hỏi được cũng như kết quả của một bài Giáo Lư bằng cách quan sát cử điệu và tâm t́nh của các em trong lời cầu nghyện mở đầu và kết thúc.

- Mục đích chính của cầu nguyện mở đầu và kết thúc là : xin Chúa thánh hoá giờ học và tạ ơn Chúa về giờ học đă qua.

- H́nh thức nên ngắn gọn và luôn thay đổi để khỏi nhàm chán, trở thành một ‘thủ tục’

Có nhiều h́nh thức : Hát một bài ngắn, đọc một lời nguyện tắt do Giáo Lư Viên hoặc một học viên tự phát (với các em nhỏ, Giáo Lư Viên có thể đọc từng câu cho các em lặp lại, hoặc làm dấu Thánh Giá rồi thinh lặng giây lát cầu nguyện riêng...) nhưng thường gặp nhất là đọc một kinh (mở đầu : kinh Lạy Cha; kết thúc : kinh Sáng Danh)

2- Cầu nguyện đỉnh cao

Giáo Lư Viên cần huấn luyện cho học viên của ḿnh có một tinh thần cầu nguyện.

a. Thái độ đối với Thiên Chúa :

Đây là một thái độ của tâm hồn.  Muốn có thái độ đúng đắn khi cầu nguyện, trước tiên phải xác định vị trí của chúng ta đối với Thiên Chúa (nói khác đi, phải tự vấn đáp : ‘Thiên Chúa là ai đối với tôi ?’.

- Thái độ của một tạo vật đối với Đấng Tạo Hoá :

            + Thờ lạy (Thiên Chúa là chủ tể tuyệt đối).

            + Ca tụng (Thiên Chúa là Đấng tuyệt mỹ).

            + Tri ân (Thiên chúa là Đấng nhân hậu và giàu t́nh thương...).

- Thái dộ của một người con đối với cha hiền :

            + Thiên Chúa đă kêu gọi chúng ta và cho chúng ta trở thành con của Ngài.

            + Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn (‘Abba’ - Cha ơi !)

            + Giống như Chúa Giêsu, đối với Chúa Cha, chúng ta cũng có tâm t́nh của một người con : yêu mến, kính trọng, vâng lời, cậy trông, phó thác...

- Thái độ của một tội nhân :

            + Khao khát Ơn Cứu Độ.

            + Tin tưởng và cậy trông vào ḷng nhân lành của Chúa.

            + Ư thức thân phận ḍn mỏng, yếu đuối, dễ sai phạm... của một tạo vật bất toàn.

#  Nếu thật sự có được những tâm t́nh ấy, giờ cầu nguyện sẽ hết sức thâm trầm, sâu lắng và đạt được kết quả tốt.

b.  Những điều kiện thiết yếu :

Cần phải có vài điều kiện thuận lợi để có thể gặp gỡ Thiên Chúa thật sự trong lời cầu nguyện.

- Đặt ḿnh trước sự hiện diện của Thiên Chúa :

Nói chuyện với ai th́ tiên vàn người ấy phải có mặt ;  vậy phải ư thức rằng Thiên Chúa đang hiện diện với ḿnh rồi cố gắng hiện diện với Thiên Chúa và nói với Ngài bằng những tâm t́nh thật sự của ḿnh  (để cho trẻ ư thức Thiên Chúa hiện diện, Giáo Lư Viên nên hướng dẫn các em bằng những kiểu nói cụ thể, bằng tranh ảnh - ảnh tượng - bàn thờ - nến ...   hoặc qua thiên nhiên)

- Có chuyện để nói với Thiên Chúa :

Cần tập cho các em hiểu :  cầu nguyện là nói với Thiên Chúa những điều ḿnh có ở trong ḷng ;  Do đó sau khi đă đặt ḿnh trước sự hiện diện của Thiên Chúa nên gợi cho các em một tâm t́nh thích hợp,  (trong bài Giáo Lư, tâm t́nh này đă được chuẩn bị trước bằng bài giảng)  sau đó giúp các em t́m những lời nói và cử chỉ thích hợp để diễn tả tâm t́nh.

- Tạo một bầu khí thuận lợi :

Phải cố gắng lo liệu sao cho phần cầu nguyện được lồng trong một bầu khí tôn nghiêm, tự do và yên tĩnh.

            + Tôn nghiêm :  v́ có Thiên Chúa hiện diện.

            + Tự do :  không ép buộc, nhưng thuyết phục và khuyến khích các em tự ư trút bỏ mọi sự để đến với Thiên Chúa.

            + Yên tĩnh:  Ta khó chủ động được hoàn cảnh bên ngoài nhưng nó lại khá quan trọng.  Dù vậy, chúng ta cũng có thể khắc phục bằng cách, nếu thấy bầu khí bên ngoài quá ồn ào khiến các em không cầm trí được, hăy tạm hoăn lại, đợi lúc khác thuận tiện hơn sẽ cầu nguyện.

- Thái độ của Giáo Lư Viên

Thái độ của Giáo Lư Viên trong giờ cầu nguyện rất quan trọng đối với các em.  Chúng có thể cảm thấy đang đứng trước mặt Thiên Chúa (hay không) phần lớn là do chính thái độ của Giáo Lư Viên.  Do đó, Giáo Lư Viên phải hết sức trang nghiêm trong khi cầu nguyện.  Phải cùng cầu nguyện với các em trước mặt các em.  (Kinh nghiệm riêng : khi cầu nguyện cùng với các em nhỏ nên đứng đối diện với các em ;  ngược lại với các em lớn hơn, khi cầu nguyện có thể đứng cùng phía với các em, cùng hướng lên ảnh tượng hay một điểm cố định nào đó.  Nếu trong pḥng học có hai dăy bàn, nên đứng ở giữa)

Nếu cần phải sửa lỗi th́ để sau khi cầu nguyện xong, làm một cách dịu dàng và ôn tồn. Nhưng tốt nhất nên nhắc nhở các em trước khi cầu nguyện.

c.  Cách diễn tả tâm t́nh :

Các h́nh thức bên ngoài (lời nói, cử điệu...) là cần thiết, nhưng sẽ rất vô dụng nếu không có chiều sâu và phát xuất từ nội tâm.  Cũng không nên cầu kỳ, càng đơn giản càng tốt.

- Cử điệu :  Thường chúng không thể phát biểu được thành lời những tâm t́nh dồi dào, sâu lắng thật sự bên trong, nên các em hay biểu lộ ra bằng những cử chỉ bên ngoài, có khi hết sức giản dơn nhưng giàu ư nghĩa :

            + Bái gối, cúi đầu :  Ư thức ḿnh bé nhỏ trước Thiên Chúa.

            + Dấu Thánh giá :  Trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa.

            + Chắp tay :  Hướng về Chúa.

            + Nhắm mắt :  T́m kiếm, chiêm ngắm Đấng Vô H́nh.

            + Im lặng :  Lắng nghe tiếng Chúa.

Đó là những cử điệu tự các em có thể thể hiện được, nên chỉ thêm cho các em những cử điệu khác :  cúi đầu, đấm ngực (ăn năn, thống hối... như người thu thuế) hoặc nâng cao hai tay khi hát  ‘Con xin dâng lên ṭa Chúa uy linh’ hay ‘ Hai tay con dâng lên Ngài thế giới’...

Ngay cả khi tâm trí mỏi mệt, nếu vẫn giữ được thái độ kính cẩn, trang nghiêm cũng là một cách cầu nguyện tuyệt hảo.

- Lời nói :  Đừng quá khuôn sáo với những lời cầu nguyện quen dùng nhưng lại nghèo nàn ư nghĩa.  Nên tập cho các em làm quen với những lời mà Giáo Hội thường dùng để thưa chuyện với Thiên Chúa (Phụng vụ)

            + Những lời trong Thánh vịnh  (các bài đáp ca) ‘Chúa là mục tử’ , ‘Từ vực sâu’.

            + Những lời mang tính tôn thờ  (Kinh Vinh Danh)

            + Những lời dành riêng cho Thiên Chúa: ‘Tạ ơn Chúa’ , ‘Amen’ , ‘Xin Chúa thương xót’...

(V́ là những câu quen thuộc, nên tránh tục hoá.  Phải dùng một cách kính cẩn kèm theo lời giải thích ư nghĩa sâu xa của chúng...)  Nếu chúng ta càng dựa vào Thánh kinh và Phụng vụ, các em nhỏ sẽ càng mau quen với một lối cầu nguyện đơn giản, khiêm tốn nhưng đại đồng, quy về Thiên Chúa và do Chúa Thánh Thần hướng dẫn.

Tuy vậy, cũng nên tôn trọng những lời nói biểu lộ những tâm t́nh thật sự của các em.

- Thinh lặng :  Thinh lặng cũng là một phần của phút cầu nguyện.  Khi cầu nguyện chung nên có một chút yên lặng (hoặc trước hoặc sau).

            + Im lặng trước :  Sau phút im lặng, lời cầu nguyện chung sẽ là lời tóm kết các ư nguyện thầm của riêng mỗi người trước đó.  Sau lời cầu nguyện chung, tất cả thưa ‘Amen’.

            + Im lặng sau :  Sau khi đọc lời nguyện chung, mỗi người cầu nguyện và suy niệm riêng theo ư được gợi lên.

- Nội tâm hoá :  Ban đầu trẻ em diễn tả tâm t́nh bằng những cử điệu, lời nói, tiếng ca... theo đúng như Giáo Lư Viên, nhưng nên dần dần tập cho các em biệt vị hoá và nội tâm hoá lời cầu nguyện của ḿnh theo tiến tŕnh sau :

            + Cho các em lặp lại lớn tiếng những ǵ ta đọc trước, sau đó dần dần nhỏ hơn rồi đến thầm thĩ trong ḷng.            

            + Làm trước những cử điệu cho các em bắt chước trong khi vẫn cầu nguyện lớn tiếng, sau đó cắt nghĩa cho biết các em phải làm ǵ, rồi để các em tự làm lấy.

            + Đưa ra nhiều cách diễn tả tâm t́nh rồi cho các em tự chọn kiểu nào tùy thích.

            + Gợi tâm t́nh rồi để các em tự diễn tả tâm t́nh đó.

            + Sau mỗi lần cầu nguyện riêng, nhớ cho tất cả cùng cầu nguyện chung bằng một bài hát, một thánh vịnh hoặc một lời nguyện chung tự phát, tất cả thưa  ‘Amen’ .

d.  Vài cách thức cầu nguyện trong giờ Giáo Lư :

- Giáo Lư Viên nói lớn tiếng từng câu ngắn (hoặc nhờ một học viên đại diện), các học viên lặp lại lớn tiếng (hoặc thầm trong ḷng) từng câu.

- Cầu nguyện đối đáp kiểu ‘kinh cầu’ hoặc giống ‘đáp ca’ trong thánh lễ :  Giáo Lư Viên thay đổi lời nguyện, các học viên lặp lại cùng một câu đáp sau mỗi lời nguyện.

- Chia thành hai nhóm, luân phiên nhau đọc từng lời nguyện (nên soạn ra giấy hoặc ghi lên bảng trước).

- Giáo Lư Viên (hoặc một học viên) ‘chủ sự’ đọc một lời nguyện, tất cả thưa ‘Amen’.

- Đọc một kinh thật chậm  và bảo các em chú ư đến từng lời ḿnh đọc hoặc dừng lại sau mỗi câu và giải thích ư nghĩa câu đó.  Nên giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, đi thẳng vào tâm hồn và đánh động tâm hồn các em.

- Giáo Lư Viên không gợi lên tâm t́nh nữa nhưng đưa ra một đề tài, các học viên tự t́m ra tâm t́nh thích hợp để cầu nguyện.  Cách này khó hơn v́ đ̣i hỏi phải trưởng thành, do đó chỉ có thể áp dụng cho các em lớn, quen suy nghĩ.

e.  Cách thức soạn một lời nguyện :

Một lời nguyện cân đối và đầy đủ, theo mẫu những lời nguyện chính thức của Giáo Hội gồm có bốn phần như sau :

- Tŕnh bày lư do :  Thường dựa vào một lời Chúa phán, một việc Chúa làm, một ưu phẩm của Chúa hoặc một biến cố xảy ra...

- Tŕnh bày nội dung :  Nêu lên điều ḿnh muốn xin...

- Tŕnh bày mục đích :  Xin ơn đó để làm ǵ .  Thường có hai mục đích chính : mục đích liên quan đến con người (bản thân ḿnh, thân nhân, tha nhân, Giáo Hội, thế giới...) và mục đích liên quan đến Thiên Chúa (làm vinh danh Thiên Chúa).

- Kết thúc :  Cậy trông Thiên Chúa sẽ ban cho, nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kytô. 

#  Thí dụ :

Lạy Chúa, xưa Chúa đă phán: ‘Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt th́ ít... ‘ (tŕnh bày lư do).

Xin Chúa cho chúng con biết vâng theo tiếng Chúa gọi, dấn thân trong đời sống tu tŕ... (tŕnh bày nội dung).

Để chúng con có thể gieo rắc ơn cứu độ của Chúa, sinh ích cho nhiều linh hồn (mục đích 1) và làm cho Nước Chúa trị đến (mục đích 2).

Chúng con cầu xin nhờ Đức Kytô Chúa chúng con.  Amen  (kết thúc).

#  Cơ cấu cổ điển của một lời nguyện là như vậy, nhưng lời nguyện cũng có thể rất uyển chuyển.  Điều quan trọng là đơn giản và chân thực, nói lên được những tâm t́nh mà ḿnh muốn nói với Thiên Chúa.

II.  KỂ CHUYỆN TRONG BÀI GIÁO LƯ

Thông thường, bài Giáo Lư được tŕnh bày theo lối quy nạp, cho nên trong phần bài giảng thường lấy một câu chuyện cụ thể làm khởi điểm rồi theo đó, tŕnh bày đề tài của bài Giáo Lư.

1-  Các loại chuyện : 

Những chuyện kể trong bài Giáo Lư được chia thành ba loại :

            - Các câu chuyện trong Kinh thánh.

            - Các câu chuyện về lịch sử Giáo Hội và cuộc đời các thánh.

            - Các câu chuyện thời sự hoặc thường nhật.

a.  Các câu chuyện trong Kinh thánh :

- Trong Cựu Ước lẫn Tân Ước có rất nhiều những câu chuyện hay mà không phải các tín hữu ai cũng biết rơ, nhất là bối cảnh của câu chuyện.  Những câu chuyện này mang tính chất và nội dung tôn giáo rất cao cho nên rất tốt và rất thích hợp để dùng tŕnh bày đề tài trong một bài Giáo Lư.

- Các Giáo Lư Viên khi soạn bài nên ưu tiên cho loại chuyện này v́ khi chuyển sang áp dụng vào bài Giáo Lư sẽ rất dễ dàng, mạch lạc và tự nhiên.

- Các câu chuyện trong Cựu Ước :

+ Chuyện về các nhân vật và cuộc đời của họ. (Abraham, Mosé, David...).

+ Chuyện về các biến cố (Hồng thủy, Xuất hành, chiến thắng quân thù...).

+ Chuyện sự tích (từ ngữ Babel, Manna...).

+ Chuyện giáo dục (tôn giáo và nhân bản :  trung tín vâng lời...).

- Các câu chuyện trong Tân Ước :

+ Chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu (Truyền tin, Tử nạn, Phục Sinh...).

+ Chuyện về các dụ ngôn (hạt cải, cỏ lùng, tiệc cưới, cây nho...).

+ Chuyện về các phép lạ (bánh hoá nhiều, nước hoá rượu, chữa bệnh...).

#  Cần lưu ư: 

Một câu chuyện trong Kinh thánh có thể có rất nhiều ư nghĩa, do đó có thể dùng để tŕnh bày nhiều đề tài Giáo Lư khác nhau.  Tuy vậy  trong mỗi bài Giáo Lư chỉ nên dùng một ư nghĩa thích hợp với đề tài đó thôi, đừng nên pha trộn hoặc liệt kê hết tất cả các ư sẽ làm loăng đi ư chính và làm cho các học viên không nắm được chủ ư.

b.  Các câu chuyện về lịch sử Giáo Hội và cuộc đời các thánh :

- Đây cũng là một kho tàng phong phú chứa đựng rất nhiều những sự kiện có thể dùng tŕnh bày các đề tài Giáo Lư.  Tuy nhiên phải lựa chọn thật kỹ lưỡng và áp dụng thật khéo léo và nhất là phải hết sức trung thực chứ đừng ‘vẽ râu’ cho các thánh hay ‘thêm mắm muối’ vào lịch sử Giáo Hội.  Những t́nh tiết ly kỳ, huyễn hoặc, phi lịch sử cần phải loại bỏ v́ dù có thể làm cho các em thích thú nhất thời nhưng sẽ làm hại cho đức tin của các em  sau này.

- Với các câu chuyện loại này, đ̣i các Giáo Lư Viên phải tham khảo nhiều tài liệu và sách vở.  Sau đây là vài gợi ư :

+ Ơn gọi làm tông đồ :  thánh Phaolô.

+ Thiên Chúa là tuyệt đối, là hạnh phúc thật :  thánh Augustino.

+ Tinh thần nghèo khó v́ Nước Trời :  thánh Phanxicô Assisi.

+ Tinh thần truyền giáo :  thánh Phanxicô Xaviê.

+ Chứng nhân :  Các thánh Tử đạo Việt nam.

+ Tinh thần bé thơ :  thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

+ Gương trinh trong :  thánh Maria Goretti.

+ Chết cho người khác :  thánh  Maximiliano Kolbê.

c.  Các câu chuyện thời sự hoặc thường nhật :

Những câu chuyện có tính thời sự hoặc xảy ra hàng ngày cũng có thể dùng làm khởi điểm cho bài Giáo Lư, tuy nhiên phải hết  sức thận trọng nếu không muốn bị ‘lạc quẻ’ ,  ‘trơ trẽn’ hay phản tác dụng.  Chỉ chọn những câu chuyện loại này khi hội đủ hai điều kiện :

- Thích hợp với chủ đề tôn giáo (ít ra cũng không được mâu thuẫn).

- Có thể chuyển sang đề tài Giáo Lư một cách dễ dàng, không gượng ép, giả tạo.

2-  Cách kể chuyện

- Kể chuyện trong giờ Giáo Lư không phải với mục đích mua vui hay giải trí cho các  học viên nhhưng là một phương thế dẫn tới Tin Mừng và truyền đạt Tin Mừng.  Do vậy phải lự chọn những câu chuyện có thể áp dụng được vào bài Giáo Lư.

- V́ mục đích đó nên khi kể chuyện phải loại bỏ những chi tiết rườm rà, dư thừa, không kiên quan đến vấn đề đang cần tŕnh bày;  nên tŕnh bày ngắn gọn và cụ thể những nét làm nổi bật mà ḿnh sẽ đem áp dụng vào bài Giáo Lư.

- Cần chú trọng đến tâm lư các nhân vật trong câu chuyện và tránh ‘huyền thoại hoá’, tiểu thuyết hoá’ câu chuyện.

- Trong khi kể chuyện nên để ư đến thái độ các em.  Phải biết tự chủ, đừng để câu chuyện kéo ḿnh đi. 

- Khi kể chuyện, nên tận dụng hết mọi kỹ năng (cử chỉ, điệu bộ, diễn tả... lời nói mạnh nhẹ, bổng trầm...) để truyền đạt một ư tưởng, một tâm t́nh.

- Cần hết sức lưu ư đến thời gian :  kể chuyện chỉ là một phần trong bài giảng và là một phần rất nhỏ trong bài Giáo Lư, đừng để mất quá nhiều thời gian cho câu chuyện kể mà bỏ đi những phần quan trọng khác.

Tóm lại :  Chính đề tài Giáo Lư phải hướng dẫn sự lựa chọn câu chuyện và cách kể chuyện.

 

III. VẤN ĐÁP TRONG BÀI GIÁO LƯ

Khi đi giảng dạy, Chúa Giêsu cũng thường trả lời những câu hỏi do dân chúng đặt ra. Thí dụ : ‘Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?’ (  Jn1.38); dân chúng: ‘Ông có phải là Đức Kytô không ?’ (Mt 11.3) ;  rồi người thanh niên giàu có : ‘Tôi phải làm ǵ để được sống đời đời ?’ (Mt 19.16)

Ngược lại, đôi khi Chúa cũng đặt ra câu hỏi cho người khác. Thí dụ : Với người mù : ‘Anh có tin vào Con Người không ?’ (Jn 9.35) hay với các Tông đồ : ‘Các con nói Thầy là ai?’ (Mt 16.15) ...

Khi giảng bài, Giáo Lư Viên nên đặt các câu hỏi ra cho học viên để các em chú ư hơn bài giảng đồng thời để trắc nghiệm xem các em hiểu bài như  thế nào và hiểu đến đâu, ngoài ra c̣n giúp các em diễn tả được những suy nghĩ chính của ḿnh. Bên cạnh đó cũng nên khuyến khích các em đặt ra câu hỏi, xét về tâm lư có nhiều ư nghĩa :

- Đặt câu hỏi là đă thắng vượt được tính e lệ, nhút nhát, thái độ lănh đạm và khuynh hướng cá nhân ... và đă có thái độ cởi mở, muốn trao đổi và lắng nghe ...

- Đặt câu hỏi là xác định bản lănh của ḿnh : có những ư nghĩa riêng tư muốn mang ra đối chiếu với những ư nghĩ và quan tâm của người khác.

- Đặt câu hỏi là đă hiểu được một phần vấn đề, ngay cả khi chưa biết giải quyết thế nào nhưng ít nhất vẫn thấy là vấn đề cần phải giải quyết.

1- Giáo Lư Viên đặt câu hỏi cho học viên

Trên phương diện thực hành, xin tóm lược vài điểm cốt yếu khi đặt câu hỏi cho học viên (nhất là đối với học viên nhỏ tuổi) :

- Câu hỏi phải sáng sủa, đừng hàm hồ (Thí dụ : Đừng đặt câu hỏi ‘Có bó buộc phải dự lễ không?’...).

- Câu hỏi phải đơn giản, đừng gộp hai ba vấn đề vào một câu (Thí dụ : đừng đặt câu hỏi ‘Chúa sinh ra ở đâu, hồi nào, có ai đến viếng kèm theo biến cố ǵ xảy ra trên trời ? ‘...).

- Câu hỏi phải cụ thể, đừng chung chung (Thí dụ : đừng đặt câu hỏi ‘Em hiểu biết những ǵ về Thiên Chúa ?’...)

- Đừng cố t́nh đặt câu hỏi ‘quái gở’ để gài bẩy các em (Thí dụ : ‘Tại sao Thiên Chúa có bốn ngôi ?’...).

- Không nên chỉ hỏi những học viên giỏi hoặc một số học viên nào nhất định.

- Thường phải đặt câu trước cho cả lớp nghe, sau đó mới nhờ một em trả lời (tất cả sẽ chú ư hơn). Nếu câu trả lời chưa hoàn hảo, tiếp tục em thứ hai thứ ba bổ túc.

- Cấm tuyệt đối việc cười cợt hay chế giễu một câu trả lời sai ; ngược lại phải nhấn mạnh và khen tặng những chổ đúng của các em (dù chưa hoàn toán hoặc chỉ đúng dưới một khía cạnh nào, với một điều kiện nào ...).

# Tóm lại : Các câu hỏi của Giáo Lư Viên điều phải hướng về đề tài bài Giáo Lư. Các đáp ứng đúng đều nằm trong nội dung của bài đó. Cũng chính các câu hỏi này cũng có tác dụng dẫn các em đến việc chú ư nghe lời Chúa ở bước tiếp theo.

2- Học viên đặt câu hỏi

a/. Giáo Lư Viên tiếp nhận câu hỏi :

Trước hết phải có thái độ cởi mở, đón nhận.  Phải làm cho các học viên thấy rằng ḿnh biết lắng nghe và biết lưu tâm đến những ưu tư của các em, nh́n nhận giá trị của các em.

Không cần thiết phải trả lời ngay lập tức.  Đó là biểu hiện ‘tự vệ’, sợ bị ‘bí’, cố gắng làm cho người hỏi phải ‘đầu hàng’ ngay,  không c̣n ǵ để nói nữa.  Ngoài ra, trả lời mà không có thời gian suy nghĩ thường là không đầy đủ và thiếu chính xác.

Phải đào sâu câu hỏi để t́m gặp tâm tư  của người đặt câu hỏi.  Đối với các em, câu trả lời đúng không hẳn là câu trả lời mau lẹ nhưng là câu trả lời trong đó các em cảm nhận nhận rằng : nó phát xuất từ đấy ḷng của Giáo Lư Viên.

 #  Tóm lại : phải tạo nên một bầu khí tín nhiệm, thông hiệp và đối thoại, cùng nhau suy nghĩ t́m hiểu và soi sáng lẫn nhau chứ không phải là diễn đàn để ‘trổ tài đấu lư’.

- Giải thích rơ thêm câu hỏi :

Nhiều khi các học viên chưa quen diễn tả ư nghĩ của ḿnh nên những câu hỏi được đặt ra c̣n vụng về và thiếu mạch lạc.  Giáo Lư Viên phải phân tích, gạn lọc, sắp xếp và tŕnh bày lại cho gẫy gọn và dễ hiểu.  Đó là cách vừa giúp cho các em hiểu rơ câu hỏi vừa giúp các em biết cách đặt câu hỏi.  Cũng có khi Giáo Lư Viên hỏi lại các em đó hoặc gợi ư để các em có thể từng bước xác minh ư nghĩ của ḿnh và nổi bật lên vấn đề chính mà các muốn nêu ra.

b/. Giáo Lư Viên giải đáp :

- Phân loại câu hỏi : Trước khi giải đáp câu hỏi cần phải nhận định rơ câu hỏi này thuộc loại nào v́ mỗi loại câu hỏi có cách giải thích riêng.

            + Câu hỏi nêu lên một vấn đề.

Câu hỏi này có nguyên nhân là do thiếu kiến thức, v́ không biết hoặc biết chưa đầy đủ.

            + Câu hỏi gợi lên một mầu nhiệm.

Đây là loại câu hỏi khó giải đáp nhất, đưa đi rất xa đối với các lư luận trực tiếp b́nh thường.  V́ liên quan đến mầu nhiệm, những chân lư đức tin mà con người không  thể nào thấu đạt bằng kiến thức nhân loại.

            + Câu hỏi có dụng ư trêu chọc.

Những câu hỏi này thường ngoài vấn đề, thiếu nghiêm túc, thiếu xác tín hoặc là có ư ‘gài bẫy’...

- Giải đáp câu hỏi : Khi đă phân loại chính xác các dấu hỏi của học viên, Giáo Lư Viên có thể dễ dàng biết ngay ḿnh sẽ trả lời cho các em theo hướng nào.

            + Câu hỏi nêu lên một vấn đề.

Với loại này, việc giải hết sức đơn giản là truyền thông kiến thức (do đó, điều kiện có đủ kiến thức tôn giáo của Giáo Lư Viên sẽ đứng hàng ưu tiên ở đây).

            + Câu hỏi gợi lên một mầu nhiệm.

 Vẫn phải có một ít lư luận để thoả măn phần nào cho lư trí, nhưng quan trọng hơn vẫn là :

·      Sửa chữa, uốn nắn những sai lầm, ngộ nhận và thành kiến.

·      Tŕnh bày cho các em thấy những chứng từ, những kinh nghiệm sống của ḿnh hoặc của người khác đă phấn đấu, khắc phục những khó khăn tương tự như thế nào (Điều này lại đ̣i hỏi nơi Giáo Lư Viên kinh nghiệm sống, vốn sống và kiến thức xă hội).

·      Giúp cho các em hiểu : Có những điều mà trí khôn không thể với tới nên không thể tŕnh bày và lănh hội một cách minh bạch được. Những khó khăn thắc mắc đó chỉ có thể giải tỏa được bằng một đời sống trung tín trong đức tin và cầu nguyện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

            + Câu hỏi có dụng ư trêu chọc.

Với câu hỏi loại này, một mặt Giáo Lư Viên phải xem lại cách dạy của ḿnh : có phù hợp với tŕnh độ và sở thích của học viên không, đề tài có gần gũi và lay động các em không, phân chia giờ giấc có phù hợp không ...  Khiến các em chán ngán, mệt mỏi, muốn giải trí ; Mặt khác cũng phải giải quyết vấn đề cho các em.  Có hai cách giải quyết : Né tránh và đối phó.

·      Né tránh : Nếu trường hợp không đủ giờ hoặc v́ lư do ǵ khác, Giáo Lư Viên muốn né tránh vấn đề th́ hứa sẽ trả lời chung cho cả lớp vào dịp khác hoặc sẽ trả lời riêng cho em đó, nếu em muốn.

·      Đối phó : Nếu có thời giờ, hoặc v́ muốn ngầm nhắc nhở học viên đó, có thể đối phó bằng cách hỏi lại chính em đó : ‘Nếu người khác hỏi em như thế, em sẽ trả lời thế nào ?...’ (Thông thường, với loại câu hỏi này ta nên lẫn tránh th́ tốt hơn để đỡ làm mất giờ hoặc bị rơi vào ‘bẫy’ của các em).

* Vài lưu ư trong việc giải đáp câu hỏi

·      Không nên trả lời hết mọi câu hỏi : Ngày xưa Chúa Giêsu cũng đă từng từ chối trả lời các kỳ mục và thượng tế : ‘Tôi cũng không nói cho các ông biết tôi lấy quyền ǵ mà làm các điều ấy’ (Mt 21.27).

Các em khi đă quen với Giáo Lư Viên sẽ đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi các loại.  Một mặt dặn ḍ các em chỉ hỏi những câu trong bài, c̣n những câu hỏi ngoài lề hoặc có tính cách riêng tư th́ không nên đặc ra trong buổi học chung.  Một mặt Giáo Lư Viên nên theo nguyên tắc : Chỉ trả lời những câu hỏi làm tăng thêm hiểu biết về chân lư mạc khải và ích lợi hoặc liên quan đến đa số học viên.

·      Loại câu hỏi nêu lên một vấn đề th́ khác một chút so với hai loại kia : nếu thật sự ḿnh chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ th́ nên nhận là chưa biết và hứa lần tới sẽ giải đáp sau khi đă tra cứu hoặc tham khảo ư kiến ... Tuy nhiên nên nhớ các học viên hay thần tượng hoá Giáo Lư Viên của ḿnh và đ̣i hỏi Giáo Lư Viên phải có một hiểu biết sâu rộng và giải đáp những thắc mắc của các em, do đó các em rất khó chấp nhận một Giáo Lư Viên không biết điều mà các em hỏi.

·      Trong trường hợp Giáo Lư Viên phát hiện ra lần trước ḿnh đă trả lời sai cho các em th́ phải càng sớm càng tốt đính chính lại.  Việc này cấp thiết như một nhiệm vụ phải chu toàn bằng mọi giá.  Nhẹ hơn một chút :  Nếu lần trước trả lời c̣n thiếu, lần này nên bổ sung thêm.  Cuối cùng là đừng quên xin lỗi các em.

 

IV. SINH HOẠT TRONG BÀI GIÁO LƯ

Trong một bài giáo lư có nhiều cách sinh hoạt, xin tŕnh bày vài cách sau đây, được phân thành ba loại :

            - Sinh hoạt từng học viên chung cho cả lớp.

            - Sinh hoạt do một học viên làm thay cho cả lớp.

            - Sinh hoạt theo từng phân nhóm.

1- Sinh hoạt từng học viên chung cho cả lớp

- Hát (hoặc nghe băng) một bài hát về đề tài đang học hỏi.

- Xem một tấm h́nh (bản đồ, phong cảnh, di tích lịch sử, đồ vật, người...) rồi chú thích hoặc nhận xét, nêu ư kiến.

- Cắt dán, vẽ sáng tác, phóng tác theo chủ đề hoặc vẽ bản đồ.

- Đặt câu hỏi cho học viên trả lời cho các em về nhà suy nghĩ.

- Kể một câu chuyện, yêu cầu học viên rút ra bài học, ư kiến, nhận xét, cảm tưởng...

- Bổ túc (hoặc sắp xếp lại) một câu Thánh Kinh, một lời nguyện, một đoạn Giáo Lư.

- Sáng tác một lời nguyện.

- Câu đố hoặc tṛ chơi Giáo Lư (phân biệt các hoạt động của xác và hồn hay t́m những nhân đức đối chọi với một tật xấu ...).

2-  Sinh hoạt theo từng phân nhóm

- Mỗi nhóm soạn một lời nguyện (chủ đề có thể như nhau hoặc khác nhau).

- Mỗi nhóm vẽ một tấm ảnh lớn về chủ đề Giáo Lư.

- Mỗi nhóm chia vai nhau đối thoại theo kiểu Bài Thương Khó diễn một cảnh trong Phúc Âm.

- Mỗi nhóm t́m (trong Phúc Âm) một câu nói của Chúa Giêsu về một chủ đề.

- Làm lịch bổn mạng nhóm : H́nh thánh bổn mạng, tên thánh bổn mạng, ngày kính, tên của học viên có Thánh bổn mạng đó ... rồi sắp xếp theo thứ tự từng tháng, đóng thành tập ... để dễ nhớ ngày mừng bổn mạng nhau.

- Làm tập ảnh : Mỗi nhóm t́m các h́nh liên quan đến một Bí Tích (một điều răng hay một mối phúc thật ... ) rồi dán vào tập. Nó có tính cách như một bộ sưu tập ...

3- Sinh hoạt do một học viên làm thay cả lớp

- Một học viên đọc một đoạn Thánh kinh (hay một đoạn sách) rồi tóm tắc ư chính.

- Một học viên t́m một hai câu Kinh thánh phù hợp với chủ đề Giáo Lư.

- Một học viên kể chuyện cho cả lớp nghe (Chuyện em nghe, em thấy hoặc đọc được).

- Một học viên cho biết ư kiến về bài Giáo Lư hay đoạn nào, điểm nào trong bài làm em chú ư và thích thú nhất, tại sao ?.

- Một học vên thay mặt cả lớp cầu nguyện lớn tiếng hoặc đề nghị một áp dụng thực tế.

# Lưu ư :

- C̣n nhiều loại h́nh sinh hoạt khác nữa, nhưng phải làm sao hợp với hoàn cảnh cụ thể và chủ đích tôn giáo của bài Giáo Lư.

- Sinh hoạt trong bài Giáo Lư nhằm giúp cho học viên áp dụng điều đă học vào thực tế cuộc sống (đồng hoá), chứ không phải nhằm mua vui, giải trí. Nên tránh đừng để giờ Giáo Lư quá vui nhộn làm mất đi tính chất trang nghiêm tôn giáo, làm thiệt tḥi cho nội dung bài giảng.

 

 

 

 

 


 

Chương hai

 

  

VÀI H̀NH THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG BÀI GIÁO LƯ

 

 %

Có vài h́nh thức sinh hoạt khác mà thời gian sinh hoạt cũng ngang bằng với một giờ Giáo Lư và tác dụng của nó cũng y hệt như thế, xin được tŕnh bày :

- Lứa tuổi lớn : Thuyết tŕnh, họp nhóm, hội thảo ...

- Lứa tuổi nhỏ : Đố vui, tṛ chơi, diễn kịch, hoạt cảnh ...

 

I. THUYẾT TR̀NH

Thuyết tŕnh là một người tŕnh bày nội dung một vấn đề cho một chủ tọa.  Phương pháp này rất thông dụng trong khoa sư phạm. Nhưng thuyết tŕnh Giáo Lư c̣n đ̣i hỏi cao hơn : Nó không chỉ nhằm truyền thông kiến thức mà c̣n loan Tin Mừng, để Tin Mừng  này thấm nhập vào tâm hồn con người và biến đổi con người.

Do đó thuyết tŕnh Giáo Lư phải :

            - Theo diễn tŕnh cụ thể.

            - Gây phản ứng nơi cử toạ.

            - Giúp suy tư và đồng hóa cá nhân.

1- Theo diễn tŕnh cụ thể

Ngoài việc tŕnh bày một chân lư, thuyết tŕnh viên c̣n phải cố gắng tạo nên một cảm nghiệm, một tương quan, một sự hiệp thông giữa cử tọa với Thiên Chúa. Bởi vậy, trước khi thuyết tŕnh Giáo Lư Viên hăy t́m hiểu kỹ tâm tư của các em, những lo âu và khát vọng của chúng... Sau đó mới đi hai bước tiếp theo :

- Chỉ cho các học viên thấy rằng : giải quyết vấn đề bằng kiểu nh́n trần tục thôi vẫn chưa đủ, v́ những khó khăn có thể bị đẩy lùi nhưng vẫn tồn tại.

- Giúp cho các em nhận ra sự mới mẻ của Tin Mừng : Một mặt, Tin Mừng đảo lộn những dự định và cách nh́n của ta, đôi khi c̣n làm ta hụt hẫng, chới với... nhưng một mặt Tin Mừng lại cũng đáp ứng mọi ước vọng sâu xa của ta, khai thác mọi tiềm năng và giúp ta phát triển tối đa.

2- Gây phản ứng nơi cử tọa

Thuyết tŕnh là h́nh thức độc thoại nên người nghe dễ bị thụ động.  Để tránh nhược điểm đó, Giáo Lư Viên nên gây phản ứng cho các học viên của ḿnh, làm cho chúng thích thú :

- Cho các em xem một tấm h́nh hay bức họa rồi để các em nhận xét hay ư kiến ǵ về ư nghĩa, hoặc bức ảnh đó gợi lên điều ǵ...

- Đưa ra hay nhắc lại một câu danh ngôn nào đó phù hợp với chủ đề mà ta đang thuyết tŕnh rồi cho các em b́nh luận.

- Yêu cầu một học viên lược tóm đoạn vừa tŕnh bày, sẽ rất thú vị nếu các em thật sự hiểu và tŕnh bày lại vấn đề bằng ngôn ngữ của trẻ thơ.

- Lược tóm bằng h́nh vẽ, sơ đồ, thống kê...lên bảng.  Giúp cụ thể hóa vấn đề và giúp các em dễ nhớ, dễ theo dơi.

- Trắc nghiệm.

3- Giúp suy tư và đồng hóa cá nhân

Vật dụng hữu ích nhất cho việc nầy là tập vở.  Các em có thể ghi lại :

- Bản lược tóm ngắn gọn (do Giáo Lư Viên soạn và đọc cho chép).  Đây là một văn bản súc tích làm khởi điểm cho những suy tư của cá nhân học viên đó.

- Những cảm nghĩ riêng tư và những khám phá của học viên.  Trong phần nầy, các học viên cũng có thể ghi những sự kiện ḿnh biết mà phù hợp với đề tài hay những câu Kinh Thánh để dẫn chứng.  Ngoài ra các em cũng có thể ghi cả những thắc mắc chưa giải quyết được...  Như vậy các em có dịp đối chiếu những ư nghĩ của ḿnh.  Đó chính là bước đầu của sự đồng hoá.  Sau này, những sinh hoạt phụng vụ và tông đồ sẽ giúp các học viên đồng hoá được nhiều hơn nữa ... .

 

II. HỌP NHÓM

Giáo Lư Viên đưa ra một vấn đề dưới h́nh thức một câu hỏi.  Các học viên chia thành từng nhóm bảy tám em cùng trao đổi, suy nghĩ về câu hỏi đó.  Sau đó tất cả gom lại thông báo cho nhau kết quả trao đổi của nhóm ḿnh rồi thảo luận chung.  Giáo Lư Viên tổng hợp lại, làm nổi bật những ư hay, bổ túc hoặc đưa ra lời giải đáp cuối cùng cho vấn đề đă thảo luận.

1- Chuẩn bị

a/. T́m câu hỏi :

- Khởi điểm là một trường hợp, một sự kiện hay một câu hỏi được Giáo Lư Viên nêu ra.  Mục đích là gây  thắc mắc để thảo luận và t́m ra lời giải đáp.

- Câu hỏi đó phải thật sự liên quan rất nhiều đến các em, đồng thời Giáo Lư Viên phải có sẵn lời giải đáp chính xác và sâu sắc.

- Trong  muôn mặt của vấn đề, Giáo Lư Viên chỉ nên chọn một và đi thẳng vào những ước vọng, nhu cầu hay khó khăn của các em ở lứa tuổi đó.

- Cũng rất tốt nếu trước đó Giáo Lư Viên có thể tiếp xúc trước với một số em để biết được những dữ kiện làm nền tảng cho câu hỏi.

b/. Đặt câu hỏi :

- Vấn đề th́ b́nh thường, nhưng cách nêu vấn đề cần phải có h́nh thức mới lạ, bí ẩn, sắc bén, và đôi khi bi thảm nữa để gây phản ứng.

- Câu hỏi có thề được nêu bằng lời nói, bằng chữ viết; hoặc nêu bằng một h́nh ảnh, một đoạn phim, một cột báo hay một biến cố có tính thời sự.

- Dù dưới h́nh thức nào, câu hỏi cũng phải hội đủ hai điều kiện : Hướng về tôn giáo và có một lời giải đáp xác đáng.

2- Trao đổi từng nhóm

- Chia thành từng nhóm để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người điều phát biểu ư kiến và xác định quan điểm của ḿnh.

- Mỗi nhóm bầu ra một nhóm trưởng điều hành và sinh hoạt ; Khuyến khích mọi thành viên trong nhóm phát biểu ư kiến hoặc đưa cuộc trao đổi trở lại vấn đề chính.

- Mỗi nhóm cũng phải có một thư kư ghi lại những ư  kiến đă phát biểu rồi tổng hợp lại để tường tŕnh cho các nhóm khác trong cuộc họp chung.

- Đây chưa phải lúc đối chiếu các quan điểm mà chỉ là thu thập các ư kiến và cách nh́n nhận vấn đề. Ở đây, điều quan trọng là mọi tham dự viên điều cởi mở nói lên ư nghĩ của ḿnh đồng thời biết lắng nghe ư kiến người khác, dù ḿnh không đồng ư (Điều này không dễ đâu, nhất là trong những lần đầu !)

3- Họp chung

Sau khi trao đổi từng nhóm xong, tất cả sẽ họp chung để làm ba việc sau đây :

a/. Tường tŕnh :

Thư kư của mỗi nhóm lên thông báo cho các nhóm khác về kết quả cuộc trao đổi của nhóm ḿnh.

- Không phải thuật lại hết từng ư kiến một theo thứ tự nhưng phải phân loại và tổng hợp thành bốn điểm :

            + T́nh h́nh chung của cuộc trao đổi nhóm.

            + Những vấn đề đă trao đổi.

            + Các ư kiến phân thành mấy loại (tóm tắt từng loại)

            + Những điểm nổi bật đáng chú ư trong cuộc trao đổi.

- Người tŕnh bày sau không cần nhắc lại những ǵ người trước đă nói.  (Có thể nói :

            + Nhóm tôi đồng ư với các nhóm trước về điểm ...

            + Xin bổ sung thêm những điểm này ...

            + Có quan niện hơi khác [ hoặc ngược lại về ...]).

b/. Thảo luận chung :

Trong khi các nhóm tường tŕnh, Giáo Lư Viên nên ghi lại (tốt nhất là ghi lên bảng) theo từng loại :

            - Những ư kiến có sự thoả thuận rộng rải.

            - Những ư kiến c̣n mơ hồ cần bổ túc.

            - Những ư kiến khác biệt nhau.

Sau đó mời tất cả cùng thảo luận (quan tâm đến hai loại phía sau).

c/. Đúc kết :

Thảo luận xong, Giáo Lư Viên tổng hợp các ư kiến lại một cách mạch lạc, đánh giá những ư kiến đó và làm nổi bật những ư kiến góp phần giải đáp vấn đề, cuối cùng là tóm lược lời giải đáp bằng một câu ngắn gọn. Tức là Giáo Lư Viên phải làm bốn việc :

- Đào sâu những nỗ lực suy nghĩ, t́m ṭi của học viên.

- Chấp nhận và xác định những ư kiến đúng.

- Lưu ư học viên những khía cạnh chưa ai để ư tới.

- Đúc kết thành một công thức dể hiểu và ngắn gọn.

4- Vài lưu ư

- Đôi khi cuộc thảo luận lúc họp chung bị lạc đề hoặc rối loạn . . .  Ngoài khả năng tự chủ và hiểu biết sâu rộng, Giáo Lư Viên c̣n phải có một kỷ luật chặt chẽ để mọi người đều được phát biểu và mọi lời phát biểu đều có lợi cho mọi người.

- Kết quả của h́nh thức họp nhóm này tùy thuộc vào hai yếu tố : Sự đóng góp tích cực, chân thành của mỗi tham dự viên và sự hướng dẫn khéo léo, đúc kết chính xác của Giáo Lư Viên.

- H́nh thức này đ̣i hỏi sự trưởng thành về suy luận và một kỷ luật tự nguyện nơi các tham dự viên.

Do đó, họp nhóm khó có thể áp dụng cho các học viên nhỏ tuổi hay yếu kém về kiến thức và khả năng suy nghĩ, hoặc chưa quen làm việc chung với nhau.

 

III. HỘI THẢO

Hội thảo có rất nhiều h́nh thức, nhưng ở đây chỉ đề cập đến h́nh thức thông dụng và đơn giản nhất được gọi là ‘panol’.

- Panol là một cuộc trao đổi giữa một nhóm người (gọi là hội thảo viên) trước một cử tọa về những kinh nghiệm bản thân, những quan điểm hoặc những cảm nghĩ của ḿnh về một vấn đề nào đó.

- Theo đó, để trở thành một Panol cần phải có những điều kiện sau đây :

            * Các hội thảo viên có những quan điểm khác nhau, nhưng đều có thể chấp nhận được và đem ra hội thảo.

            * Cử toạ có quyền phát biểu cảm nghĩ của ḿnh và có thể căn cứ vào những điều do các hội thảo viên tŕnh bày để duyệt lại quan điểm riêng của ḿnh.

1- Hội thảo Giáo Lư

Khi áp dụng Panol vào Giáo Lư, hội thảo không những chỉ là cơ hội để đối chiếu nhiều quan điểm khác nhau mà c̣n là một phương thức loan truyền Tin Mừng thiết thực với nhiều ưu điểm.

- Mọi tín hữu đều chấp nhận Lời Chúa và đức tin như nhau (v́ trên một nền tảng chung), nhưng khi áp dụng vào hoàn cảnh và lĩnh vực  cụ thể th́ mỗi người  đều có thái độ và sự lựa chọn khác biệt nhau.  Hội thảo làm vọt lên những lư do của sự lựa chọn đó.

- Mỗi người đều được duyệt lại quan điểm của ḿnh và được đối chiếu với các quan điểm khác nên sẽ thêm sáng suốt và xác tín hơn về lựa chọn của ḿnh.

- Hội thảo c̣n là lớp học của thái độ lắng nghe, thông cảm, hiểu biết, tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt lẫn nhau song song với việc mở rộng kiến thức.

2- Diễn tiến cuộc hội thảo

a/. Chuẩn bị :

Trước ngày hội thảo, Giáo Lư Viên chọn một số học viên t́nh nguyện làm hội thảo viên.  Cắt nghĩa hội thảo viên là ǵ ?  Giải thích sơ lược đề tài hội thảo.

b/. Hội thảo viên :

Trong thời gian chuẩn bị, mỗi hội thảo viên phải suy nghĩ về lập trường của  ḿnh và những lư luận và bằng chứng để bảo vệ nó.  (Có thể tham khảo ư kiến cha mẹ, thầy cô, bạn bè hoặc bất cứ ai).  Nghĩa là phải  : Hiểu rơ đề tài - Xác định quan điểm riêng của ḿnh - Dùng lư lẽ, sự kiện và ví dụ để người khác có thể hiểu sự lựa chọn của ḿnh.

c/. Pḥng ốc :

Số hội thảo viên nên từ 6-8 trở lên (số chẵn).  Hướng dẫn viên ngồi đối diện với cử tọa.  Các hội thảo viên ngồi thành hai dăy đối diện nhau, không song song nhưng tạo thành một góc có đỉnh là hướng dẫn viên.  Nên để những hội thảo viên nhút nhát ngồi gần hướng dẫn viên.

d/. Hướng dẫn viên :

Vai tṛ của hướng dẫn viên trong buổi họp hội thảo cũng giống như trong buổi họp nhóm : Tạo cơ hội cho mọi người phát biểu ư kiến, yêu cầu người phát biểu giải thích thêm ư kiến của ḿnh hoặc trưng bằng chứng ; ví dụ cụ thể, hướng cuộc thảo luận và những điểm mới hoặc trở lại đề tài chính, phân chia giờ cho hợp lư.

Giáo Lư Viên có thể làm hướng dẫn viên hoặc mời một người khác cũng được để thêm phần khách quan, vô tư.

e/. Chia giờ trong buổi họp hội thảo :

            - Hướng dẫn viên tŕnh bày vấn đề :   5 phút.

            - Các hội thảo viên thảo luận :                        30 phút.

            - Cử toạ đặt câu hỏi với hội thảo viên :          20 phút.

            - Hướng dẫn viên kết luận :                            5 phút.

Trong phần kết luận Giáo Lư Viên làm hai việc :

            * Nhận định về mỗi lập trường : ưu điểm + giới hạn.

            * Làm nổi bật những lư do biện minh và nền tảng đức tin của mỗi lập trường.

 

IV. ĐỐ VUI GIÁO LƯ

Nhằm kiểm tra học lực của học viên đồng thời tạo tinh thần thi đua học hỏi, chúng ta có thể tổ chức những cuộc thi ‘vui mà học, học mà vui’ gọi là đố vui Giáo Lư giữa các đội trong một lớp, giữa các lớp trong một họ đạo, giữa các họ đạo trong một hạt hay rộng hơn nữa . .

1- Cách tổ chức :

a/. Trước cuộc thi :

            - Soạn câu hỏi.

            - Mời người điều khiển (có thể chính là Giáo Lư Viên ).

            - Mời vài giám khảo (cho biết trước câu hỏi và đáp án).

            - Pḥng ốc, bàn ghế.

            - Chuông hoặc những mảnh thăm xếp nhỏ (tùy h́nh thức).

            - Bảng để ghi điểm số.

b/. Trong cuộc thi :

 Phải qui định trước một số luật lệ :

            - Ấn định số người thi trong một nhóm, có được thay không ? Lúc nào ? .

            - Ấn định số điểm cho mỗi câu hỏi.

            - Ấn định thời gian trả lời cho mỗi câu hỏi.

            - Có quyền bổ sung câu trả lời không ? Mấy lần ? Điểm ?

            - Trả lời sai th́ sao ?

(Ngoài ra, tùy theo h́nh thức tổ chức - bốc thăm - hái hoa dân chủ hay nghe đặt câu hỏi rồi bấm chuông ...  mà chúng ta có thể quy định thêm những luật lệ để chế tài cho phù hợp với từng h́nh thức).

Để cho bầu không khí thêm sinh động, vui tươi, nên động viên khán thính giả vỗ tay tán thưởng những câu nói đúng, bắt đầu một bài hát hoặc cho biết điểm số sơ khởi...

2- Cách đặt câu hỏi

Dùng chính những câu hỏi trong sách Giáo Lư của các em cũng được, nhưng để kích thích trí thông minh, nhạy bén và thận trọng của học viên, cũng nên mở rộng những ‘câu hỏi thi đua’.

- Câu hỏi tổng hợp (‘Tên mẹ Chúa Giêsu là ǵ ? Tại sao  bà được gọi là Mẹ Thiên Chúa’...).

- Câu hỏi sắp xếp (thứ tự thời gian các nhân vật, biến cố ...)

- Câu hỏi lựa chọn (chọn 12 tên thánh Tông Đồ trong một dăy tên nhân vật ...)

- Câu hỏi giải quyết một t́nh huống cụ thể.

- Câu hỏi đ̣i hỏi trí nhớ (Câu đó trong bài học nào  hoặc Thánh kư nào ghi lại ?  Chương mấy ? ... Tiếp theo câu đó hay trước câu đó là ǵ?...)

- Câu hỏi suy luận (‘Tổ phụ Abraham có bao nhiêu cháu nội ? ...’)

- Câu hỏi áp dụng (‘Chúa Giêsu chữa lành 10 người cùi mà chỉ có một người đến cám ơn Chúa. Điều đó dạy cho em bài học ǵ ? ...’)

- Câu hỏi thực hành (‘Em hăy phát biểu một lời cầu nguyện tự phát, xin Chúa chúc lành cho Cha Sở’).

- Câu hỏi đánh lạc hướng (‘Tại sao Chúa Thánh Thần lại lấy h́nh chim bồ câu đậu xuống các Tông Đồ trong ngày lễ Ngũ tuần ?’...)

- Câu hỏi có vật dụng bên ngoài phụ họa (‘Hăy chỉ Thành Bêlem nơi Chúa Giêsu sinh ra trên bản đồ nước Do Thái’...)

3- Lưu ư

- C̣n rất nhiều cách đặt câu hỏi khác nữa tùy sáng kiến của Giáo Lư Viên và tŕnh độ của học viên, nhưng trong mọi trường hợp câu hỏi phải luôn luôn có một đáp án đúng duy nhất.

- Khi tổ chức thi nên nhấn mạnh đến tinh thần đoàn kết, ham học hỏi và mở mang kiến thức chứ không phải v́ tính hiếu thắng, thích hơn thua để gây căng thẳng bất hoà ...

- Hiện nay, đài truyền h́nh đang phát chương tŕnh ‘Bảy sắc cầu vồng’. Là một áp dụng rất thành công h́nh thức này. Chúng ta có thể theo dơi và tham khảo.

 

V. TR̉ CHƠI GIÁO LƯ

Đối với trẻ em, tṛ chơi mang tính giáo dục rất cao và phong phú.  Hơn nữa, trong khi chơi, trẻ biểu lộ cung cách sống, con người thật và cả t́nh trạng sức khỏe nữa.

1- Phân loại tṛ chơi

- Dựa theo yêu cầu (tṛ chơi sáng tạo, vận động, thể thao ...)

- Dựa theo động tác (tṛ chơi luyện kỹ năng nghe, quan sát, trí nhớ, sự khéo léo tay chân...)

- Dựa trên sự vận động (tṛ chơi vận động : động - tĩnh...)

- Dựa trên số lượng người chơi (tṛ chơi cá nhân - đồng đội).

- Dựa vào nơi chốn (tṛ chơi ngoài trời - trong pḥng ...)

2- Lựa chọn tṛ chơi

 Đối với Giáo Lư, ư nghĩa và tác dụng của tṛ chơi phải đáp ứng được yêu cầu của việc dạy Giáo Lư.  Bởi đó khi lựa chọn tṛ chơi Giáo Lư phải lưu ư vài đặc điểm sau để lựa chọn :

- Tùy hoàn cảnh :

            + Nơi chốn : Trong lớp hay ngoài trời.

            + Số người : Lớp đông hay ít.

            + Độ tuổi : Lớp lớn hay lớp nhỏ.

            + Phái tính : Nam hay nữ (hoặc tất cả).

- Tùy theo tác dụng của tṛ chơi :

            + Vui, linh hoạt nhưng đừng quá nhiều sức lực (kẻo học viên bị mệt).

            + Chọn những tṛ chơi mà tất cả lớp cùng tham gia.

            + Chọn những tṛ chơi gần gũi hoặc minh họa cho đề tài Giáo Lư (nói về t́nh bác ái nên chơi tṛ tải thương, cứu thương thay v́ chơi tṛ bắn súng...)

- Tùy theo yêu cầu của việc giảng dạy Giáo Lư.

            + Minh họa cho bài Giáo Lư.

            + Xả hơi giữa hai buổi học, hội.

            + Rèn luyện kỹ năng nhân bản.

3- Hướng dẫn tṛ chơi (quản tṛ)

Sự thành công hay thất bại của một tṛ chơi tùy thộc rất nhiều vào nghệ thuật tŕnh bày và cách tổ chức của quản tṛ.

-Tŕnh bài tṛ chơi.

            + Chọn và nắm vững tṛ chơi.

            + Chuẩn bị điạ điểm và vật dụng (nếu có).

            + Giới thiệu, giải thích chậm răi và rơ ràng cho các em hiểu cách chơi, diễn tiến và luật lệ.

- Hướng dẫn tṛ chơi :

            + Phải công bằng, đề cao kỷ luật và tôn trọng tập thể  cũng như trọng tài (nhất là người bị phạt).

            + Khích lệ những người c̣n e ngại, chưa nhập cuộc.

            + Kết thúc tṛ chơi lúc đang hứng khởi nhất.

 

VI. DIỄN KỊCH - HOẠT CẢNH

So với một bài Giáo Lư th́ h́nh thức này giáo dục bằng thị giác hơn là thích giác. Nó làm sống lại những ǵ đă học được nhờ đó nhớ lâu hơn và hiểu rơ hơn.

1- Vài h́nh thức

Tùy theo khả năng và nơi chốn mà ta có thể sử dụng các h́nh thức khác nhau :

- Giáo Lư Viên viết kịch bản rồi tập dợt cho các học viên ; hoặc các học viên tự làm lấy, Giáo Lư Viên duyệt trước khi diễn.

- Các diễn viên có thể đối thoại trực tiếp bằng lời nói khác nhau (kịch nói) hay chỉ làm những cử điệu dễ hiểu (kịch câm) hay chỉ ra điệu bộ, người khác ở trong hậu trường đọc lời đối thoại (hoạt cảnh).

- Hoạt cảnh hoạt diễn kịch bằng bóng (buổi tối) : Các nhân vật đứng bên trong màn, h́nh ảnh và cử điệu nổi lên trên màn nhờ một bóng đèn pha. Người xem chỉ thấy bóng các nhân vật.

2- Vài h́nh thức

- Các diễn viên đóng các vai Chúa, Đức Mẹ, các Thánh ... nên nghiêm trang tề chỉnh, không nên giễu cợt làm mất sự  tôn kính.

- Các buổi diễn này thường ồn ào, gây mất trật tự, cần phải có sự chuẩn bị tập dợt trước.

- Một kinh nghiệm riêng : Các em được chọn làm diễn viên rất thích được hóa trang. Giáo Lư Viên nên nhắc nhở và kiểm tra các em, đừng quan trọng quá nó, chỉ nên đơn giản thôi (nếu không tự các em hoá trang sẽ rất kỳ dị, cổ quái, không xứng hợp).

 

 

 


Chương ba

 

  

TRƯỚC VÀ SAU MỘT BÀI GIÁO LƯ 

 

'

I. TRƯỚC MỘT BÀI GIÁO LƯ

Dạy Giáo Lư cũng không phải là một công việc không đi ngoài quy luật chung : Muốn gặt hái được thành quả (hoặc ít ra là để hạn chế bớt sự thất bại) cho công việc ǵ, cần phải có sự chuẩn bị.  Kết quả và chất lượng của công việc phụ thuộc rất nhiều vào thời gian chuẩn bị này.

1- Chuẩn bị xa

a/. T́m hiểu thính giả :

‘Biết ḿnh biết người, trăm trận trăm thắng’ (Tôn Tử).

Trước khi dạy Giáo Lư, Giáo Lư Viên cũng nên t́m hiểu kỹ lưỡng các học viên của ḿnh về mọi phương diện nhưng cần lưu ư nhất các mặt : môi trường sống, nền giáo dục, lứa tuổi và tâm lư của lứa tuổi ... Sẽ tốt hơn biết mấy, nếu sự hiểu biết đó đi sâu đến từng học viên một.

b/. Cầu nguyện :

‘Không có Thầy chúng con không làm ǵ được’ (Jn 15.5 )

Cầu nguyện cho các em học viên của ḿnh hiều và thực hành được điều ḿnh giảng và cầu nguyện cho chính ḿnh nữa để ḿnh giảng cho các em đúng những điều mà Thiên Chúa muốn nói với  các em.

2- Phác họa chương tŕnh chung

Mỗi bài Giáo Lư là một phần của chương tŕnh chung kéo dài có thể từ ba tháng đến một năm.  Về phía Giáo Lư Viên cũng cần biết rằng ḿnh sẽ đưa các em tới đâu ; c̣n các học viên, càng lớn th́ đ̣i hỏi về mặt tri thức càng cao : Các em cũng muốn biết sẽ học hỏi những điều ǵ, những ǵ tiếp theo sẽ được đề cập tới và liên quan thế nào với nhau...

Hiện nay, Giáo Lư Viên thường ít làm việc này v́ chương tŕnh chung đă được phác họa từ trước trong các giáo tŕnh in sẵn. Tuy nhiên, cũng nên nghiên cứu kỹ lưỡng trước để hiểu thấu được ư của người soạn chương tŕnh (mục đích, sự tiến triển của chương tŕnh...).  Nhưng một khi phải đụng đến nó để khỏi lúng túng, chúng ta nên phác họa theo một trong hai hướng như sau (tùy theo những ǵ mà chúng ta biết được ở phần t́m hiểu thính giả ở trên) :

a/. Chương tŕnh chung được phác họa dựa trên nhu cầu luận lư trừu tượng :

- Hướng này thường sử dụng phương pháp diễn dịch của thần học, chỉ thỏa măn những đ̣i hỏi của lư trí chứ không lay động tâm hồn, chỉ phù hợp với các em lớn, người lớn hoặc những ai quen suy luận.

- Thí dụ : Nói về Giáo Hội, theo hướng này, chúng ta sẽ phác họa như sau :

            * Mầu nhiệm Giáo Hội (thành lập - bản chất - đặc tính ...)

            * Sứ mạng của Giáo Hội (truyền giảng - thánh hoá - quản trị ...)

b/. Chương tŕnh chung được phác họa dựa trên nhu cầu tâm lư cụ thể :

- Hướng này cách tŕnh bày tuy không chặt chẽ bằng hướng thứ nhất nhưng thực tế và phù hợp với tâm lư thanh thiếu niên muốn biết vấn đề liên quan đến ḿnh như thế nào ... Cách tŕnh bày này thiên về nghệ thuật hơn kỹ thuật.           

- Thí dụ : Cũng với đề tài Giáo Hội, chúng ta sẽ phát họa như sau :

            * Chúng ta (và mọi người) nghĩ ǵ về Giáo Hội, có đúng với ư định của Thiên Chúa không, thật sự Giáo Hội là ǵ ? ...

            * Chúng ta tham dự vào Giáo Hội như thế nào, làm ǵ trong Giáo Hội, giúp ích ǵ cho Giáo Hội ? ...

            * Giáo Hội giúp ích ǵ cho chúng ta, cho con người, cho xă hội, cho thế giới ?...

            * Các thành phần trong Giáo Hội khác nhau thế nào, có cần đến nhau không, có bổ túc cho nhau không ?...

            * Những người chưa gia nhập Giáo Hội th́ sao ?...

            * Tại sao Công đồng  Vatican II đ̣i phải ‘trẻ hóa và canh tân Giáo Hội’ ?...

3- Chuẩn bị gần

a/. Soạn bài Giáo Lư :

- Cần phải nắm vững ba yếu tố sau đây để soạn một bài Giáo Lư :

                        * Chủ đề của bài Giáo Lư.

                        * Nội dung của bài Giáo Lư.

                        * Tâm t́nh của học viên đối với nội dung của bài  Giáo Lư.

            + Chủ đề của bài Giáo Lư : Điều này rất dễ xác định v́ thông thường nằm ở tựa bài.  Tuy nhiên cũng nên nh́n nó trong toàn bộ chương tŕnh chứ đừng tách độc lập nó ra khỏi chương tŕnh chung.

            + Nội dung của bài Giáo Lư :  Đă xác định được chủ đề của bài rồi nhưng c̣n phải xác định cả nội dung của nó nữa.  (Thí dụ : Chủ đề của bài Giáo Lư là : Bí Tích Thánh thể, nhưng khi tŕnh bày sẽ có nhiều lối nh́n và góc cạnh khác nhau :  Lương thực cho linh hồn, phương thế hiệp thông với Thiên Chúa và với anh em...)

            + Cuối cùng chúng ta lưu ư đến tâm t́nh của học viên sẽ có đối với nội dung đó (Thí dụ : các em sẽ có tâm t́nh biết ơn Chúa, cảm tạ Chúa và yêu mến Chúa v́ đă dùng Thịt và Máu để làm của nuôi linh hồn ta ...).

- Khi nắm vững ba yếu tố trên, Giáo Lư Viên cứ theo hướng đó sẽ rất dễ dàng để soạn ra một dàn bài Giáo Lư.

- Có thể soạn ra giấy và viết thành văn, nhất là những Giáo Lư Viên mới (dù rằng không cần thiết phải ‘đọc’ đúng những lời ḿnh đă viết).  Sẽ có những lợi điểm :

            * Không ứng khẩu thiếu mạch lạc hay thiếu nội dung.

            * Khi viết ra giấy, một lần nữa bài soạn được sàng lọc kỹ lưỡng, nhờ đó bài Giáo Lư sẽ gọn gàng, súc tích.

            * Không bị ngắt quăng nữa chừng (v́ không liên kết được các ư với nhau),  dễ thích ứng với học viên và có những minh hoạ dí dỏm ...

b/. Chuẩn bị giáo cụ :

- Giáo cụ là những dụng cụ hỗ trợ hay minh hoạ cho một bài Giáo Lư như : bản đồ, tranh ảnh, phấn màu ... thậm chí cả cessette, vidéo hay những vật dụng khác có liên quan trực tiếp đến nội dung Giáo Lư.

- Giáo cụ có thể do Giáo Lư Viên tự t́m kiếm, sáng tạo làm lấy hoặc có thể do các em học viên.

- Nếu biết khai thác tối đa tác dụng của Giáo Lư rất nhiều v́ đă sử dụng đến hai phương pháp đồng thời : thính và thị.  Ngoài ra, về khía cạnh tâm lư các em học viên khi nh́n thấy các giáo cụ luôn thay đổi sẽ có một cảm giác bài Giáo Lư luôn mới mẻ và hấp dẫn (Tâm lư này cũng sẽ có, khi ta luôn làm vệ sinh pḥng lớp, bàn ghế ngăn nắp gọn gàng và nhất là trang trí lớp học).

c/. Cầu nguyện :

Điều không thể thiếu nữa là vài phút để dâng cho Chúa giờ Giáo Lư mà chúng ta sắp dạy ngay khi chúng ta đang trên đường đi đến lớp.  Đây cũng là bước quan trọng không thể bỏ qua trong việc chuẩn bị cho một giờ Giáo Lư.

 

II. SAU MỘT BÀI GIÁO LƯ

a/. Sau khi đă tiễn các học viên của ḿnh ra khỏi lớp : 

Một việc làm không hề dư thừa nữa là tạ ơn Chúa về giờ Giáo Lư đă qua ...

b/. Nhận xét - đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm :  

Điều này thật hệ trọng không những chỉ đối với các Giáo Lư Viên mới mà thôi ...

Trường hợp giờ Giáo Lư vừa rồi chỉ một ḿnh ta phụ trách th́ hơi khó một chút, nhưng nếu có hai ba Giáo Lư Viên th́ hiệu quả sẽ rất cao v́ những nhận xét sẽ phong phú hơn, sự lượng giá sẽ chính xác hơn và những kinh nghiệm được rút ra sẽ quí báu hơn ... (Do đó rất cần thiết để các Giáo Lư Viên ngồi lại với nhau để đúc kết sau giờ Giáo Lư).

- Nhận xét :

            + Về Giáo Lư Viên : Nội dung có phù hợp với chủ đề, cách tŕnh bày hay chưa, ngôn từ tác phong, những phần phụ (sinh hoạt chép bài... ) có liên kết hay minh họa cho chủ đề ? ...

            + Về phía học viên : Kỷ luật, chú ư tham gia một cách linh động, hiểu bài, tâm t́nh các em ..., các học viên đặc biệt ...

            + Về hoàn cảnh : Bầu khí tĩnh lặng hay sôi động, có mang một chút màu sắc tôn giáo, môi trường bên ngoài có phù hợp, địa điểm có thích hợp ? ...

- Rút kinh nghiệm : Đối với những nhận xét tích cực, những điều hay điểm tốt ... ta nên duy tŕ và phát huy như thế nào ?. Ngược lại, với những tiêu cực, ta nên tránh để không xảy ra hay bài trừ bằng cách nào ? ...

- Lượng giá : Căn cứ vào bầu khí tôn giáo trong lớp học và thái độ đáp ứng của các em, cả  đời sống thiêng liêng lẫn đời sống nhân bản.

c/. Đôi điều tâm niệm :

- Việc biến đổi, hoán cải tâm hồn mọt con người là công việc của Chúa Thánh Thần, c̣n Giáo Lư Viên chỉ là một phát ngôn viên, là công cụ.

- V́ là dụng cụ nên Giáo Lư Viên phải luôn ở trong t́nh trạng sẵn sàng, đựơc mài dũa sắc bén và hữu dụng để khi cần, bất kỳ khi nào và ở đâu cũng điều có thể đáp: ‘Này con đây, xin hăy sai con!’ (Is 6.8)

- Khi công việc có vẻ tiến triển rơ rệt, nên nhớ thành quả đó là của Chúa, đừng tự phụ kiêu căng. - ‘Tôi trồng, Apollo tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho cây mọc lên’ (1 Cor 3.6).

- C̣n khi công việc tŕ trệ, có vẻ không đạt kết quả như ư th́ cũng đừng nản ḷng một khi đă làm hết sức ḿnh. Hăy nhớ lời Cha Rey Mermet : ‘Lạy Chúa, được cộng tác với Chúa, con thật hănh diện, con sẽ cố gắng hết sức ḿnh... thành công th́ Chúa hưởng, thất bại th́ Chúa chịu, phần con chỉ xin được hưởng ơn cứu độ’.

 

 


 

Chương bốn

 

  GIÁO LƯ DỰ T̉NG

 

  ?

Đây là một mảng lớn trong việc dạy Giáo Lư thường hay bị các Giáo Lư Viên ở các họ đạo bỏ ngỏ v́ nhiều lư do :  Ngăn trở thời gian, địa điểm, tuổi tác hay v́ thiếu kinh nghiệm và nhiều ngăn trở khách quan khác...

 

I. NHỮNG KHÓ KHĂN

1- T́nh trạng đa tạp

- Về hoàn cảnh : Mỗi dự ṭng đều khác nhau về tŕnh độ văn hoá, vị trí xă hội, quan điểm - kiến thức về tôn giáo, thời gian dự lớp và môi trường sống nói chung.

- Về lư do ṭng giáo : Mỗi dự ṭng được nghe tiếng Chúa gọi và t́m đến với Giáo Hội bằng một con đường riêng với những khó khăn và thuận lợi riêng.

2- Biệt vị tính

- Với t́nh trạng đa tạp như trên khó ḷng cho Giáo Lư Viên có thể dạy chung từng nhóm dự ṭng với một khuôn mẫu nhất định được.

- Ngoài ra, dạy Giáo Lư cho dự ṭng không phải là chỉ đơn thuần dạy ‘lẽ đạo’ như nhiều người lầm tưởng mà phải là một công cuộc giáo dục thiêng liêng toàn diện.

3- Trở ngại về ngôn ngữ

- Về phía người dự ṭng : Với họ những từ ngữ hay kiểu nói rất thông dụng của người tín hữu (như : cứu rỗi, ân sủng, Nước Thiên Chúa . . .) nhất nhất đều lạ lẫm và không gợi lên được một âm hưởng ǵ.  Ngược lại, v́ c̣n đang do dự, xúc động, ḍ dẫm... nên họ cũng rất khó khăn khi diễn tả một cách rơ ràng những cảm nghĩ của họ.

-Về phía Giáo Lư Viên : cũng thật là khó khăn khi phải t́m từ ngữ dễ hiểu và tương đương khác để nói về một khái niệm tôn giáo hoặc phải giải thích cặn kẽ những từ ngữ tưởng chừng hết sức quen thuộc.

 

II. CÔNG VIỆC CỦA GIÁO LƯ VIÊN

Cuộc tiếp xúc lần đầu rất quan trọng v́ :

- Qua Giáo Lư Viên, người dự ṭng nầy chính thức gặp gỡ Giáo Hội lần đầu tiên (cho dù trước đó họ đă biết ít nhiều).

- Tâm tư của người dự ṭng lúc đó rất phức tạp đa nghi nhưng hiếu kỳ, e ngại nhưng hy vọng ...  Tất cả trộn lẫn với nhau và ấn tượng của buổi tiếp xúc ban đầu sẽ c̣n măi nơi họ.

- Do vậy, trong cuộc gặp gỡ lần đầu này, Giáo Lư Viên không nên xă giao một các gượng ép hay giả tạo nhưng nên tự nhiên và cởi mở để người dự ṭng có thể cảm thấy thoải mái nhận ra ngay rằng : Giáo Lư Viên này là người đáng tin cậy.

- Giáo Lư Viên cũng nên tỏ ra chín chắn, không nên coi thường những lo lắng, băn khoăn của người đến với ḿnh.

2- Thanh luyện lư do ṭng giáo

a/. T́m hiểu lư do ṭng giáo :

- Có nhiều lư do.

            + Khao khát chân lư (trí thức).

            + Làm lại cuộc đời (luân lư).

            + Vẽ đẹp của tôn giáo (nghệ thuật).

            + Đi t́m lư tưởng .

            + Gương bác ái và phục vụ của các Kytô Hữu.

            + Xin ơn và được như ư.

            + Kết hôn.

- Không phải mỗi dự ṭng có ư định ṭng giáo chỉ v́ một lư do duy nhất, có thể có nhiều lư do, nhưng chắc chắn có một lư do chủ chốt làm khởi điểm hoặc kéo theo.

- T́m hiểu lư do ṭng giáo là việc cần thiết và ít lợi cho cả hai :

            + Phía Giáo Lư Viên hiểu rơ hơn dự ṭng để dễ hướng dẫn.

            + Phía dự ṭng có dịp suy nghĩ lại để biết, ư thức và xác tín rơ hơn sự lựa chọn của ḿnh và con đường ḿnh muốn theo.

- Nên lưu ư : Việc t́m hiểu này nên tế nhị và kín đáo và có thể sẽ mất nhiều thời gian.

b/. Thanh luyện lư do ṭng giáo :

Rất có thể ban đầu dự ṭng có ư định ṭng giáo v́ một lư do rất phụ thuộc hoặc chưa hoàn toàn trong sáng.

- Một mặt Giáo Lư Viên phải gây ư thức, thanh luyện và gợi lên những lư do chính yếu, khẩn thiết và đơn thành hơn.

- Mặt khác cũng chớ nên coi thường những lư do đó, v́ Thiên Chúa có thể dùng những việc nhỏ để làm khởi điểm dẫn tới việc to lớn hơn.

3- Huấn luyện toàn diện

Nơi người dự ṭng, Giáo Hội muốn thực hiện một cuộc đổi đời toàn diện để gia nhập Nước Thiên Chúa.

Công đồng Vatican II nêu rơ : Thời kỳ Giáo Lư dự ṭng phải đáp ứng ba mục tiêu :

            + Dạy chân lư đức tin (tín lư).

            + Tŕnh bày giới luật (luân lư).

            + Huấn luyện đời sống, tập sống đời Kytô hữu (sem AG - Sắc lệnh Truyền giáo số 14).

Chúng ta có thể chia ra thành hai giai đoạn : Chuẩn bị tâm hồn và dạy Giáo Lư (Pré-Catéchèse et Catéchèse).

a/. Chuẩn bị tâm hồn :

Trong giai đoạn đầu, Giáo Lư Viên chưa thể đề cập trực tiếp đến mầu nhiệm Kytô giáo được, nhưng phải đặt nền tảng trước bằng cách sử dụng những điểm tựa tự nhiên.

- Trao đổi với dự ṭng về những kinh nghiệm sống, những vấn đề tổng quát liên quan đến con người (như : hạnh phúc và đau khổ, thành công và thất bại, sự sống và cái chết ...).  Đào sâu và phân tích kỹ sẽ đụng phải tôn giáo và bắt gặp được Tin Mừng của Chúa Giêsu.  Đó là cách gián tiếp t́m hiểu tôn giáo.

- Người dự ṭng thế nào cũng có nhiều thắc mắc riêng tư, nhất là về tôn giáo ...  Đây chính là lúc giải quyết dứt điểm và thỏa đáng những ưu tư đó ...

Như vậy, giai đoạn này có tính cơ hội : dùng những ưu tư và kinh nghiệm sống của chính dự ṭng làm khởi điểm cho những suy tư và trao đổi.

b/. Dạy Giáo Lư :

Khi các vấn nạn đă được giải quyết (con đường đă mở) cần chuyển sang giai đoạn dạy Giáo Lư.

- Tŕnh bày chân lư đức tin một cách có hệ thống và mạch lạc, tức là các chân lư phải được sắp đặt sao cho ăn khớp với nhau và theo thứ tự trước sau.

- Những ǵ đă được diễn giải trong giai đoạn chuẩn bị cũng được sát nhập vào hệ thống nầy.

- Một lưu ư : Khi tŕnh bày mỗi chân lư vẫn phải dựa vào kinh nghiệm cụ thể của dự ṭng mà giảng giải.

c/. Cộng đoàn dự ṭng :

Bên cạnh giai đoạn dạy Giáo Lư, cũng nên tập cho các dự ṭng làm quen với phụng vụ, rèn luyện tinh thần mỗi tông đồ, tập sống đời Kytô hữu, cầu nguyện ... để mỗi dự ṭng ḥa ḿnh vào đời sống Giáo Hội và được nâng đỡ hữu hiệu bằng cách tổ chức công đoàn dự ṭng.

- Cộng đoàn này gồm : Các dự ṭng đang học đạo, linh mục hướng dẫn, Giáo Lư Viên, những người đỡ đầu, những tín hữu nhiệt thành và cởi mở ... và sẽ tốt hơn nữa nếu có cả các tân ṭng.

- Cộng đoàn này có một số sinh hoạt chung :

            + Cầu nguyện hay suy niệm, suy tôn lời Chúa.

            + Học hỏi chung về một vấn đề.

            + Bàn cách làm việc tông đồ hữu  ích.

            + Trao đổi những kinh nghiệm, thắc mắc hay cảm nghĩ với linh mục, Giáo Lư Viên hay người đỡ đầu.

            + Gặp gỡ thân mật (tại một gia đ́nh).

@  Có hai kinh nghiệm riêng :

            * Các dự ṭng dễ hiểu nhau, dễ trao đổi với nhau v́ cùng một hoàn cảnh, nhưng đồng thời cũng rất khác nhau về tính t́nh, kinh nghiệm, giáo dục ... nên các cuộc trao đổi giữa cộng đoàn này rất lư thú, phong phú, bổ ích và tạo nên một t́nh bạn chân thành.

            * Phải hết sức cẩn thận, nếu không có thể gây ra hiểu lầm (nhất là khi các dự ṭng đă trở thành tân ṭng) : Một họ đạo có hai ‘Giáo Hội’: Giáo Hội đạo gốc và Giáo Hội đạo mới !.

            v Cũng cần lưu ư : Không phải khi các dự ṭng đă được gia nhập Giáo Hội bằng các Bí Tích khai tâm là Giáo Lư Viên đă ‘hết nhiệm vụ’, ‘hết trách nhiệm’.

 

III. CHƯƠNG TR̀NH GIÁO LƯ DỰ T̉NG

Để soạn Giáo Tŕnh cho dự ṭng, người ta thường sử dụng một trong bốn lược đồ :

            + Lược đồ Lịch sử.

            + Lược đồ Phúc âm.

            + Lược đồ Phụng vụ.

            + Lược đồ Kinh Tin Kính.

Bốn lược đồ này chỉ khác nhau về bố cục và cách tŕnh bày, nhưng nội dung chỉ là một.

1- Lược đồ lịch sử

a/. Sơ lược :

Các chân lư đức tin được tŕnh bày theo thứ tự thời gian :

- Thiên Chúa tạo dựng con người và muôn vật để được hạnh phúc.

- Con người không đi theo đường lối của Thiên Chúa (Tội).

- Thiên Chúa không bỏ rơi con người nhưng hứa cứu độ con người.

- Thiên Chúa chuẩn bị ơn cứu độ (sơ lược về lịch sử Israel).

- Thiên Chúa sai con ḿnh xuống thế thực hiện ơn cứu độ con người (cuộc đời, giáo huấn, sự chết và sống lại của Chúa Giêsu để cứu độ).

- Giáo Hội tiếp tục công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu (nhiệm vụ và hoạt động của Giáo Hội, phụng vụ và Bí Tích).

- Đời sống Kytô hữu (Tin-cậy-mến, Bát phúc, Cầu nguyện).

- Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang đưa ta vào Thiên quốc.

b/. Ưu và khuyết điểm :

- Lược đồ này thích hợp cho người trí thức, thích những ư tưởng minh bạch, mạch lạc, suy luận căn cứ trên những sự kiện cụ thể; Ngược lai, người  không quen quay lại với quá khứ hoặc không quen suy luận sẽ cảm thấy nhàm chán và xa lạ.

- Phần chuẩn bị ơn cứu độ (Cựu Ước) dài và phức tạp, để lấn át phần chính yếu là phần thực hiện ơn cứu độ (Tân Ước).

- Những biến cố lịch sử dồn dập và chồng chất dễ che khuất đi ư nghĩa của chúng.

c/. Cách dùng :

- Trong phần Cựu Ước nên tóm gọn, bỏ qua các sự kiện phụ thuộc và chi tiết, chỉ giữ lại vài biến cố chính yếu; C̣n phần Tân Ước phải dài hơn và đầy đủ hơn.

- Khi nói về các biến cố trong Cựu Ước, nên tŕnh bày rơ những biến cố đó được thực hiện trong Tân Ước như thế nào.

- Ngay từ đầu phải cho thấy Chúa Giêsu là Đấng thực hiện ơn cứu độ.

 

2- Lược đồ Phúc âm

a/. Sơ lược :

Bắt đầu từ chính Chúa Giêsu, con người và cuộc đời của Ngài, rồi trở ngược lại Cựu Ước  để tŕnh bày những ǵ xảy ra và báo trước về Ngài; Sau đó chuyển qua Giáo Hội ngày nay tiếp tục như thế nào.

b/. Ưu và khuyết điểm :

- Lược đồ này không mạch lạc và bao quát nhưng hấp dẫn và cụ thể. Các sách Tin Mừng là khởi điểm thuận tiện, đặt người dự ṭng trước một nhân vật sống động.

- Lược đồ này rất thích hợp cho người chất phác, đơn sơ.

c/. Cách dùng :

- Chọn một  sách Tin Mừng làm đầu bài rồi bổ túc bằng các sách Tin Mừng khác (không cần phải đi từng trang hay từng chương sách, chỉ cần lấy những đoạn chính, tóm tắt và giảng dạy những đoạn khó hiểu).

- Nên gom thành từng mục những tŕnh bày về Chúa Giêsu (Ngài là ai? Ngài sống như thế nào ? Giáo huấn của Ngài về Thiên Chúa và về con người ? Thái độ của Ngài đi với Chúa Cha, với mọi người và với từng hạng người ? Ngài thực hiện công cuộc cứu độ bằng lời giảng, cái chết Phục sinh, ban Thánh Thần ? ...)         

- Có thể bổ túc thêm bằng sách Công Vụ Tông Đồ và các Thư.

- Lược đồ này đ̣i phải soạn bài kỹ lưỡng hơn.

3- Lược đồ Phụng vụ

a/. Sơ lược :

Tŕnh bày nội dung Giáo Lư theo chu tŕnh các lễ trong năm Phụng vụ.

b/. Ưu và khuyết điểm :

- Lược đồ này rất cụ thể và cho thấy mối tương quan mật thiết giữa công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu và sinh hoạt của Giáo Hội, nhưng cũng có bất lợi là không thể áp dụng cho các dự ṭng tham dự lớp Giáo Lư vào đầu năm Phụng vụ hoặc không có giờ tham dự phụng vụ cũng như  tham dự phụng vụ không đều đặn.

- Ngoài ra, một bất lợi nữa là có nhiều mầu nhiệm được phụng vụ cử hành dồn dập trong khoảng thời gian ngắn, do đó chương tŕnh Giáo Lư không theo kịp và mất cân đối.

c/. Cách dùng :

- Đối với thánh lễ, ban đầu chỉ nên chú trọng đến các bài đọc, các lời nguyện, rồi dần dần mới đi vào ư nghĩa thánh lễ.

- Đối với các nghi lễ, nên quan tâm đến ư nghĩa của mầu nhiệm và phụng vụ mừng kính thay v́ chi tiết lễ nghi.

- Tạm thời có thể phân phối chương tŕnh Giáo Lư theo năm phụng vụ như sau :

            + Mùa vọng + Giáng sinh       :           Cựu Ước.

            + Lễ Hiển linh đến Phục sinh :            Tân Ước.

            + Sau hiện xuống :                              Giáo Hội và đời Kytô hữu.

4- Lược đồ Kinh Tin Kính

Dầu theo lược đồ nào, dự ṭng cũng phải thuộc Kinh Tin Kính, bởi kinh này bao gồm đầy đủ những chân lư tôn giáo nền tảng của một đức tin tông truyền ... Những điều chính yếu của các lược đồ trên cũng được gồm tóm trong kinh này.

- Với lược đồ này, sử dụng phương pháp diễn dịch th́ phù hợp hơn là quy nạp.

- Trong lược đồ này sẽ vấp phải một vài từ ngữ chuyên môn (như ‘Nhập thể’ ‘Đồng bản tính’ ...)  Giáo Lư Viên phải t́m những kiểu nói dễ hiểu và cụ thể để giải thích.

 

Chương năm

  

TÂM LƯ CHUNG CỦA CÁC HỌC VIÊN GIÁO LƯ

  

­

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tâm lư con người, nên chúng ta chỉ lướt qua để đi thẳng đến điều cần xem kỹ là :  Tâm lư chung nơi các học viên của chúng ta theo từng lứa tuổi (và đặc biệt quan tâm đến lứa tuổi thanh thiếu niên hơn).

 

I. TÂM LƯ CHUNG CỦA TRẺ TỪ 3-6 TUỔI

#  Đây là lứa tuổi đơn sơ, hồn nhiên và dễ thương nhất, nhưng dạy Giáo Lư cho lứa tuổi này không phải là chuyện dễ.

1- Đây là lứa tuổi mà thế giới bị thu gọn tối đa trong một cặp “mẹ-con, con-mẹ” (do đó ta thấy phần đông là các cô dạy Mẫu giáo). Lứa tuổi này là lứa tuổi phó thác, tin tưởng hoàn toàn nơi cha mẹ. ( V́ lẽ đó mà Chúa Giêsu đă nói : “Nước Trời dành cho những ai giống như chúng ” Mc 10.14 - giống ở việc phó thác và tin tưởng tuyệt đối.)

2- Lứa tuổi này sống trong sự thần tiên huyền diệu, trong một thế giới mà ư muốn là toàn năng. Thích làm tṛ vui và pha tṛ duyên dáng, rất đỗi trẻ con.

3- Chính v́ sự thần tiên đó mà lứa tuổi này muốn là trung tâm điểm của vũ trụ muốn người khác chú ư, v́ vậy rất độc tài ; hay ganh tỵ và hờn mát nếu không thỏa măn tự ái.

4- Lứa tuổi này hay bắt chước, nhất là bắt chước cha mẹ, (bắt chước cả lời ăn tiếng nói lẫn hành vi cử chỉ) đồng thời rất hay đặt câu hỏi ‘tại sao’.

# Tóm lại : Lứa tuổi này như một tờ giấy trắng, rất dễ ghi lên đó những ǵ ta muốn; tuy nhiên, phải hết sức thận trọng : những lời nói hay cử chỉ của ta (dù là vô t́nh) đều được trẻ con copy nhanh chóng.

 

II. TÂM LƯ CHUNG CỦA TRẺ TỪ 7-8 TUỔI

#  Đă bắt đầu vào ‘tuổi khôn’ mà theo qui định của Giáo hội, trẻ đă có thể nhận lănh các Bí tích Giải tội, Thánh Thể, Thêm sức.

1- Lứa tuổi này trẻ đă nhanh chóng phân biệt được chuyện thần tiên và chuyện thật cũng như phân biệt được điều thiện và điều ác.

2- Lứa tuổi đă biết suy nghĩ, chín chắn hơn một chút dù c̣n rất ham vui. Thích t́m hiểu và đă biết so sánh (so sánh các ư kiến với nhau, so sánh những ǵ đă học được với thực tế, so sánh lời nói với việc làm của người khác).

3- Lứa tuổi đă bắt đầu đi học nên tính cộng đoàn, đồng đội, bạn bè cũng bắt đầu phát triển.  Dễ sống ḥa đồng nhưng cũng muốn biết người khác nghĩ ǵ về ḿnh.

4- Lứa tuổi thích thưởng thức các vẻ đẹp thiên nhiên, biết hướng nội.  Các cảm quan về tôn giáo đă trỗi dậy nên nhạy cảm với những vấn đề thiêng liêng, mầu nhiệm.

# Tóm lại : Ở lứa tuổi này, tâm t́nh tôn giáo đă chớm nở.  Những ǵ thuộc về đức tin mà trẻ học được hầu như sẽ được nó mang theo rất lâu sau này.  Đây là một giai đoạn rất quan trọng đối với các Giáo Lư Viên (nhất là các Giáo Lư Viên phụ trách các lớp xưng tội rước lễ vỡ ḷng) trong việc dạy cho các em tôn thờ và tin yêu Chúa Giêsu Thánh Thể.

 

III. TÂM LƯ CHUNG CỦA TRẺ TỪ 10-12 TUỔI

#  Đây là lứa tuổi mà chúng ta dễ nhận ra tâm tính, tánh t́nh của chúng nhất.

1- Lứa tuổi này thường hướng ngoại, thích hoạt động và khám phá, do đó dễ bị ngoại cảnh lôi cuốn.

2- Lứa tuổi chú trọng đến chuyện công bằng nên thiên về luật lệ (khi chơi th́ chú trọng luật chơi, khi học th́ để ư đến tính toán, văn phạm...). V́ vậy trẻ đă bỏ hẳn những chuyện thần tiên nhưng đồng thời lại ưa thích chuyện phiêu lưu mạo hiểm.

3- Lứa tuổi này trí nhớ đă phát triển mạnh bên cạnh những vấn đề thuộc phái tính. Tuy nhiên, chúng thường đánh giá nhau theo những tiêu chuẩn phụ thuộc bên ngoài (con trai : học giỏi, khỏe mạnh, chơi hay, ... con gái : tóc dài, mắt to ...).

4- Lứa tuổi đă có bạn thân, thường tụ tập thành nhóm chơi với nhau và rất dễ bị ảnh hưởng nhau.  Thích làm nổi (dù là tiêu cực) để khẳng định cái tôi của ḿnh trong nhóm hoặc trong một cộng đoàn.

#  Tóm lại : Phải hết sức tránh để trẻ bị bất măn, v́ lứa tuổi này là thế.  Các cử điệu không c̣n phù hợp nữa (đôi khi c̣n là điều cấm kỵ đối với một số em có tính mắc cỡ).  Cần hướng dẫn trẻ đi vào chiều sâu hơn là h́nh thức bên ngoài để các em có thể tự ḿnh khám phá ra Thiên Chúa.

 

IV. TÂM LƯ CỦA TRẺ TỪ 13-15 TUỔI

#  Đây là một lứa tuổi chuyển tiếp giữa trẻ con và người lớn.  Ưa kể chuyện mới xảy ra hôm qua bằng câu mở đầu : ‘Hồi đó ḿnh c̣n nhỏ...’  Lứa tuổi này nổi tiếng là khó dạy và vô kỷ luật, đ̣i hỏi các nhà giáo dục phải hết mực lạc quan, khéo léo và thạo tâm lư.

1- Lứa tuổi này v́ không c̣n là trẻ nhỏ, nhưng lại chưa phải là người lớn ;  Mặt khác, sự phát triển mau chóng về mặt sinh lư làm cho trẻ mất quân b́nh về tâm lư.  Bên cạnh đó, ư thức về tự do cũng chớm nở nhưng lại c̣n vụng về nên thường tự vệ, bào chữa ..., cố vươn lên để chứng tỏ ḿnh khác với trẻ nhỏ nên sinh ra phê phán, chống đối (có khi chống đối công khai và rất có hệ thống).

2- Là lứa tuổi dậy th́ nên phái tính phát triển mạnh, tâm lư hay thay đổi (có khi là một đứa trẻ dễ bảo dễ thương, nhưng có khi làm ra vẻ người lớn bằng cách bướng bỉnh, bất tuân, chống đối ... ) Trẻ nam th́ hướng ngoại : thích lao động sáng tạo, rèn thể lực và ư chí, tập tính can đảm ..., các em nữ th́ lại hướng nội : Mộng mơ, t́nh cảm và hay làm dáng.

3- Lứa tuổi này thường sống với những ước mơ màu hồng và dám hy sinh quảng đại để biến những ước mơ đó thành hiện thực; nhưng lại cũng rất dễ nản ḷng khi thấy thực tế khác xa với những ǵ ḿnh mơ ước; ham thích nghệ thuật.  Hay thần thánh hoá nên có những thần tượng, những siêu sao điện ảnh, ca nhạc, thể thao ..., v́ vậy có thể ‘chết được’ nếu thần tượng của ḿnh bị sụp đổ.

4- Lứa tuổi này cũng có những hoài băo, những lư tưởng cao cả; v́ vậy cũng rất phù hợp để ươm trồng và phát triển ơn gọi (dù quan niệm về Thiên Chúa ở lứa tuổi này nh́n chung c̣n hời hợt và nông cạn).

Tóm lại : Lứa tuổi này đ̣i giảng viên phải có một sự mạch lạc trong Giáo lư, đồng thời chính bản thân Giáo Lư Viên phải tỏ ra ḿnh cũng đang theo đuổi một lư tưởng cao cả mới có thể khuyến khích được các em.  Bên cạnh đó bớt nhấn mạnh đến kỷ luật, vâng lời ... Sẽ rất nguy hiểm cho lứa tuổi này nếu ở xứ đạo nào mà sau khi đă Thêm sức xong, không có chưng tŕnh Giáo Lư tiếp theo hoặc không có hội đoàn, đoàn thể nào cho các em tham dự, tham gia.

 

V. TÂM LƯ CỦA TRẺ TỪ 16-18 TUỔI

#  Đây là lứa tuổi đă biết suy nghĩ, chín chắn, ham hiểu biết, tự chủ và lựa chọn.  Do đó đức tin ở trẻ đă có ư thức hơn; Tuy nhiên cũng v́ vậy mà trẻ gặp khó khăn thường xuyên hơn - có khi rất trầm trọng - trong lănh vực đức tin.

1- Lứa tuổi này thường hay đặt vấn đề và chỉ thỏa măn khi nào được giải đáp thật hợp lư và khúc chiết.  Những ǵ mà trẻ ở tuổi này khám phá ra th́ quan trọng hơn những ǵ mà chúng được học, bởi vậy ưa phê phán người khác, nhưng sự phê phán đó lại bị t́nh cảm chi phối.

2- Lứa tuổi này hay tuyệt đối hoá vấn đề và hay tự tín.  Hướng về tương lai hơn là chú ư đến thực tế thường nhật.  Các thần tượng đă bớt đi tầm ảnh hưởng, nhưng nơi trẻ lại có óc thủ lănh; đồng thời ở lứa tuổi này nam nữ đă bắt đầu biết tán tỉnh nhau để tiến tới t́nh yêu phái tính.

3- Ở lứa tuổi này trẻ vẫn rất kính phục những tấm gương sống tỏa sáng nhân đức, nhưng người có học vấn, tri thức lại rất quan trọng đối với trẻ.  Chúng chỉ chịu phục những ai hơn hẳn chúng về tri thức.  Hành động mà không nghĩ xa, không cân nhắc những hậu quả có thể xảy ra cũng là đặc trưng của tâm lư trẻ ở tuổi này.

4- Lứa tuổi này đă có ư thức được cái ‘tôi’ của ḿnh cùng với trách nhiệm và quyền lợi.  Hiểu chính xác hơn về tội lỗi và luật lệ, nhất là luật luân lư tự nhiên.  Nơi trẻ đă phát sinh những ước vọng hội nhập xă hội.  Thích t́m hiểu quá khứ, lịch sử; nhưng lại chỉ nh́n những biến cố xảy ra bằng đôi mắt chủ quan ...

Tóm lại : Ở lứa tuổi này, thích hợp nhất vẫn là những Giáo Lư Viên có được một tính cách tổng hợp: vừa là cha mẹ, vừa là thầy, vừa là một thủ lănh nhưng đồng thời là một người bạn tri kỷ của trẻ.  Các em rất cần được cảm thông, hiểu rơ tâm t́nh và nguyện vọng của chúng cũng như rất cần sự khích lệ, chia sẻ và nhất là gương sáng của ta.  Tuy nhiên người làm gương phải kín đáo, tế nhị, xóa bỏ ḿnh đi, nhất là tránh gây ảnh hưởng cá nhân hoặc biến ḿnh thành thần tượng cho trẻ (x. Jn 3. 30 : ‘Đức Kytô phải lớn lên, c̣n tôi phải nhỏ lại’).

 

VI. TÂM LƯ CHUNG CỦA LỨA TUỔI THANH NIÊN (18-25 TUỔI)

Lứa tuổi này dài hay ngắn rất khó xác định v́ c̣n phải tùy thuộc vào hai yếu tố quyết định : sự trưởng thành nội giới của mỗi người (chủ quan) và điều kiện xă hội (khách quan).

1- Ở tuổi này, bằng con đường văn hoá, thanh niên đă ư thức được rằng sự hiểu biết của họ chỉ là tương đối; bằng sự va chạm thực tế, họ cũng chân nhận : những mộng mơ và thực tế th́ khác xa nhau ... Do đó thanh niên đă dần dần sáng suốt hơn, thực tế và cũng giàu nghị lực hơn.

2- Thanh niên cũng là tuổi thường muốn tự khẳng định ḿnh, thích tự lập, không ngại khó khăn, dễ thích ứng, nhưng có nhiều tham vọng.  Họ muốn được người lớn tôn trọng và công nhận những giá trị mà họ mến chuộng.  Họ thích chinh phục nhưng không hề muốn muốn bị chinh phục.  Nơi họ, t́nh bạn không chỉ đơn thuần chỉ là qua lại nhà nhau chơi.

3- Cũng ở tuổi này, đa số thanh niên thường có những âu lo trên con đường hôn nhân và chức nghiệp.  Cũng chính các hoạt động này đă choán hết chỗ đứng của các hoạt động tôn giáo, nên v́ thế mà thanh niên là lứa tuổi hay bị vơ đoán rằng rất ‘khô đạo’.

4- Nếu thành công trên đường hôn nhân và chức nghiệp th́ người thanh niên kể như đă trưởng thành và đă khẳng định được chỗ đứng của ḿnh trong xă hội.  Ngược lại, khi bị thất bại, thanh niên sẽ chán nản buông xuôi, rơi vào tuyệt vọng.  Đây chính là một nguyên nhân chủ chất trong việc ‘khô đạo’ nơi đa số thanh niên.

Tóm lại : Đây là lứa tuổi thật khó để đưa ra một đường lối thích hợp cho việc dạy Giáo Lư, nhất là trong việc tổ chức, t́m gặp . . . V́ lẽ đó mà nhiều nơi, cho tới nay, Giáo Lư thanh niên vẫn chưa được chú trọng đúng mức.

Một cách chung, thanh niên chỉ quan tâm đến những ǵ có liên quan thực sự và trực tiếp đến chính cá nhân họ và những vấn đề thuộc về họ mà thôi.

 

VII. TÂM LƯ CHUNG CỦA LỨA TUỔI TRUNG NIÊN (25-45 TUỔI)

#  Đây là tuổi của lao động sáng tạo, biến đổi xă hội và thế giới.  Tâm lư của tuổi này đă khá b́nh ổn v́ hôn nhân, nghề nghiệp và nhiều mặt khác đă được định vị trong cuộc sống.

1- Ở tuổi này, những hoạt động không c̣n tự phát nữa nhưng theo phán đoán, suy nghĩ và lựa chọn chín chắn.  Dù theo đuổi một lư tưởng, tuổi trung niên vẫn căn cứ vào thực tế mà phấn đấu và hành động.  Tuổi này đă tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm về hạnh phúc và đau khổ, thất bại và thành công . . .

2- Lứa tuổi này, đôi khi  v́ hăng say hoạt động mà bỏ qua hoặc xao lăng yếu tố tinh thần; hay là chỉ căn cứ trên yếu tố hoạt động mà đánh giá con người.  Cũng có khi v́ hoạt động trên nhiều lĩnh vực nên khó dung hoà được những đ̣i hỏi đặc thù của từng lănh vực (khoa học với đức tin; hoạt động với cầu nguyện ...).

3- Đa phần những người ở tuổi trung niên sống theo thói quen và h́nh thức.  Một lối sống, một tục lệ, một trật tự, một nếp suy nghĩ . . được duy tŕ và bảo vệ;  Do đó họ dễ trở nên thành kiến, cầu an.  Chính v́ lư do này mà thanh niên thường bất măn với các bậc phụ huynh (tuổi này) v́ không đồng t́nh hay khuyến khích họ trong những sáng kiến đổi mới táo bạo của họ.

4- Tuổi trung niên được kể là đă hoà nhập hoàn toàn vào đời sống xă hội, do vậy, nghề nghiệp chiếm phần lớn đời sống của họ.  Nhờ làm việc cùng với người khác và hiểu người khác nên bản ngă của họ cũng được thăng hoa;  Đồng thời với họ, ngoài mục đích sinh nhai, nghề nghiệp c̣n là phương thế để viên thành những ước mơ và lư tưởng , để xây dựng một trật tự xă hội.

Tóm lại : Ở tuổi này, ít ai c̣n ham thích được thụ huấn Giáo Lư nữa (có lẽ một phần nào là do tâm lư đă ổn định và cho rằng ‘bấy nhiêu là đủ rồi’?)  Do vậy phải giúp họ thấy rằng : Đức tin luôn luôn phải được giáo dục và bồi dưỡng dù là ở tuổi nào, v́ đức tin vượt lên trên mọi khó khăn đồng thời phát huy tối đa các tiềm năng của lứa tuổi.  Mặt khác, cũng giúp cho tuổi trung niên thấy rằng : Đức tin không làm giảm các khả năng tự nhiên hay hạn chế các hoạt động trần thế của con người, mà ngược lại c̣n thăng tiến chúng.

 

VIII. TÂM LƯ CHUNG CỦA LỨA TUỔI THÀNH NIÊN (45-65 TUỔI)

#  Đây là lứa tuổi có tâm lư đặc biệt : như mặt trăng tṛn rồi lại khuyết, con nước lớn lại ṛng ... tuổi thành niên cũng vậy : sau khi leo lên đỉnh dốc ở tuổi trung niên, tuổi thành niên tự cảm thấy rằng ḿnh đă bắt đầu đi xuống theo dốc bên kia ...

1- Tuổi này, sức tranh đấu giảm dần, cảm thấy ḿnh mệt mỏi, đuối sức và nhận rơ giới hạn của ḿnh.  Không c̣n chạy theo những cái mới lạ nữa nhưng vô tư, b́nh thành hơn trước vấn đề.  Tuổi này không c̣n ảo tưởng nữa v́ đă thấy rơ sự khác biệt giữa lư tưởng và thực tế nên khó ḷng thay đổi tập quán và tánh t́nh.

2- Tuổi thành niên suy tư nhiều hơn nhưng cảm thấy không thể hiểu nổi thế hệ sau.  Dù chỗ đứng trong xă hội đă được định đoạt nhưng họ vẫn biết rằng sắp đến lúc phải nhường chỗ lại cho bọn trẻ.  Họ ít có sáng kiến  hơn nhưng lại rất tin tưởng vào kinh nghiệm bản thân .

3- Tuổi nầy thể lực và tinh thần đă suy giảm nên những cám dỗ về sự hoài nghi  dẫn tới khủng hoảng (trước đây chỉ ngấm ngầm) đă bộc phát và công khai đe dọa, do đó dễ bị mất  quân b́nh và thường hay đặt lại vấn đề (người ta nói ‘già đổi tính’ là v́ vậy).   Có người dừng lại an phận  : tiêu khiển, nghỉ ngơi, ẩn dật, nhưng số khác lại không chấp nhận tuổi già, vẫn tiếp tục lăn xả.

4- Tuổi thành niên nghĩ đến lợi ích chung hơn là lợi ích cá nhân, chú trọng đến việc phục vụ nên có thể trở thành những nhà lănh đạo uy tín, thực tế và kinh nghiệm. Tuổi nầy cũng là tuổi thuận tiện để trở thành người vợ người chồng tốt.  Mặc dù t́nh yêu  không c̣n sôi nổi, rạo rực như trước đây nhưng lại rất chất lượng, sâu lắng và thâm trầm.

Tóm lại : Đức tin của tuổi thành niên là một đức tin tổng hợp, mang tính cộng đồng và thấm nhuần hy vọng.  Làm sao để cho họ thấy rằng họ đang cùng những người khác soi rọi lại toàn bộ cuộc sống của họ, từ các biến cố đến các kinh nghiệm, các giá trị ... dưới t́nh thương của Thiên chúa - một t́nh thương lớn hơn những yếu đuối, lỗi phạm của họ trước đây ...

Với một Giáo Lư như thế chắc chắn tuổi thành niên sẽ dễ dàng đón nhận v́ giải thoát họ khỏi lo âu, kiêu căng hay ảo tưởng, nhưng mang lại b́nh an cho tâm hồn  họ.

 

IX. TÂM LƯ CHUNG CỦA LỨA TUỔI LĂO NIÊN (TRÊN 65 TUỔI)

#  Ở Á Đông th́ khá hơn một chút so với Tây phương  về những thành kiến khắt khe dành cho người già, nhưng không phải v́ vậy mà không có những lời than phiền. Người ta cho rằng tuổi già thường là vô dụng, gây bận rộn, phiền toái và mất thời giờ cho người khác ; người già chẳng giúp ǵ cho việc tông đồ nên người già chẳng cần phải được dạy dỗ ǵ thêm.  (Đây cũng chính là suy nghĩ chủ quan của một số lăo niên yếm thế).

1- Tới tuổi nầy, người già đă có tạm đủ dữ kiện để nhận định cuộc đời của ḿnh. Không những các vị ấy  biết rằng ḿnh sắp chết, sẽ phải chết, mà sự chết c̣n là một cái ǵ gần gũi và cụ thể.  Hiện tại th́ cận kề cái chết, tương lai th́ kể như không có ǵ nên người già thường quay về quá khứ, sống bằng những kỷ niệm và hay kể chuyện ‘hồi xưa’, ‘c̣n trẻ’ ...

2- Tâm lư là do tuổi tác gây ra nên v́ đó người già có thể có những thái độ không đúng mức : chua cay, oán hờn, khép kín, chỉ trích, công kích giới trẻ về mọi cái mới ; bám víu tuyệt vọng vào cuộc đời với những thú vui của nó, có những hành vi ngang ngạnh để tỏ ra ḿnh c̣n trẻ, ḿnh chưa già ...

3- Nhưng tuổi già cũng là tuổi tỏa sáng các nhân đức.  Nghệ thuật làm nội ngoại của họ chỉ đơn giản là ít đ̣i hỏi nhưng sẵn sàng phục vụ cho con cháu, và c̣n phục vụ trên khả năng cho phép ngay cả khi chưa được yêu cầu.  Các cụ cũng rất khoan dung (v́ đă ư thức được những lỗi lầm, yếu đuối và khó khăn mà các ngày đă trải qua) đồng thời lại cũng biết kiên tâm, chấp nhận những thiếu thốn, bệnh tật, cô đơn, bị bỏ rơi và cả sự chết nữa ...

4- Đây cũng là tuổi mà con người sống chiều sâu của đời sống nội tâm thiêng liêng nhiều nhất.  Siêng năng cầu nguyện, tham dự thánh lễ và nhận lănh các Bí tích là đặc điểm nổi bật cuả các bô lăo Kytô giáo.  Chính các ngài cũng là mực thước về đời sống luân lư cho thế hệ trẻ đồng thời cũng là bật thầy về kinh nghiệm (sống, suy tư, nghề nghiệp...)

Tóm lại : Tuổi già không phải là lúc học thêm những điều mới hay theo đuổi những khoá Giáo Lư dài hạn với những lư luận phức tạp hay lời giảng dài ḍng.  Nên nuôi dưỡng tâm hồn các cụ bằng một đức tin hướng về tương lai (không phải là sự chết nhưng là cơi vĩnh hằng), phó thác trong tay Chúa và tỏa sáng các nhân đức. Cố gắng đến thăm họ, cho họ biết những tin tức trong Giáo hội, t́m cho họ việc tông đồ thích hợp (nhất là cầu nguyện cho việc truyền giáo), chuyện văn thường xuyên với họ về các chủ đề : mầu nhiệm sự chết, hữu dụng của tuổi già, chấp nhận đau khổ để cứu chuộc ḿnh và người khác (anh em, con cháu ḿnh) đồng thời đừng quá lo lắng về những lỗi lầm trong quá khứ xa xưa ...

Làm được như vậy là giúp cho tuổi lăo niên rất nhiều, và ngược lại, người già cũng có thể làm ích cho Giáo Hội rất nhiều.   

 

 


 

Chương phụ lục

 

  

CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY GIÁO LƯ

 

  

¤ ?

I. CÁC PHƯƠNG PHÁP CŨ VÀ MỚI

1- Phương pháp cũ

a/. Cắt nghĩa thủ bản :

Đây là phương pháp ‘cổ truyền’ c̣n thịnh hành  khá nhiều nơi tại Việt Nam.  Giáo Lư Viên đọc từng câu hỏi + thưa trong thủ bản, sau đó cắt nghĩa những từ khó bằng kiểu nói đơn sơ hơn, lấy ví dụ trong Thánh Kinh hoặc trong đời sống để soi sáng ; có khi khuyên nhủ vài lời cảm t́nh.  Cứ thế hết câu này đến câu khác cho đến cuối bài.  Sau cùng là các học viên phải học thuộc ḷng cả bài... Cũng có Giáo Lư Viên cho bài về nhà học thuộc ḷng trước, rồi mới cắt nghĩa sau cho rộng hơn, sâu hơn.

b/. Ưu và khuyết điểm của phương pháp này :

Phương pháp này rất tiện dụng cho phía Giáo Lư Viên, không kịp soạn bài vẫn có thể một giờ Giáo Lư ‘chu đáo’ ! Nhưng hầu như ngày nay không một nhà sư phạm giáo dục nào thật sự có thể chấp nhận, đến nỗi có tác giả đă gọi là  ‘một chú giải tốt nhưng là một bài dạy Giáo Lư khả ố’ (une bonne exégèse, mais une détestable catéchèse).  Ngày nay vẫn c̣n hiện diện các bô lăo thuộc làu làu sách bổn, nhưng rất có thể đó chỉ là một mớ kiến thức khô khan, trừu tượng, không ảnh hưởng ǵ đến đời sống thực tế và nhất là không thích ứng, không phù hợp với tâm lư, nhu cầu và khả năng của người thụ huấn trong môi trường hôm nay.

Phương pháp cổ điển này chỉ giúp người ta ‘biết’ Thiên Chúa bằng lư trí mà thôi (đành rằng ‘vô tri bất mộ’, Satan biết Thiên Chúa hơn ai hết nhưng nào hắn có mộ mến Thiên Chúa đâu, ngược lại là khác).  Nếu t́m Chúa chỉ bằng lư trí mà thôi th́ khó có thể gặp được Ngài, nhưng phải bằng cả con người toàn diện với mọi khả năng, kể cả trực giác để ‘cảm nghiệm’ Thiên Chúa.  Qua đó các học viên mới có thể tự ḿnh đến với Thiên Chúa, cầu nguyện tự phát và có tâm t́nh thật sự với Thiên Chúa.

2- Các phương pháp mới

a/. Phương pháp chủ động :

Phương pháp này đang được phổ biến và áp dụng rộng răi ở các nước Tây phương.  Điểm chính yếu của phương pháp này là : Người dạy chỉ gợi ư, c̣n các học viên th́ tích cực hoạt động để tự t́m ra chân lư.

b/. Phương pháp tâm lư :

Phương pháp này dựa trên những khám phá mới về tâm lư con người ở mỗi lứa tuổi, mỗi giới ...  Người ta căn cứ trên những đặc điểm tâm lư riêng biệt đó để đưa ra nhưng phương pháp thích  hợp nhằm thúc đẩy những khả năng tiềm ẩn nơi các học viên.  Do đó, các học viên được trưởng thành toàn diện, một cách tự nhiên, chủ động nhưng có hệ thống.

c/. Ưu và khuyết điểm của phương pháp mới :

Hẳn nhiên bằng phương pháp mới người ta sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương pháp cũ. Đó là một ưu điểm bên cạnh những ưu điểm mà ta đă biết.  Dù vậy, phương pháp không phải là không có những khuyết điểm :

- Về phía Giáo Lư Viên : Phải duy nhất một Giáo Lư Viên đó theo sát từng diễn biến tâm lư của các học viên và từng học viên trong từng giai đoạn.  Sẽ rất khó khăn khi có sự thay đổi Giáo Lư Viên phụ trách lớp hay nhóm đó.  Hơn nữa, đ̣i hỏi phải có một thời gian lâu dài, mà ở môi trường chúng ta khó có một Giáo Lư Viên nào có thể đáp ứng yêu cầu này.  Ngoài ra, lại một yêu cầu khó đáp ứng khác nữa đặt ra cho các Giáo Lư Viên  khi áp dụng phương pháp mới là :  Phải trải qua các khoá huấn luyện, trường lớp, đồng thời phải có những  phương tiện vật chất dồi dào ...

- Về phía các học viên : Phương pháp mới rất sống động, vui tươi; chính v́ quá vui có thể làm lu mờ nội dung đức tin và bầu khí tôn giáo của một lớp Giáo Lư; sẽ rất khó khăn trong những phút thinh lặng, suy tư, cầu nguyện; hoặc sẽ rất khó phải ‘ở một ḿnh’ khi đă quen sống sôi động ... Như vậy, đời sống thiêng liêng sẽ rất thiệt tḥi và hạn chế.  Mặt khác, một khuyết điểm thuộc loại tối quan trọng nữa là với phương pháp hoạt động, khi Giáo Lư Viên đưa ra một chủ đề, các học viên sẽ chỉ theo hướng chủ quan  của ḿnh mà học hỏi, họ sẽ chỉ theo đuổi những ǵ mà họ thích và bỏ qua những cái khác ; Đă thế, cái ‘chân lư’ mà họ t́m ra chưa chắc đă phù hợp với đức tin. Vậy để sửa đổi cái mà chính người khác tự t́m ra và cho là đúng đó, có lẽ sẽ rất ít Giáo Lư Viên nào làm được.

 

II.  PHƯƠNG PHÁP CỦA CHÚNG TA.

Chúng ta sẽ chọn phương pháp nào đây ? ‘Đả cựu nghinh tân’ chăng ? Hay là ‘Thủ cựu bài tân’ ? Hay cũng có thể là v́ cả hai phương pháp cổ điển lẫn tân kỳ đều bộc lộ những khuyết điểm nên ta phế bỏ cả và chỉ dạy Giáo Lư bằng phương pháp ‘tùy hứng’  ? ...

V́ nội dung của Giáo Lư cổ điển phụ thuộc quá sâu đậm vào hai yếu tố do hoàn cảnh gây ra : trước hết là cái sở thích của thời Trung cổ : kê khai những công thức chia theo toán học và những con số, nên chỉ thiên về luân lư.  Thứ hai là hậu ư chống lại các bè rối (thế kỷ 16) cho nên Giáo Lư được tŕnh bày với tính cách hộ giáo và đặc biệt chú ư những khía cạnh bị phủ nhận mà bỏ qua những khía cạnh khác phong phú hơn.

Cách nh́n truyền thống đó không sai nhưng chỉ tập trung hạn hẹp vào khía cạnh sinh hoạt nhân bản mà quên đề cao sáng kiến của Thiên Chúa.  Vả lại, hiện nay Giáo Hội không c̣n phải đương đầu với một bè rối nhất định  nhưng phải đối đầu với một làn sóng ‘lănh đạm với thực tại siêu nhiên’ đang lan tràn ồ ạt ... Cho nên cần phải làm cho người ta có một quan niệm sáng sủa, phấn khởi và bao quát về thế giới siêu nhiên, về Nước Trời mà Chúa đă thiết lập ở trần gian.

Có nên chăng áp dụng câu nói của Chúa Giêsu : ‘ ... Giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của ḿnh cả cái mới lẫn cái cũ’ (Mt 13. 52) ?  Một cách chung, có lẽ chúng ta nên tận dụng những  cái hay đồng thời hạn chế và bài trừ những cái chưa hay của mọi phương pháp.  Hơn nữa, nếu phương pháp phụ thuộc vào chủ đích, nội dung và đối tượng th́ khi các yếu tố đó thay đổi (nhất là đối tượng con người) th́ phương pháp truyền giảng Tin Mừng cho con người cũng thay đổi.  Chắc chắn sẽ gây khó chịu cho những ai quen sống nề nếp, nhưng buộc phải như thế nếu muốn khai thác kho tàng bất tận của Tin Mừng để đáp ứng cho nhưng đ̣i hỏi của một thế giới đầy biến động ... V́ thế, muốn bổ khuyết cho đức tin và đời sống đạo trong hoàn cảnh văn minh vật chất hôm nay, phải không ngừng canh tân việc dạy Giáo Lư.  V́ lẽ đó, với chúng ta, phương pháp dạy Giáo Lư hầu như không bao giờ cố định hay thành h́nh.

 

                                                Fat. Vĩnh Long

                                                            15.09.1997

                                                            JNT


 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

T

 

F  Sư phạm Giáo Lư ....................................................... : Lm.  Nguyễn Văn Tuyên.

F Sư phạm Giáo Lư I.......................................................     : Lm.  Trịnh Thiên Thu.

F Hồng Ân Huấn Giáo II...................................................... : Giáo Phận Xuân Lộc.

F Hướng dẫn Giáo Lư Viên ..............................  : Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm .

F Tông Huấn ‘Dạy Giáo Lư trong thời đại chúng ta’ (Tradendae Catechesi)

                                                                           Đức Giáo Hoàng Joan Phaolo II.

F Công Đồng Vatican II : Sắc lệnh về Truyền Giáo (Ad Gentes)