Giáo Lư Viên của Giáo Hội Việt Nam Ngày Nay

 

Bài thuyết tŕnh của Giáo Sư Giêronimô Nguyễn Văn Nội về đề tài "Giáo Lư Viên của Giáo Hội Việt Nam Ngày Nay" trong Đại Hội Giáo Lư của Giáo Phận Phú Cường năm 2002.

VÀO ĐỀ

Ai trong chúng ta cũng biết rằng công việc giảng dạy giáo lư là một quyền lợi và nghĩa vụ rất cao cả, nặng nề và quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo nói chung và với Giáo Hội Việt Nam nói riêng. V́ thế mà trong bất cứ hoàn cảnh nào- khó khăn hay thuận lợi, các giáo phận đều t́m cách thực hiện việc giảng dạy Giáo lư cho con em và người muốn vào Đạo. Cũng v́ thế mà khi hoàn cảnh cho phép, các giáo phận đều t́m cách triển khai việc huấn luyện giáo lư viên một cách bài bản, khoa học. Giáo phận Phú Cường thân yêu của chúng ta cũng đang có những nỗ lực đáng trân trọng theo hướng này. Và chính v́ thế mà tôi mới hân hạnh được có mặt ở đây hôm nay để chia sẻ với các bạn giáo lư viên và các Vị Phụ trách Giáo lư của giáo phận, một số điều liên quan tới việc giảng dạy giáo lư và việc huấn luyện giáo lư viên.

Trước hết chúng ta xác định bản chất, mục đích và nhiệm vụ của việc giảng dạy Giáo lư của Giáo Hội. Kế đến chúng ta dựa vào các Tài liệu Hướng dẫn của Ṭa Thánh, thử phác thảo một số nét đặc trưng về vai tṛ của giáo lư viên và suy nghĩ về những định hướng và tiêu chuẩn cho việc huấn luyện giáo lư viên. Và sau cùng chúng ta cùng nhau trao đổi, thảo luận để t́m cách ứng dụng vào thực tế giáo xứ và giáo phận những hướng dẫn của Giáo Hội trong lănh vực giảng dạy Giáo lư và huấn luyện Giáo lư viên.

Như thế là buổi học hỏi này của chúng ta có 2 phần: phần tŕnh bày “lư thuyết” về một số vấn đề thuộc trách nhiệm của tôi. C̣n phần thứ hai, quan trọng hơn, là phần chia sẻ, thảo luận  “thực tế” của các Vị Phụ trách Giáo lư giáo phận và của anh chị giáo lư viên.

 

TR̀NH BÀY

I. VIỆC GIẢNG DẠY GIÁO LƯ trong SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG (hay phúc âm hóa) CỦA GIÁO HỘI  ngày hôm nay

 

1. Sứ mạng Loan báo Tin Mừng hay Phúc Am hóa của Giáo Hội:

 

1.1 Suốt 20 thế kỷ qua, Giáo Hội vẫn không ngừng nỗ lực thực thi mệnh lệnh của Chúa Giê-su Ki-tô:

“ Anh em hăy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15).

“Anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thày đă truyền cho anh em. Và đây, Thày ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).

 “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thày tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1,8).

 

1.2 Sứ mạng Loan báo Tin Mừng hay Phúc âm hóa của Giáo Hội thường được thực hiện thông qua tiến tŕnh sau đây: Chứng từ Ki-tô giáo > Đối thoại và hiện diện của t́nh bác ái yêu thương > Việc loan báo Tin Mừng và mời gọi hoán cải > Giai đoạn dự ṭng và khai tâm Ki-tô giáo > Giai đoạn h́nh thành cộng đoàn Ki-tô qua việc cử hành các bí tích và các thừa tác vụ (xem Sắc lệnh Truyền Giáo của Công đồng Va-ti-can II, số 11-18).

 

1.3 Trong công cuộc Loan báo Tin Mừng hay Phúc Am hóa của Giáo Hội th́ thừa tác vụ Lời Chúa là thừa tác vụ quan trọng nhất. Thừa tác vụ Lời Chúa bao gồm những chức năng chính sau đây: Mời gọi đón nhận Đức Tin, Khai tâm, Thường huấn đời sống đức tin, Chức năng phụng vụ, Chức năng thần học. Thừa tác vụ Lời Chúa có những h́nh thái quan trọng như: Loan báo đầu tiên hay lời giảng truyền giáo; Học Giáo lư trước và sau khi chịu Phép Rửa; Cử hành phụng vụ và t́m hiểu thần học. Do đó, việc giảng dạy Giáo lư chỉ là một khâu, nhưng là một khâu rất quan trọng, trong tiến tŕnh Loan báo Tin Mừng hay Phúc Am hóa và trong việc thực hiện thừa tác vụ Lời Chúa được tŕnh bày ở trên.

 

1.4 Trước khi Giáo Hội và nhân loại bước vào ngàn năm thứ ba, Đức Gio-an Phao-lo II đă có sáng kiến tuyệt vời là tổ chức Năm Thánh 2000 với hai mục đích:

(1o) để toàn Giáo Hội mừng trọng thể 2000 năm biến cố Thiên Chúa nhập thể sinh ra làm người và đi vào thế giới của con người để yêu thương và cứu chuộc mọi người; và đồng thời

(2o) để Giáo Hội - ở các cấp toàn cầu, châu lục và địa phương - kiểm điểm công cuộc Loan báo Tin Mừng hay Phúc Am hóa (hay Truyền giáo) và canh tân các nỗ lực thực thi công cuộc Loan báo Tin Mừng ấy trong thế kỳ XXI và ngàn năm thứ ba. V́ sau hai ngàn năm, ai nấy trong Giáo Hội đều phải nh́n nhận rằng công cuộc Loan báo Tin Mừng hay Phúc Âm hóa (hay Truyền giáo) chưa đạt được kết quả mong muốn. Bằng chứng là: (a) tỷ lệ người công giáo trên tổng dân số thế giới vẫn c̣n rất khiêm tốn; và (b) những giá trị nhân bản và Ki-tô giáo như phẩm giá con người, hoà b́nh, t́nh liên đới, tương trợ…. vẫn chưa được tôn trọng đúng mức; trái lại đó đây trên thế giới phẩm giá của con người, nhất là của người nghèo, của phụ nữ và trẻ em, của các sắc tộc… vẫn bị chà đạp; xung đột và chiến tranh vẫn thường xẩy ra; t́nh liên đới và sự tương trợ lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc vẫn không đáp ứng được yêu cầu và sự mong đợi của các nước và các dân tộc nghèo.

           Nhờ sáng kiến trên của Đức Thánh Cha mà mỗi Giáo Hội châu lục có một Thượng Hội đồng Giám mục và sau đó có một Tông huấn do Đức Thánh Cha ban hành cho châu lục ấy và cho Giáo Hội toàn cầu.  Riêng Châu Á chúng ta có “Thượng Hội đồng Giám mục Á châu”, họp tại Roma từ ngày 18.4 đến ngày14.5.1998 với 252 tham dự viên, trong đó có 188 giám mục đại biểu từ khắp các miền trên thế giới, và “Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu” của Đức Gio-an Phao-lô II được ban hành tại New Delhi, ngày 6.11.1999 nhân chuyến viếng thăm An Độ của Đức Thánh Cha.

Muốn hiểu quan điểm của các Giáo Hội Á châu và Việt Nam về Sứ mạng Loan báo Tin Mừng ngày hôm nay, chúng ta không thể không học hỏi, t́m hiểu hai văn kiện quan trọng này là “Tông huấn Giáo Hội tại Á châu” và Thư Chung 2001 của Hội Đồng Giám mục Việt Nam. Chúng ta cũng phải xác định lại những điều cốt yếu của việc giảng dạy Giáo lư của Giáo Hội.

 

2. Bản chất, mục đích và nhiệm vụ của việc giảng dạy Giáo lư

Giảng dạy Giáo lư có phải là nhồi nhét một mớ kiến thức, dù đó là kiến thức về Thiên Chúa, cho người học giáo lư không? hay giảng dạy Giáo lư là giúp học viên - người lớn cũng như trẻ nhỏ - gặp được Đức Giê-su Ki-tô & Thiên Chúa và sống mật thiết, gắn bó với Người và sống theo Người?

Tài liệu Hướng dẫn tổng quát về việc giảng dạy Giáo lư (Directoire général pour la catéchèse) của Thánh Bộ Giáo Sĩ được ban hành ngày 15 tháng 8 năm 1997 xác định bản chất, mục đích và nhiệm vụ của việc giảng dạy Giáo lư như sau:

 

2.1 Bản chất của việc giảng dạy Giáo lư: Tự bản chất việc giảng dạy Giáo lư là hoạt động của Giáo hội với tư cách là cộng đoàn được mời gọi để trở nên nhà giáo dục đức tin, khi Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Thày Giê-su và dưới tác động của Thánh Thần (tlđd, số 78).

 

2.2 Mục đích của việc giảng dạy Giáo lư: “Mục đích quyết định của việc giảng dạy Giáo lư không chỉ  là giúp người học giáo lư tiếp cận với Đức Giê-su Ki-tô mà c̣n là giúp người ấy đi vào mối tương quan hiệp thông, mật thiết với Người” (tlđd, số 80).

 

2.3 Nhiệm vụ chính của việc giảng dạy Giáo lư: Các nhiệm vụ căn bản của việc giảng dạy Giáo lư là:

 

2.3.1 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiểu biết về đức Tin:

   “Ai đă gặp Chúa Ki-tô th́ ước mong biết Người nhiều hơn nữa; người ấy cũng ước mong hiểu biết kế hoạch của Chúa Cha mà Chúa Giê-su đă biểu lộ. Hiểu biết nội dung của đức Tin là điều cần thiết cho việc gắn bó với đức Tin. Việc đào sâu hiểu biết về đức Tin đem lại cho cuộc sống một ánh sáng mới, nuôi dưỡng đời sống đức Tin, và giúp hiểu cái lư lẽ của đức Tin trong cuộc sống.

 

2.3.2 Giáo dục về phụng vụ:

   “Thật ra “Đức Ki-tô luôn hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong các hoạt động phụng vụ” Sự hiệp thông với Đức Giê-su Ki-tô dẫn tới việc cử hành sự hiện diện cứu độ của Người trong các bí tích và nhất là trong Bí tích Tạ Ơn. Giáo hội hết sức ước mong các tín hữu tham dự cách trọn vẹn, ư thức và tích cực vào sự hiện diện này. V́ thế, việc giảng dạy Giáo lư không những phải giúp người học giáo lư hiểu ư nghĩa phụng vụ và các bí tích mà c̣n phải huấn luyện các môn đệ Đức Giê-su Ki-tô về “cầu nguyện, tạ ơn, sám hối; về sự tin tưởng phó thác trong cầu nguyện và về ư nghĩa cộng đoàn…”.

 

2.3.3 Huấn luyện về luân lư:

    Quay về với Đức Giê-su Ki-tô bao hàm việc đi theo Người. V́ thế việc giảng dạy Giáo lư phải truyền đạt cho các môn đệ những thái độ của Thày. Nhờ đó họ sẽ theo một tiến tŕnh biến đổi nội tâm mà qua tiến tŕnh ấy họ “chuyển từ con người cũ sang con người mới trong Đức Ki-tô” nhờ việc họ tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh của Người. Bài giảng trên núi, đang đó Đức Giê-su lặp lại Mười Giới Răn và tinh thần Tám Phúc Thật, là một qui chiếu cần thiết trong việc giáo dục về luân lư.

 

2.3.4 Dạy cầu nguyện:

Sự hiệp thông với Đức Giê-su Ki-tô khiến các môn đệ có cung cách và thái độ cầu nguyện và chiêm niệm giống như Thày. Tập cầu nguyện với Đức Giê-su là cầu nguyện với những tâm t́nh mà Người đă diễn tả ra khi Người cầu nguyện với Cha: đó là tâm t́nh  thờ phượng, ngợi khen, cảm tạ, tin cậy phó thác, cầu xin, ngưỡng mộ trước vinh quang của Cha. Các tâm t́nh ấy được phản ánh trong Kinh Lạy Cha, kinh mà Đức Giê-su đă dạy các môn đệ và là mẫu mực của kinh nguyện Ki-tô giáo (tlđd, só 85).

 

2.4 Mấy nhiệm vụ khác của việc giảng dạy giáo lư:

     Ngoài ra việc giảng dạy Giáo lư giúp người Ki-tô hữu có khả năng sống cộng đoàn và tham dự  tích cực vào đời sống và vào sứ mạng của Giáo hội. Công đồng Va-ti-can II nhấn mạnh với các mục tử, về nhu cầu “phát triển tinh thần cộng đoàn” và với các tân ṭng, về việc tập “cộng tác tích cực vào việc Phúc Am hóa và vào việc xây dựng Giáo Hội”.  V́ thế việc giảng dạy Giáo lư c̣n có một vài nhiệm vụ khác, đó là khai tâm và giáo dục về đời sống cộng đoàn và về truyền giáo.

 

2.4.1 Giáo dục đời sống cộng đoàn:

   “Đời sống cộng đoàn Ki-tô không phải tự nhiên mà có, trái lại cần phải giáo dục cẩn thận. Trong việc thực tập sống cộng đoàn, giáo huấn của Đức Giê-su về đời sống cộng đoàn được Mát -thêu tường thuật lại trong Tin Mừng, nêu lên một số thái độ mà việc giảng dạy Giáo lư phải tập luyện: tinh thần đơn sơ khiêm tốn (Mt 18,3); sự quan tâm đến những người bé nhỏ nhất (Mt 18,6); đặc biệt quan tâm đến những người lạc đường (Mt 18,12); việc sửa lỗi huynh đệ(Mt 18,15); cầu nguyện cộng đoàn (Mt 18,19); sự tha thứ lẫn cho nhau (Mt 18,22). T́nh yêu huynh đệ thống nhất tất cả các thái độ kể trên” (Ga 13,34).

 

2.4.2 Khai tâm về truyền giáo:

  “Việc giảng dạy Giáo lư cũng tạo động lực cho việc truyền giáo. Việc giảng dạy Giáo lư giúp các môn đệ Đức Giê-su biết hiện diện với tư cách là Ki-tô hữu, trong xă hội, trong đời sống nghề nghiệp, trong lănh vực văn hóa và xă hội. Việc giảng dạy Giáo lư cũng chuẩn bị họ biết đóng góp vào nhiều công việc của Giáo Hội, tùy theo ơn gọi riêng của mỗi người. Việc dấn thân truyền giáo nơi người giáo dân xuất phát từ  các bí tích khai tâm Ki-tô giáo và từ  tính “trần thế” trong ơn gọi của họ.

      Những thái độ Ki-tô mà Đức Giê-su đă đề nghị cho các môn đệ của Người khi Người hướng dẫn họ vào sứ vụ truyền giáo cũng là những thái độ mà việc giảng dạy Giáo lư phải cổ vơ: t́m kiếm chiên lạc; cùng lúc loan báo và chữa lành; sống khó nghèo, không vàng bạc không túi bị; biết chấp nhận sự ruồng bỏ và bách hại; đặt niềm tin tưởng vào Cha và vào sự trợ giúp của Thánh Thần; lấy niềm vui được hoạt động cho Nước Trời làm phần thưởng (tlđd, số 85)

 

II. Vai tṛ của Giáo lư viên

 

2.1 Tài liệu Hướng dẫn của Thánh bộ Giáo sĩ năm 1997 đă nhắc đến ở trên tŕnh bày về vai tṛ của giáo lư viên như sau:

“Dù xử dụng bất kỳ phương pháp đă được chứng nghiệm bằng thực hành nào đi chăng nữa th́ giáo lư viên cũng vẫn phải đầu tư làm việc trong mọi giai đoạn của tiến tŕnh giảng dạy giáo lư.

          “Đặc sủng của Chúa Thánh Thần, một đời sống tâm linh vững chắc, một chứng tá đời sống trong sáng là linh hồn của tất cả mọi phương pháp và chỉ có những đức tính nhân bản và Ki-tô giáo của giáo lư viên mới bảo đảm việc xử dụng tốt các bản văn và các dụng cụ làm việc khác.

          Giáo lư viên tự thân là trung gian tạo điều kiện cho sự hiệp thông giữa con người với mầu nhiệm Thiên Chúa, giữa người với người, giữa người với cộng đoàn. V́ thế giáo lư viên phải làm sao để tầm nh́n văn hóa, hoàn cảnh xă hội và cách sống của ḿnh không cản trở hành tŕnh đức Tin, bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc t́m kiếm, đón nhận và đào sâu Sứ diệp Ki-tô giáo.

          Giáo lư viên không được quên rằng sự gắn bó của con người là hoa trái của ân sủng và tự do; việc quan trọng là hoạt động của giáo lư viên phải luôn được ḷng tin vào Thánh Thần và đời sống cầu nguyện nâng đỡ.

          Sau cùng mối tương quan giữa giáo lư viên và người học giáo lư rất ư là quan trọng. Mối tương quan ấy phải được ghi đậm dấu ấn của ḷng yêu mến giáo dục, của tính sáng tạo độc đáo, của sự thích ứng và đồng thời của ḷng tôn trọng sự tự do và sự trưởng thành của người học giáo lư.

          Bằng sự đồng hành khôn ngoan, giáo lư viên chu toàn một trong những công việc phục vụ quí báu nhất của hoạt động giáo lư: giáo lư viên mời gọi người học giáo lư nhận ra ơn gọi mà Thiên Chúa dành cho họ” (tlđd, số 156).

 

2.2  Theo Tài liệu Hướng dẫn của Thánh bộ Phúc Am hóa các dân tộc năm 1992, (số 3) th́ Giáo lư viên là “những giáo dân có tŕnh độ và đời sống đạo hạnh, dưới sự hướng dẫn của nhà truyền giáo, hiến thân lo giảng dạy Giáo lư Tin Mừng và tổ chức các cử hành phụng vụ cũng như các việc bác ái” (Giáo luật khoản 785, 1).

 

2.3 Định nghĩa trên của Tài liệu Hướng dẫn của Thánh bộ Phúc Am hóa các dân tộc năm 1992, phù hợp với quan điểm của Hội nghị khoáng đại năm 1970 của Thánh bộ này: ”Giáo lư viên  là một giáo dân được Giáo hội đặc cử, tùy theo nhu cầu địa phương, để làm cho Chúa Ki-tô được nhận biết, yêu mến và noi theo, nơi những người chưa biết Chúa cũng như nơi các tín hữu”

 

III. Việc huấn luyện giáo lư viên

Việc huấn luyện giáo lư viên nhằm mục đích giúp giáo lư viên trở thành một Ki-tô hữu vừa hồng (có phẩm chất đạo đức) lại vừa chuyên (có chuyên môn).

Tài liệu Hướng Dẫn dành cho Giáo lư viên năm 1992 của Thánh Bộ Phúc Am hoá các dân tộc có những chỉ dẫn khá chi tiết về việc huấn luyện giáo lư viên, theo những tiêu chuẩn sau đây:

 

3.1 Cần có sự huấn luyện thích đáng.

“Để các giáo đoàn có đủ giáo lư viên xứng hợp, ngoài việc tuyển chọn cách cẩn trọng, cần nhắm tới việc chuẩn bị, v́ chất lượng giáo lư viên tùy thuộc vào sự chuẩn bị này.

Huấn quyền của Hội Thánh luôn đ̣i hỏi và nhất quyết đ̣i hỏi sự chuẩn bị cho giáo lư viên, v́ mọi hoạt động tông đồ “nếu không được đảm nhận bởi những người có đào tạo, th́ chắc chắn sẽ thất bại”     

Cũng nên biết rằng các tài liệu của Huấn quyền đều nhấn mạnh đến việc đào tạo “toàn diện” “chuyên biệt” cho giáo lư viên. Toàn diện nghĩa là bao gồm mọi chiều kích của nhân cách giáo lư viên. Chuyên biệt nghĩa là phù hợp với các đặc tính của công việc mà giáo lư viên được mời gọi thực hiện giúp các mục tử, như loan báo Lời Chúa cho mọi người xa gần, hướng dẫn cộng đoàn, linh hoạt và nếu cần, chủ tọa cộng đoàn cầu nguyện, phục vụ anh chị em theo nhu cầu khác nhau về tinh thần và vật chất. Điều này đă được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II minh định: “Ưu tiên cho chất lượng, nghĩa là ưu tiên cho việc huấn luyện căn bản thích hợp và việc cập nhật hóa luôn. Để bảo đảm cho sứ vụ của Hội Thánh có nhân sự xứng hợp, cốt thiết phải có chương tŕnh đầy đủ và cơ chế thích hợp để đảm nhận việc huấn luyện giáo lư viên về các mặt, từ  huấn luyện nhân bản đến huấn luyện thiêng liêng, tín lư, tông đồ và chuyên môn”(Thông diệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế, 73, Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân, 60;  cũng xem Sắc lệnh Truyền Giáo của Công đồng Va-ti-can II, 17)

Như thế, đây là một sự huấn luyện bắt buộc đối với các đương sự và vất vả cho những ai phải góp phần vào việc huấn luyện ấy. Thánh bộ Phúc hóa các dân tộc ghi nhận đây là công việc của các đấng bản quyền” (tlđd, số 19).

 

3.2 Sự sống thống nhất và hài ḥa nơi người giáo lư viên.

“Để thực hiện ơn gọi của ḿnh, giáo lư viên, cũng như mỗi Ki-tô hữu giáo dân, “phải được huấn luyện để thống nhất đời sống của ḿnh, đời sống của một người vừa là phần tử của Giáo hội, vừa là công dân của xă hội loài người”. Trong cuộc sống của giáo lư viên, không thể có nhiều cuộc sống song hành: một đàng là đời sống “thiêng liêng” với những gía trị và đ̣i hỏi riêng; đàng khác là đời sống “trần thế” với những tương quan của nó; rồi đến đời sống “tông đồ” với những dấn thân của nó…(Tông huấn Người Ki-tô hữu giáo dân của Đức Gio-an Phao-lô II, số 59).

Để có được sự thống nhất và hài ḥa nơi con người của ḿnh, điều quan trọng là giáo lư viên phải cất đi những rào cản về mặt tính khí, tri thức, t́nh cảm v.v….gây trở ngại cho sự tăng trưởng và tuân theo một chương tŕnh sống có trật tự; nhưng dứt khoát phải đi vào chiều sâu và chạm đến nguyên lư hay nguồn mạch căn tính của chính tác vụ giáo lư viên, đó là “con người” Đức Giê-su Ki-tô.

Đối tượng chính yếu và đầu tiên của Huấn giáo, như chúng ta đă biết, chính là Đức Giê-su Na-gia-rét, “Con Một của Chúa Cha đầy ân sủng và chân lư” (Ga 1,14), “Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6). Trọn “mầu nhiệm Đức Ki-tô” (Ep 3,4) “ẩn giấu từ bao thế kỷ và bao thế hệ” (Cl 1,26), cần phải được mạc khải. Do đó, giáo lư viên phải quan tâm thông truyền, qua lời dạy và cách sống của ḿnh, đạo lư và cuộc đời Đức Giê-su. Con người và hành động của giáo lư viên tùy thuộc vào con người và hành động của Đức Ki-tô. Sự thống nhất và hài ḥa trong cuộc sống của giáo lư viên được nh́n theo hướng qui Ki-tô và xoay quanh “sự gắn bó mật thiết với Chúa Ki-tô và Chúa Cha” trong Chúa Thánh Thần (Tông huấn Giảng dạy Giáo lư của Đức Gio-an Phao-lô II, số 5-6, 9). Chúng ta chưa bao giờ nhấn mạnh đủ về điểm này, để canh tân bộ mặt của giáo lư viên vào thời điểm quyết định cho sứ vụ của Hội Thánh” (tlđd, số 20).

 

3.3 Trưởng thành về mặt nhân bản.

“Trong việc tuyển chọn, chúng ta đă lưu ư rằng giáo lư viên phải có tối thiểu các đức tính nhân bản, hoặc ít là những tiềm năng có thể được đào tạo và phát triển trong tiến tŕnh huấn luyện. Trên b́nh diện này, mục tiêu phải đạt tới là giáo lư viên phải trưởng thành về mặt nhân bản và thích hợp cho một trách vụ cộng đoàn.

Do đó, có vài khía cạnh nhất định cần phải quan tâm: trước hết là lănh vực nhân bản bao gồm: sự quân b́nh tâm sinh lư, sức khỏe tốt, có trách nhiệm, thật thà, năng động, đạo đức trong sinh hoạt nghề nghiệp và gia đ́nh, tinh thần hy sinh, mạnh bạo, kiên tŕ v.v… Kế đến, giáo lư viên cần có khả năng thích hợp cho công tác như dễ dàng tiếp xúc gặp gỡ, đối thoại với các tôn giáo khác và với một nền văn hóa đặc thù, khả năng truyền đạt, sẵn sàng cộng tác, thận trọng khi hướng dẫn, phán đoán minh bạch, hiểu biết và thực tế, có khả năng an ủi và khơi dậy niềm hy vọng v.v…Sau cùng là một phẩm tính thích hợp cho các t́nh h́nh đặc biệt: là người xây dựng ḥa b́nh; có khả năng thăng tiến, phát triển, linh hoạt văn hóa xă hội; nhạy bén trước những vấn đề công lư, y tế v.v…

Được phát triển nhờ khoa sư phạm lành mạnh, những phẩm tính trên đây tạo nên một nhân cách trưởng thành và trọn vẹn, lư tưởng cho một giáo lư viên” (tlđd, số 21).

 

3.4 Đời sống thiêng liêng sâu sắc:

“Sứ mạng của người giáo dục đức Tin đ̣i hỏi giáo lư viên phải có một đời sống thiêng liêng sâu sắc. Đây là khía cạnh cao nhất và quư gía nhất của nhân cách; do đó, cũng là chiều kích ưu tiên của việc huấn luyện. Giáo lư viên đích thực là một vị thánh (xem Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế của Đức Gio-an Phao-lô II, 90).

Trọng tâm đời sống thiêng liêng của giáo lư viên là sự hiệp thông sâu xa trong niềm tin vào Đức Ki-tô và mến yêu Ngài, Đấng đă mời gọi và sai họ đi (xem Giáo Lư Hội Thánh Công giáo, 428). Như  Đức Giê-su, vị Thày duy nhất (Mt 23,8) giáo lư viên phục vụ anh chị em qua lời giảng dạy và những việc làm vốn là những cử chỉ yêu thương (Cv 1,1).  Chu toàn ư Cha yêu thương cứu độ loài người, là lương thực của giáo lư viên, như đă là lương thực của Đức Giê-su (Ga 4,34). Lư tưởng cần đạt tới trong khi thi hành nhiệm vụ giáo lư viên, là đời sống thánh thiện được thực hiện theo căn tính người giáo dân và tông đồ (xem Hiến chế Anh sáng muôn dân của Công đồng Va-ti-can  II, 41). 

Việc huấn luyện thiêng liêng diễn ra trong tiến tŕnh trung thành với “Đấng là nguyên lư khởi hứng cho cả Huấn giáo và cho những ai làm Huấn giáo, tức Chúa Thánh Thần - Thánh Thần của Chúa Cha và của Chúa Con” (Tông huấn Giảng dạy Giáo lư của Đức Gio-an Phao-lô II, 72).

Cách thuận lợi nhất để đạt được sự trưởng thành nội tâm là đời sống bí tích và cầu nguyện sốt sáng (Giáo lư Hội Thánh Công Giáo 2742-2745).

Từ những kinh nghiệm có ư nghĩa và thực tế nhất, phát sinh lư tưởng về đời sống cầu nguyện mà thánh bộ Phúc Am hóa các dân tộc đề nghị, ít nhất là cho giáo lư viên điều khiển cộng đoàn hoặc làm trọn thời gian hoặc cộng tác chặt chẽ với linh mục, nhất là những người được mệnh danh là “cán bộ khung””

 Tài liệu đề cập đến các thực hành của đời sống thiêng liêng mà giáo lư viên cần phải quan tâm là siêng năng tham dự thánh lễ, sống phụng vụ, đọc một phần Phụng vụ các giờ kinh, suy niệm Lời Chúa hàng ngày, kinh nguyện cá nhân, bí tích ḥa giải, tĩnh tâm (tlđd, số 22).

 

3.5 Chuẩn bị về Giáo lư:

“Chuẩn bị về giáo lư cho giáo lư viên hẳn là điều cần thiết, nhằm giúp họ nắm vững nội dung cốt yếu của giáo lư công giáo, truyền đạt rơ ràng và sống động, không sai sót hay lệch lạc.

Đối với tất cả ứng sinh, chúng ta đ̣i hỏi họ phải có tŕnh độ văn hóa căn bản, tất nhiên là so với t́nh trạng chung của xứ sở.

Thiếu tŕnh độ văn hóa sẽ nẩy sinh nhiều khó khăn. Do đó, phải liệu cách giải quyết những khó khăn này. Trước hết, để đưộc chấp nhận, tất cả các ứng sinh phải nâng tŕnh độ học vấn căn bản lên bằng cách theo học khóa “văn hóa cao về tôn giáo”, bằng không họ sẽ có mặc cảm tự ti đối với người đă học và thực sự cảm thấy kém khả năng khi phải giáp mặt với một số lănh vực hay khi phải giải quyết các vấn đề mới.

Nội dung huấn luyện hiện vẫn có giá trị là việc “huấn luyện về thần học tín lư, nhân chủng học, phương pháp luận” như được tŕnh bày trong Bản Hướng Dẫn Huấn Giáo Tổng Quát, do Thánh Bộ Giáo sĩ xuất bản năm 1971. Nhưng tại các miền truyền giáo, cần phải có những minh định đặc biệt và bổ sung mà Thánh Bộ Phúc Am hóa các dân tộc đă tŕnh bày phần nào trong hội nghị khoáng đại năm 1970 và giờ đây Thánh Bộ lập lại và triển khai dựa trên căn bản Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế.”

Sau đó Tài liệu đề cập đến nội dung và các lănh vực thần học mà giáo lư viên cần được huấn luyện (tlđd, số 23).

 

3.6 Ư thức mục vụ:

          “Chiều kích mục vụ của việc huấn luyện liên quan đến sự vận dụng ba chức năng: ngôn sứ, tư tế và mục tử của người giáo dân. Như thế, giáo lư viên phải được hng dẫn để loan báo Tin Mừng, dạy giáo lư, giúp đỡ anh chị em sống đức Tin và thờ phương Thiên Chúa cho phải đạo, chu toàn các công tác mục vụ được giao phó cho ḿnh trong cộng đoàn.

          Những thái độ chính yếu cần huấn luyện cho giáo lư viên là tinh thần trách nhiệm mục vụ và thuật lănh đạo, quảng đại phục vụ, năng động và sáng tạo; hiệp thông với Hội Thánh và vâng phục các vị mục tử.

          Việc huấn luyện này đ̣i hỏi có sự hướng dẫn về lư thuyết, nhằm minh họa các lănh vực tông đồ chính yếu mà giáo lư viên có thể tham dự; nhờ đó,nắm bắt được các đ̣i hỏi và những cách đáp ứng lại các đ̣i hỏi này. Cũng cần giải thích cho giáo lư viên hiểu đặc điểm của từng hạng người thụ giáo là trẻ em, giới trẻ hoặc người lớn, sinh viên hoặc công nhân, đă lănh phép Thánh Tẩy hay chưa, thuộc cộng đoàn nhỏ hay thuộc các phong trào, v.v… và những cách thức khác nhau để quan hệ với họ.

          Việc huấn luyện mục vụ c̣n đ̣i hỏi phải thực tập, đặc biệt lúc đầu, dướisự hướng dẫn của các thày dạy hoặc một linh mục hoặc một giáo lư viên khác có nhiều kinh nghiệm.

Cách riêng phải dạy cho giáo lư viên biết chuẩn bị mục vụ các bí tích, để họ có thể giúp các tín hữu hiểu rơ hơn ư nghĩa tôn giáo của các dấu chỉ và tin tưởng đến với các nguồn mạch sự sống siêu nhiên không hề vơi. Đừng quên một việc qua trọng là giúp các tín hữu đang đau khổ, sống hồng ân của bí tích Xức dầu bệnh nhân.

Việc giảng dạy lư thuyết và thực hành phải luôn ḥa hợp với nhau, sao cho việc khai tâm về sự dấn thân tông đồ được tiệm tiến và đầy đủ.

Trong quá tŕnh chuẩn bị cho giáo lư viên làm công tác huấn giáo nên nhắc lại cho giáo lư viên “Chỉ thị tổng quát về Huấn giáo”, nhất là phần thứ tư “Những yếu tố của phương pháp luận” (Xem Hướng dẫn của Thánh Bộ Giáo sĩ năm 1971, 70) (tlđd, số 24).

 

3.7 Sự nhiệt thành truyền giáo:

“Chiều kích truyền giáo thuộc về căn tính giáo lư viên và định tính mỗi một hoạt động tông đồ. Do đó, phài ưu tiên huấn luyện cho giáo lư viên về truyền giáo bằng cách quan tâm đảm bảo cho mỗi giáo lư viên được khai tâm thích hợp, cả lư thuyết lẫn thực hành, về việc dấn thân với tư cách là giáo dân, thông qua các giai đoạn tiệm tiến vốn là các đặc điểm của hoạt động truyền giáo:

- Hiện diện một cách tích cực trong xă hội bằng chứng tá đời sống, đối thaọi thẳng thắn và cởi mở với mọi người, cộng tác trong đức ái để giải quyết các vấn đề chung (xem Sắc lệnh Truyền giáo của Công đồng Va-ti-can II, 12; Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế của Đức Gio-an Phao-lô II, 42-43; Giáo Lư Hội Thánh Công giáo, 854).

- Loan báo cách thẳng thắn (Cv 4,13; 28,31) sự thật về Chúa và về Đấng được Chúa Cha sai đến để cứu độ mọi người, là Đức Giê-su Ki-tô (2 Tm 1,9-10), làm thế nào để những người ngoài Ki-tô giáo, được Chúa Thánh Thần mở trí mở ḷng (Cv 16,14), có thể tin và tự do trở lại với Chúa (xem Sắc lệnh Truyền giáo của Công đồng Va-ti-can II, 13; Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế của Đức Gio-an Phao-lô II, 44-45; Giáo Lư Hội Thánh Công giáo, 854).

- Gặp gỡ tín đồ của các tôn giáo khác, không thiên kiến mà đối thoại chân thành, cởi mở.

- Chuẩn bị cho người dự ṭng đến với mầu nhiệm Cứu độ, thực hành các giáo huấn Tin Mừng, sống đời Ki-tô hữu, phụng vụ và bác ái của dân Thiên Chúa (xem Sắc lệnh Truyền giáo của Công đồng Va-ti-can II, 14; Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế của Đức Gio-an Phao-lô II, 46-47; Giáo Lư Hội Thánh Công giáo, 854).

- Xây dựng cộng đoàn bằng cách chuẩn bị cho các ứng sinh lănh nhận phép Thánh tẩy và các bí tích khai tâm khác, để gia nhập Hội Thánh Chúa Ki-tô, Đấng là ngôn sứ, tư tế và mục tử (xem Sắc lệnh Truyền giáo của Công đồng Va-ti-can II, 15; Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế của Đức Gio-an Phao-lô II, 48; Giáo Lư Hội Thánh Công giáo, 854).

- Dưới quyền các mục tử  và cộng tác với các tín hữu khác, chu toàn các trách vụ, xét trên b́nh diện mục vụ – hưpớng về sự trưởng thành của giáo hội địa phương. Các việc phục vụ này gắn liền với những nhu cầu riêng của mỗi giáo hội, và xác định tính cách của giáo lư viên trong các miền truyền giáo. Hệ quả là các hoạt động huấn luyện phải giúp giáo lư viên nhạy bén về truyền giáo, bằng cách giúp giáo lư viên khám phá mọi hoàn cảnh thuận lợi để loan báo Tin Mừng và dấn thân vào đó” (tlđd, số 25).

 

3.8 Ư thức về Giáo Hội:

“Giáo hội tự bản chất là truyền giáo và được sai đi để rao giảng Tin Mừng cho mọi người; điều này dẫn đến hai xác tín: xác tín thứ nhất: hoạt động tông đồ không phải là hành vi cá nhân và đơn độc; xác tín thứ hai: hoạt động tông đồ được hoàn tất trong sự hiệp thông Hội Thánh, khởi đầu từ giáo hội địa phương với Giám mục của ḿnh.

Những ǵ Đức Phao-lô VI nhận xét về những người rao giảng Tin Mừng (xem Tông huấn Loan báo Tin Mừng của Đức Phao-lô VI, 60) đều có thể áp dụng thích đáng cho các giáo lư viên, những người mà vai tṛ của họ thực sự thuộc về Hội Thánh và do đó mang tính cộng đoàn (xem Tông huấn Việc giảng dạy Giáo lư củc Gio-an Phao-lô II, 24). Quả thế, giáo lư viên được các vị mục tử ủy nhiệm và chu toàn sứ mạng  đă lănh nhận từ Hội Thánh và nhân danh Hội Thánh. Giáo lư viên không phải là người thày mà là đầy tớ khiêm hạ, nên hành động của họ nối kết với hành động của toàn  Hội Thánh, trên b́nh diện thể chế và ân sủng”

Sau đó Tài liệu Hướng Dẫn c̣n đề cập đến các thái độ căn bản cần huấn luyện cho giáo lư viên theo chiều kích cộng đoạn là: sẵn sàng vâng phục các vị mục tử, khả năng cộng tác ở nhiều cấp độ khác nhau (tlđd, số 26).

 

IV. THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

Câu hỏi  chung cho tất cả các tổ:

Các bạn giáo lư viên có cảm nghĩ  và đề nghị ǵ sau khi nghe tŕnh bày quan điểm, lập trường, chỉ thị của Giáo Hội về

(1)  bản chất, mục đích và nhiệm vụ của việc giảng dạy giáo lư,

(2)  vai tṛ của giáo lư viên,

(3)  việc huấn luyện  cần thiết đối với giáo lư viên?

Câu hỏi 1 cho các tổ mang số lẻ:

Nh́n vào cách sống đạo của người Công giáo Việt Nam chúng ta thấy phần đông giáo dân sống đạo nặng t́nh cảm mà thiếu hiểu biết; nặng kinh kệ mà chưa quen với Thánh Kinh, Công Đồng, Giáo huấn Xă hội của Giáo Hội; nặng luật lệ mà chưa nắm bắt tinh thần của Đạo; nặng h́nh thức mà chưa có chiều sâu và sự trưởng thành, xác tín…. Riêng giới trẻ th́ phần đông kinh kệ đă chẳng thuộc mà Giáo lư, Thánh Kinh, Công đồng cũng chẳng quan tâm học hỏi.  

Theo các bạn th́ (1o) Nhận xét trên có đúng không? đúng bao nhiêu %? (2o) Tại sao lại có t́nh trạng trên? (3o) Để thay đổi t́nh trạng trên th́ Giáo hội (cụ thể là giáo xứ và giáo phận) phải làm những ǵ?

Câu hỏi 2 cho các tổ mang số chẵn:

Nh́n vào cách giảng dạy giáo lư của các xứ đạo, chúng ta thấy phần đông giáo lư viên là chỉ là những người thiện chí mà không được đào tạo, nên kinh nghiệm sống đạo, kiến thức giáo lư và phương pháp sư phạm hạn chế.

Theo các bạn th́:

(1o) Nhận xét trên có đúng không?

(2o) Tại sao lại có t́nh trạng trên?

(3o) Giáo hội (cụ thể là giáo xứ và giáo phận) có cần phải đổi mới nhận thức về: (a)  tầm quan trọng của việc giảng dạy Giáo lư, (b) việc huấn luyện giáo lư viên, (c) phương pháp giảng dạy không? và

(4o) Làm thế nào để có được sự đổi mới trong ba lănh vực ấy?

TOÁT YẾU:

Về Giáo lư viên:

*  Giáo lư viên phải là người sống mật thiết với Chúa (người của Chúa).

*  Giáo lư viên phải là người yêu thương anh em đồng loại và yêu mến Hội thánh, tức phải gần gũi, hiểu biết và thông cảm với con người thời nay và ư thức những mặt mạnh, những mặt yếu của môi trường Giáo hội và xă hội của ḿnh (hồn tông đồ).

*  Giáo lư viên phải có một hiểu biết tương đối về giáo lư, phương pháp sư phạm, nghệ thuật giao tiếp và tâm lư con người…

*  Giáo lư viên phải được đào tạo – tương đối - về nhiều lănh vực: nhân bản, tâm linh, kiến thức, tinh thần, kỹ năng và phương pháp sư phạm.

Về việc giảng dạy Giáo lư:

Khi giảng dạy Giáo lư, giáo lư viên không thể không bắt chước phương pháp mà Thày Giê-su đă áp dụng trong việc huấn luyện các môn đệ: Người đă làm cho các ông hiểu biết về những chiều kích khác nhau của Nước Trời (Mt 13,1); Người đă dạy các ông cầu nguyện (lc 11,2); Người đă đề nghị với các ông những thái độ phù hợp với Tin Mừng (Mt 11,29); Người đă hướng dẫn các ông dấn thân vào công cuộc truyền giáo (Lc 10,1).

Như thế th́ giáo lư viên phải là người đồng hành của các học viên trên hành tŕnh t́m kiếm, khám phá, học hỏi và gắn bó với Chúa Giê-su và Thiên Chúa. Muốn đóng tṛn vai tṛ đồng hành ấy th́ giáo lư viên phải là người đă từng t́m kiếm, khám phá, học hỏi và gắn bó với Chúa Giê-su và Thiên Chúa. Lại phải là người biết cách đồng hành, tức biết cách giúp đỡ, hướng dẫn người học giáo lư với ḿnh.

Ngày 25 tháng 01 năm 2002

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

459/8 Cộng Ḥa, Phường 15, Tân B́nh, Sàig̣n

điện thoại 84.8.8102233

email: hnoivnguyen@yahoo.ca