Tu sĩ trong mối tương quan với Giáo hội địa phương

 JB. Trần Hữu Hạnh, fsf

 

 

CHỮ VIẾT TẮT

 

AG      Sắc lệnh về Truyền giáo

CCC  Sách Giáo lư Giáo hội Công giáo

CD      Sắc lệnh về Chức vụ Giám mục

CL                 Tông huấn Christifideles Laici

   EA      Tông huấn Giáo hội tại Á Châu

   EE     Văn kiện Những Yếu tố Cốt yếu của Đời tu

ET      Tông huấn Chứng tá Tin Mừng

FLC   Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn

GS      Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay

LG                 Hiến chế Tín lư về Hội thánh

      MR     Văn kiện Mối Tương quan giữa

            các Giám mục với các Tu sĩ

OT      Sắc lệnh về đào tạo linh mục

PC      Sắc lệnh về việc Canh tân Ḍng tu

PO      Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục

RD    Tông huấn Hồng ân cứu độ

RM     Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc

      SAFC  Huấn thị Xuất Phát Lại Từ Chúa Kitô.

SC       Hiến chế về Phụng vụ Thánh

VC                Tông huấn về Đời sống Thánh hiến

 

1. Một số vấn đề cần làm sáng tỏ

- Sự thánh hiến của các tu sĩ có nằm trong bản chất của Giáo hội hay không, v́ đời sống thánh hiến không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Hội thánh: giáo sĩ, giáo dân (LG 43). Đời tu chỉ là con đẻ của lịch sử, là món đồ phụ thuộc, nằm bên ngoài Hội thánh v́ nó không xuất hiện cùng với Hội thánh (chỉ xuất hiện vào thế kỷ III)? Như vậy nó không nằm trong ư định của Chúa Giêsu khi thành lập Giáo hội. 

- Một trong số những vấn đề chính nổi lên trong các cuộc bàn luận về đời sống thánh hiến của THĐGM năm 1994 là thần học về sự “thánh hiến”. Nó bị cho là có tính cách hàm hồ: sự thánh hiến hay tận hiến là một hành vi của con người hay của Thiên Chúa? Mọi Kitô hữu đều được thánh hiến trong bí tích Rửa tội, vậy sự thánh hiến của tu sĩ có thêm ǵ mới hay không? Ngoài ra, ư niệm thánh hiến chỉ nhấn mạnh đến chiều kích thiêng liêng của đời tu, mà không thúc đẩy họ tham gia vào hoạt động tông đồ.

--------------------------------------------

 

Công đồng Vatican II đă đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc canh tân Giáo hội: canh tân bằng cách vừa trở về nguồn, vừa thích nghi với những nhu cầu của xă hội đương thời. Đời tu cũng nằm trong chiều hướng canh tân của toàn thể Giáo hội: trở về nguồn mạch của đời sống Kitô hữu và ơn linh ứng nguyên thủy của hội ḍng cũng như sự thích nghi hội ḍng với những hoàn cảnh đổi thay qua các thời đại. Các văn kiện của công đồng Vatican II c̣n chứa đựng những nội dung về tu đức và thần học phong phú, luôn được các văn kiện hậu công đồng trích dẫn. Thực ra công đồng chỉ vạch ra những hướng đi, đặt nền tảng cho những suy tư tiếp theo. Bởi đó mà những văn kiện hậu công đồng đă đề ra những chỉ dẫn cho việc canh tân đời tu về nhiều khía cạnh khác nhau. Từ công đồng Vatican II, các văn kiện đều bao hàm tính chất thần học, tu đức, mục vụ, kể cả trong các văn bản pháp lư như bộ giáo luật (BGL). Đặc biệt, Tông huấn Vita Consecrata,1996, đă đúc kết những khuynh hướng khác nhau về thần học và mục vụ trong suốt 30- 35 năm, kể từ công đồng Vatican II.

Một trong những mối quan tâm của thần học là làm sao để phác họa rơ chân dung của đời tu, sự chính danh, vai tṛ và vị trí của họ trong đời sống Giáo hội. Bởi đó, phải sử dụng từ như thế nào cho chính xác hoặc phải hiểu những ư niệm về đời tu như thế nào để phân biệt với các bậc sống khác trong Giáo hội,… Thí dụ: “bậc trọn lành” hoặc gọi họ là đời sống thánh hiến, nhưng ư niệm thánh hiến này có khác với ư niệm thánh hiến trong phép rửa của mọi Kitô hữu? Có khác với ư niệm thánh hiến của BT Truyền chức và Hôn phối?

 

a. ĐSTH thuộc về Giáo hội theo cơ cấu Thần khí và thuộc bản chất của GH

Đời sống thánh hiến không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Hội thánh (giáo sĩ, giáo dân), nhưng thuộc về cơ cấu đặc sủng hay cơ cấu Thần khí[1]. Chúa Thánh Thần ban đặc sủng cho mỗi người để xây dựng lợi ích chung, xây dựng Thân thể Đức Kitô- Giáo hội (x. 1Cor). Đời sống thánh hiến chính nó cũng là một đặc sủng. Đó là một ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần được ban cho toàn thể Hội thánh (x. LG 43, 45). Bởi đó, Giáo hội không chỉ là một cơ cấu phẩm trật. Chính Thần khí làm cho Giáo hội sinh động. Chính Thần khí liên kết các chi thể lại với nhau như trong một thân thể.

 “Dù ba bậc sống khác nhau, đều biểu lộ mầu nhiệm duy nhất của Chúa Kitô. Giáo dân có đặc tính riêng biệt, tuy không độc hữu, là sinh hoạt trần thế; các chủ chăn có trách nhiệm về tác vụ; c̣n những người tận hiến th́ cố gắng trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục.” (VC 31; x. VC 32)

Mặc dù các h́nh thức tu tŕ (ẩn tu, đan tu, viện tu,…) bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ thứ III và phát triển theo gịng thời gian, nhưng công đồng quả quyết đời tu thuộc về bản chất của Hội thánh, chứ không phải là con đẻ của lịch sử (không phải là món đồ phụ thuộc, trang trí cho Hội thánh thêm màu mè, hoa lá cành…). Lư do là v́ cốt yếu của đời tu không hệ tại h́nh thức tu tŕ, mà hệ tại các lời khuyên Phúc âm. Các lời khuyên Phúc âm lại gắn chặt với bản chất của Hội thánh. Sự thánh thiện của Hội thánh được biểu lộ qua việc thực hành các lời khuyên Phúc âm (LG 39). Như vậy đời sống thánh hiến diễn tả chính bản chất của Hội thánh: việc họa lại đời sống Đức Kitô qua các lời khuyên Phúc âm nằm trong chính bản chất của Hội thánh, gắn liền với đời sống và sự thánh thiện của Hội thánh (x. LG 43, 44; Can 207 §2, 574 §1, 575)[2]. Có thể nói sự thánh thiện là lư do cho sự hiện hữu của họ.

 

b. Thánh hiến

Thần học cận đại coi đời sống tu là “bậc trọn lành.” Việc sử dụng cụm từ này có thể gây hiểu lầm. Bởi v́, mọi Kitô hữu đều được kêu gọi trở nên trọn lành (x. Mt 5, 48). Công đồng Vatican II cũng đă khẳng định mọi Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh trong bậc sống của ḿnh và có nhiều con đường để nên trọn lành (x. LG 11, 42), chứ không chỉ qua việc giữ các lời khuyên Phúc âm. Thêm vào đó, việc sử dụng cụm từ này sẽ làm cho người ta lầm tưởng rằng chỉ có những người sống trong bậc đó mới buộc phải nên trọn lành, c̣n các bậc khác th́ không buộc. Ngày nay, cụm từ “đời sống thánh hiến/tận hiến” (Vita consecrata), bao gồm cả tu hội đời, đă được sử dụng để chỉ đời sống tu tŕ, mặc dù nó không được sự đồng t́nh rộng răi v́ cũng gây ra ngộ nhận rằng chỉ có các tu sĩ là được thánh hiến cho Chúa, c̣n những người khác không được thánh hiến? Nhưng mọi Kitô hữu đều được thánh hiến qua phép rửa tội.

Ở đây, chúng ta cần phân biệt “nên thánh” trong bậc giáo dân và “nên thánh” trong bậc tu tŕ: sự thánh hiến phổ quát và sự thánh hiến riêng biệt, ơn gọi phổ quát nên thánh và ơn gọi cụ thể nên thánh theo từng bậc sống. Trong Cựu ước, có sự thánh hiến của toàn thể dân Chúa và cũng có sự thánh hiến của các ngôn sứ. Cũng vậy, trong Tân ước, ngoài sự thánh hiến phổ quát dựa trên bí tích Rửa tội, c̣n có sự thánh hiến đặc biệt của bí tích Truyền chức (x. CCC 1535, 1556-1559), của bí tích Hôn nhân (x. GS 48; CCC 1535), của các h́nh thức tu tŕ (x. CCC 916, 931; LG 44; PC 5). Mỗi người phải sống theo đặc sủng đă nhận được (x. 1Cr 7, 7- 20). Chính Chúa Thánh Thần làm cho Giáo hội trở thành một mối hiệp thông hữu cơ, trong sự đa dạng về các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ (x. AG 4; LG 4, 12, 13; GS 32, CL 30-31).[3]                             

Đời tu là một h́nh thức tận hiến đặc biệt cho Thiên Chúa, v́ sự thánh hiến chính là nền tảng của đời tu. Chính Thiên Chúa thánh hiến người tu sĩ. Ngài kêu mọi một người, tách riêng người ấy ra và trao cho người ấy một sứ mệnh trong kế hoạch cứu độ của Ngài (x. EE 5). Chúng ta cũng có thể hiểu là Giáo hội tận hiến tu sĩ cho Thiên Chúa qua phụng vụ cung hiến. Trong phụng vụ, Hội thánh thay mặt Chúa mà nhận lời khấn và qua việc cử hành phụng vụ, Hội thánh tŕnh bày việc tuyên khấn như một t́nh trạng thánh hiến cho Thiên Chúa (x. LG 45; can 654).

Sự thánh hiến của các tu sĩ dựa trên việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm (x. Can 573 §1; EE 4, 7). Việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm tách biệt họ khỏi những sự vật trần thế, để họ chỉ phụng sự một ḿnh Chúa mà thôi (x. PC 5). Đời sống thánh hiến dựa trên phép Thánh Tẩy, nhưng sống bí tích này một cách triệt để hơn. Có thể nói là họ được thánh hiến một lần nữa: “Nhờ phép Thánh Tẩy, họ đă chết cho tội lỗi và được cung hiến cho Thiên Chúa; nhưng để có thể thâu lượm dồi dào ơn ích của bí tích ấy, người Kitô hữu muốn nhờ việc khấn giữ ba lời khuyên Phúc âm trong Hội thánh, thoát ly khỏi những ngăn trở có thể làm cho họ không nhiệt tâm yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa cách hoàn hảo; và họ tận hiến để phụng sự Thiên Chúa cách thân t́nh hơn.” (LG 44) Đó là “một sự thánh hiến đặc biệt cắm rễ sâu trên sự thánh hiến của phép Rửa tội và bày tỏ sự thánh hiến phép Rửa tội cách đầy tràn viên măn.” (PC 5; x. LG 44; EE 6) Mẫu gương tuyệt đối của họ là Chúa Kitô, Đấng đă hiến trọn đời để sống cho t́nh yêu Thiên Chúa. Qua các lời khấn, người tu sĩ bắt chước mẫu gương ấy để dâng hiến chính ḿnh cho Thiên Chúa. Sự thánh hiến nói lên t́nh trạng họ được hoàn toàn dâng hiến cho Thiên Chúa, thuộc trọn về Chúa, trở thành sở hữu của Thiên Chúa, chỉ phụng sự một ḿnh Ngài. Đức Gioan Phaolô II gọi đó là một sự thánh hiến mới, v́ nó đ̣i hỏi một ư thức mới, một sự quyết tâm mới, t́nh yêu và ơn gọi mới, một sự cải hoán mới (x. RD 7) Đời sống thánh hiến được ví như “giao ước hôn nhân[4] với Chúa” (RD 8; x. LG 44, PC 1; EE 5), Đấng đáng yêu trên hết mọi sự.

Công đồng muốn xác định căn tính riêng biệt của đời tu bằng cách nêu lên lư tưởng “bước theo Đức Kitô”. Tuy nhiên, việc bước theo Đức Kitô chưa nói hết căn tính của đời tu, v́ mọi Kitô hữu đều được mời gọi noi gương Đức Kitô. Do đó, ta có thể xác định thêm, tu sĩ là người theo Đức Kitô cách tận căn, cách gần kề. Nhưng Đức Kitô đă hiến trọn cuộc đời để yêu mến Thiên Chúa bằng việc phụng sự Thiên Chúa và cứu độ nhân loại. Như vậy, lư tưởng của đời tu là bắt chước Đức Kitô trong sự tận hiến (x. EE 6). Chính v́ vậy mà sau công đồng, thần học về đời tu chú trọng tới ư niệm thánh hiến /tận hiến (consecration). Khuynh hướng này muốn làm nổi bật chiều kích hướng thượng của đời sống thánh hiến và định nghĩa đời tu như là sự tận hiến cho Thiên Chúa. Ư niệm này được giải thích rơ ràng trong văn kiện Những yếu tố cốt yếu của đời tu (EE) của Bộ Tu sĩ, từ số 5 đến số 12, năm 1983. Bên cạnh đó, thần học về đời tu cũng đi theo một chiều hướng khác, dựa trên ư niệm đặc sủng/sứ mệnh. Thần học về đặc sủng làm nổi bật tính cách năng động truyền giáo, tính chất đa dạng của các hội ḍng và đề cao tác động của Chúa Thánh Thần. Trong khi đó, thần học về thánh hiến khai triển chiều kích thần bí (hướng thượng) của đời tu, thích hợp với các hội ḍng chiêm niệm hơn là với các hội ḍng hoạt động và nó có khuynh hướng dẫn đến một mẫu số chung cho tất cả các hội ḍng, có nguy cơ làm mất đi tính cách đa dạng phong phú của đời tu. Thật vậy, ư niệm thánh hiến đào sâu chiều kích thiêng liêng, c̣n ư niệm đặc sủng nhấn mạnh đến sứ vụ. Như vậy, thánh hiến hay đặc sủng/sứ mệnh tạo nên căn tính của đời sống thánh hiến?

Sau công đồng, có nhiều văn kiện nói về thánh hiến và đặc sủng/sứ mệnh như: tông huấn Hồng ân cứu độ (RD) đào sâu về chiều kích thần bí của đời tu; văn kiện Mối tương quan giữa các Giám mục với các tu sĩ (MR) đề cập chiều kích đặc sủng/sứ mệnh; tông huấn Chứng tá Tin Mừng (ET), văn kiện Những yếu tố cốt yếu của đời tu (EE) và huấn thị Về việc đào tạo tu sĩ (PI) khai triển chiều kích thánh hiến và sứ mệnh; Tông thư gởi các người tận hiến nhân dịp năm Thánh Mẫu (22/5/1988) của Đức Gioan Phaolô II, mời gọi các tu sĩ  suy niệm với Đức Maria về ư nghĩa của đời sống thánh hiến, dựa trên ba chủ đề: ơn gọi, thánh hiến và hoạt động tông đồ; văn kiện Tu sĩ với sự thăng tiến con người nói về việc tu sĩ tham gia vào sứ mệnh của Giáo hội đối với con người và xă hội, v. v.

Chúng ta sẽ tiếp tục nói về sự thánh hiến trong đời tu khi khai triển tông huấn Vita Consecrata dưới đây.

Từ tài liệu làm việc (Instrumentum Laboris) đến các đề nghị (Propositiones) và tông huấn đều theo một cấu trúc giống nhau: thánh hiến- hiệp thông- sứ mệnh. Ba phần này ăn khớp và bổ túc cho nhau, giống như khi tŕnh bày và hiểu về Giáo hội. Đây là mô h́nh về Giáo hội đă trở thành quen thuộc. Giáo hội được tŕnh bày như là Mầu nhiệm, hiệp thông và sứ mệnh (x. LG, chương I; AG, chương I; CCC 748-975): chỉ có thể hiểu được Giáo hội trong mối tương quan với Thiên Chúa Ba Ngôi (Mystery), nguồn gốc của Giáo hội; qua đó, Giáo hội là bí tích của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại (Trinitarian Communion); và như một hệ quả, Giáo hội tham gia vào sứ mệnh cứu độ của Thiên Chúa  (Mission). Khi nh́n đời sống thánh hiến dưới khía cạnh Giáo hội học này, chúng ta mới hiểu được sự thánh hiến của đời tu, các đặc sủng, sự đa dạng, tính năng động và sáng tạo của đời sống này.

 

Thánh hiến theo Vita Consecrata (Phần I: số 14- 40)

Ngay số đầu tiên của phần I này, tông huấn đă cho thấy sự khác biệt giữa sự thánh hiến của phép Rửa và sự thánh hiến của đời tu. Sự thánh hiến của đời tu không phải là hệ quả tất yếu của sự thánh hiến của phép Rửa; v́ để bước theo Chúa Kitô, họa lại nếp sống của Ngài, cần phải có một ơn gọi đặc biệt và nhờ một ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Ơn gọi bao hàm sự tuyển chọn và thánh hiến (số 14, 17, 30, 31). Ân huệ này Thiên Chúa không ban cho tất cả mọi người, như chính Chúa Giêsu đă nói trong trường hợp độc thân tự nguyện (x. Mt 19, 10- 12). Bí tích Rửa tội không bao hàm một ơn gọi sống độc thân, sự từ bỏ của cải và sự vâng lời một bề trên, như trong bậc sống tu tŕ (số 30b). Mọi tín hữu đều được thánh hiến qua phép Rửa và Thêm sức, những người lănh tác vụ do bí tích Truyền chức và trong đời sống tu tŕ “giả thiết một ơn gọi riêng và một h́nh thái thánh hiến đặc biệt, nhằm chu toàn một sứ mệnh riêng… Những người tận hiến tuyên giữ những lời khuyên Phúc âm, được thánh hiến một cách mới mẻ và đặc biệt, dù không phải là bí tích, nhưng ràng buộc họ chấp nhận lối sống độc thân, khó nghèo và vâng phục mà chính Chúa Giêsu đă sống và đề nghị cho các môn đệ.” (số 31) “Trong truyền thống Giáo hội, việc tuyên khấn của đời sống tu tŕ được xem như việc đào sâu độc đáo và phong phú sự thánh hiến đă lănh nhận trong phép Thánh Tẩy. Nhờ việc tuyên khấn ấy, sự kết hợp thâm sâu với Chúa Kitô đă khai mào trong phép Thánh Tẩy, được triển nở thành một hồng ân trở nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài một cách rơ rệt và trọn vẹn hơn nhờ tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm… Việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm cũng là việc triển khai ân sủng của bí tích Thêm sức, nhưng nó vượt quá những đ̣i hỏi thông thường của việc thánh hiến nhận trong bí tích này. V́ vậy, cần có một ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thần để phát triển những khả năng mới, sản sinh những hoa trái thánh thiện và tông đồ như lịch sử đời sống thánh hiến đă chứng tỏ.” (số 30)

Nhưng tại sao đời sống thánh hiến không phải là bí tích như các bậc sống khác? Đây là vấn đề đă và vẫn đang được bàn căi. Chúng ta có thể trả lời rằng không cần thiết để có thêm một bí tích nữa, v́ đời sống thánh hiến là một lối sống theo Thần khí để đào sâu thêm, sống triệt để ba bí tích đă có sẵn: các bí tích khai tâm Kitô giáo. Đây là ơn gọi đặc biệt và sứ mệnh của họ giữa dân Thiên Chúa. Thật vậy, đời sống thánh hiến làm nổi bật sự thánh hiến của Kitô hữu (bí tích Rửa tội), sự hiệp thông[5] (bí tích Thánh Thể) và sứ mệnh (bí tích Thêm sức) (số 31b), khi bước theo Chúa Kitô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục (số 1a). V́ thế, tông huấn đă khai triển ba phần chính: thánh hiến, hiệp thông và sứ mệnh, để nhấn mạnh đến ư nghĩa cũng như nội dung của chúng. Qua đó, đời sống thánh hiến “biểu lộ rơ ràng bản tính sâu xa của ơn gọi Kitô giáo”, “gắn chặt với nếp sống, sự thánh thiện và sứ mệnh của Giáo hội” (số 3a), “nhắc nhở cho những người đă được rửa tội về các giá trị cơ bản của Tin mừng” (số 33a).

 Sự kêu gọi và thánh hiến là do sáng kiến của Chúa Cha. Ngài tách riêng một ai đó cho Ngài (số 17). Bước theo Chúa Kitô, được thánh hiến nhờ tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm, trở nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài. Ngài là con đường dẫn tới Chúa Cha và sứ mệnh (số 18). Các đặc sủng, sự thánh hiến và sứ mệnh là công việc của Chúa Thánh Thần (số 19). Có thể tóm tắt nguồn gốc Ba Ngôi của đời sống thánh hiến như sau: sáng kiến ban đầu phát xuất từ Chúa Cha (số 17), sự đáp trả qua việc bước theo Chúa Kitô (số 18) và được thánh hiến bởi Chúa Thánh Thần (số 19)

Sứ mệnh truyền giáo của đời sống thánh hiến được nói đến ở mọi nơi trong tông huấn Vita Consecrata, ngay từ số đầu tiên. Mọi sự đều được hiểu trong mối quan hệ với sứ mệnh. Mọi sự đều qui về sứ mệnh. Mọi sự đều trở thành sứ mệnh. Sứ mệnh bao trùm toàn bộ đời sống của những người tận hiến. Đặc biệt, tông huấn nối kết hai ư niệm thánh hiến và sứ mệnh: thánh hiến và sứ mệnh bổ túc cho nhau và đan quyện vào nhau, tạo nên căn tính của đời sống thánh hiến. Không thể hiểu cái này nếu không có cái kia. Người tận hiến không thể yêu Chúa, mà lại không yêu người thân cận (x. Mt 22, 34-40; 1Ga 4, 20-21). Thánh hiến bao hàm sứ mệnh, v́ việc trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô cũng có nghĩa là tham gia vào sứ mệnh của Ngài: thánh hiến để được sai đi. Sứ mệnh lại dẫn đến thánh hiến, v́ việc truyền giáo của đời sống thánh hiến thiết yếu ở chứng tá của chính sự tận hiến (số 76). Chứng tá quan trọng nhất của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện (số 32 - 35). Sự thánh hiến, trước tất cả, là hành động của Chúa Cha; bước theo Chúa Kitô trên con đường đến với Chúa Cha và phục vụ kế hoạch cứu độ của Chúa Cha; Chúa Thánh Thần, nguồn gốc mọi đặc sủng, cụ thể hóa sứ mệnh của đời sống thánh hiến trong những t́nh huống lịch sử của nhân loại.

 

2. Thẩm Quyền của Hội Thánh (Giám mục) đối với đời tu

Các Giám mục dùng lề luật mà hướng dẫn một cách khôn ngoan việc thực thi các Lời khuyên Phúc âm; phê chuẩn những luật ḍng (x. LG 45); thừa nhận và trao phó cho các hội ḍng sứ mệnh riêng biệt của họ, khuyến khích họ dấn thân thành lập các cộng đoàn mới (x. AG 18, 27); giúp cho các hội ḍng phát triển và sinh hoa trái theo tinh thần của đấng sáng lập bằng cách lấy quyền bính của ḿnh mà săn sóc, bênh vực và nâng đỡ (x. LG 45).

Bộ Giáo luật cũng tŕnh bày: “Hội thánh có thẩm quyền giải thích các lời khuyên Phúc âm, ban hành những qui luật chi phối việc thực hành chúng, thiết lập những h́nh thức sống bền vững các lời khuyên đó bằng cách phê chuẩn những hội ḍng và lo liệu để cho các hội ḍng được tăng tiến và phát triển theo tinh thần của các đấng sáng lập và truyền thống lành mạnh.” (Can 576; x. LG 43)

Ở đây, cần phân biệt việc sáng lập và thiết lập. Việc sáng lập do ơn Chúa ban cho một tín hữu nào đó, thôi thúc họ lập nên một hội ḍng mới để đạt tới mục tiêu nào đó. Việc thiết lập là một hành vi pháp lư, thuộc thẩm quyền của Giáo hội.

 Mọi đặc sủng xác thực đều hàm chứa những yếu tố nào đó của tính sáng tạo đích thực và sáng kiến đặc biệt cho đời sống thiêng liêng của Hội thánh. Bởi đó mà đôi khi nó gây ra những khó khăn, v́ không phải lúc nào cũng dễ nhận ra ngay tác động của Thần khí. Mutuae Relationes đă  nhận định rằng đặc sủng đích thực thường gắn liền với thập giá (Thiên Chúa luôn thanh luyện những người Ngài tuyển chọn để chuẩn bị cho họ thực hiện công việc của Ngài), nhưng nó thực sự hữu ích để phân định tính xác thực của một ơn gọi (x. MR 12). Đây thực sự là nhiệm vụ khó khăn và đầy trách nhiệm của các Giám mục. Bởi v́ không phải lúc nào cũng dễ phân biệt và đón nhận đặc sủng (x. CL 24). Các Giám mục phải cố gắng biện phân những đ̣i hỏi của Thần khí, phân định tính cách trung thực mỗi khi có một hội được lập. Kiên nhẫn thẩm định cách khiêm tốn, khách quan để t́m hiểu về các viễn tượng tương lai và các dấu chỉ về sự hiện diện có thể có của Chúa Thánh Thần, hoặc là để đón nhận đặc sủng với ḷng biết ơn và an ủi, hoặc để tránh lập ra bừa băi những hội ḍng vô ích hoặc thiếu sinh lực cần thiết. “Không được dập tắt Thần khí, nhưng nghiệm xét mọi sự, điều ǵ tốt lành th́ giữ lấy” (1Tx. 5, 12. 19- 21; x. LG 12; MR 40- 41, 51).

Trong bối cảnh có nhiều cộng đoàn mới ra đời hiện nay,[6] để biện phân các đặc sủng, tông huấn về đời sống thánh hiến (VC) hướng dẫn: “Để có thể gọi là đời sống thánh hiến, nguyên tắc căn bản là những nét đặc thù của những cộng đoàn và những nếp sống mới này cần phải xây dựng trên những yếu tố chủ yếu của thần học và giáo luật về đời sống thánh hiến.[7] Việc biện phân này bao gồm cả cấp độ địa phương lẫn cấp độ hoàn vũ, v́ cùng tuân phục một Thánh Thần duy nhất. Trong mỗi giáo phận, Giám mục sẽ thẩm định tính chính đáng và chứng tá đời sống của các đấng sáng lập các cộng đoàn ấy, linh đạo của họ, sự nhạy cảm của họ đối với Giáo hội trong việc thực thi sứ mệnh, phương pháp huấn luyện và cách thức gia nhập cộng đoàn. Giám mục phải khôn ngoan lượng định những nhược điểm có thể có trong khi kiên nhẫn chờ đợi sự đơm bông kết trái (x. Mt 7, 16), để có thể nhận ra tính xác thực của đặc sủng. Cách riêng, Giám mục, căn cứ trên những tiêu chuẩn rơ ràng, phải xác định được năng lực của những thành phần trong những cộng đoàn trên xin lănh nhận các chức thánh.” (VC 62)

 

3. Mối tương quan với Giáo hội địa phương

a. Đặc sủng của đời sống thánh hiến được ban cho GH

Lumen Gentium đă đặt đời sống thánh hiến trong ḷng Hội thánh, để nhắc nhở họ rằng việc theo Chúa không chỉ là lợi ích của riêng họ, mà c̣n liên hệ tới cả Hội thánh nữa. V́ thuộc về bản chất của Hội thánh, nên đời tu cũng gắn liền với sứ mệnh của Hội thánh (x. LG 44). Họ phải sống trong Hội thánh và sống bằng sự sống của Hội thánh. Qua họ, Hội thánh bộc lộ t́nh yêu không chia sẻ dành cho Chúa Kitô. Nói cách khác, các tu sĩ thay mặt cho Hội thánh để bày tỏ sự gắn bó mật thiết với Chúa Kitô, đặt Ngài trên hết mọi sự.  Thật vậy, công đồng đă khẳng định mối liên hệ giữa đời tu với bản chất, sự thánh thiện và sứ mệnh truyền giáo của Hội thánh: đời tu được xem như là dấu chỉ trong Hội thánh. Đặc sủng của họ không chỉ được ban tặng cho riêng họ, nhưng c̣n là một ân huệ cho đời sống và sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội (x. LG 43, 44; PC 5). Sự tận hiến của tu sĩ “liên kết họ với Giáo hội và với mầu nhiệm của Giáo hội cách đặc biệt”, thúc đẩy họ hành động với ḷng tận tụy không chia sẻ để phục vụ lợi ích của toàn Thân Thể (x. LG 44; MR 10). Mọi hội ḍng được thành lập là để phục vụ Giáo hội, làm cho Giáo hội thêm phong phú qua đặc tính và sứ vụ riêng biệt của ḿnh (MR 14b). 

Sự tận hiến của tu sĩ được Hội thánh tiếp nhận, nên họ biết rằng họ cũng dấn thân để phục vụ Hội thánh (x. PC 5). “Qua tác động của hàng Giáo phẩm, Thiên Chúa thánh hiến các tu sĩ để phục vụ dân Thiên Chúa ở một mức độ cao hơn (x. LG 44). Cũng vậy, qua thừa tác vụ của các mục tử, Giáo hội ‘không những phê chuẩn việc khấn ḍng để đưa đời sống tu tŕ lên bậc sống do Giáo luật qui định; mà qua cử hành phụng vụ, Giáo hội c̣n tŕnh bày việc khấn ḍng như một bậc sống được cung hiến cho Thiên Chúa’ (LG 45; SC 80)” (MR 8)

 

b. Vai tṛ và Vị trí của đời sống thánh hiến trong Giáo hội

Mỗi hội ḍng có một vị trí trong đời sống Giáo hội và một sứ mệnh phải hoàn thành. Khi được thiết lập, hội ḍng đương nhiên trở thành pháp nhân công trong Hội thánh. Họ hoạt động nhân danh Hội thánh để đạt được mục đích nhằm tới lợi ích chung của Hội thánh (x. PC 8; Can 116, §1; 675, §3).

Đời sống thánh hiến nằm giữa trung tâm của Hội thánh như một yếu tố quyết định cho sứ mệnh của Hội thánh, bởi v́ nó “biểu lộ bản tính sâu xa của ơn gọi Kitô giáo” (AG 18), và sự cố gắng vươn lên của Hội thánh, Hiền Thê, tới sự hiệp nhất với Đức Lang Quân duy nhất (x. LG 44; ET 7; EN 69).

Các văn kiện của Giáo hội, đặc biệt là các Đức Giáo hoàng đều đề cập đến sứ mệnh truyền giáo (mission) của các đấng sáng lập. Đặc sủng của các đấng sáng lập th́ đa dạng. Giáo hội, như Đức Gioan Phaolô II đă tŕnh bày, cần sự đa dạng về đặc sủng và ơn gọi này, bởi v́ cả sự phong phú về tinh thần và sự phục vụ nhân loại của Giáo hội đều tùy thuộc vào nó.[8] Bởi vậy, Ad Gentes đă tŕnh bày rằng trong việc xây dựng Giáo hội địa phương, việc thành lập các hội ḍng cần phải được ưu tiên ngang hàng với việc đào tạo hàng giáo sĩ (x. AG 15, 18).

Theo Vita Consecrata, Đời sống thánh hiến, xét theo bản tính (họa lại nếp sống của Chúa Kitô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục), gắn chặt với đời sống và sự thánh thiện của Giáo hội (VC 3, 29), thuộc về cơ cấu thần thiêng của Giáo hội (VC 30- 31). Đời sống thánh hiến họa lại nếp sống của Chúa Kitô trinh sạch, khó nghèo và vâng phục- nếp sống biểu lộ t́nh con thảo của Ngài với Chúa Cha (VC 1a, 16, 18, 21...), nên nó có vị trí ưu việt trong Hội thánh, là một ân huệ qúi báu và cần thiết cho hiện tại và tương lai của dân Thiên Chúa (VC 3, 18, 32, x. 105). Giáo hội cần họ để họa lại nếp sống của Con Thiên Chúa. Thêm vào đó, đời sống thánh hiến c̣n biểu lộ mối t́nh duy nhất của Giáo hội dành cho Đức Lang Quân (VC 3, 34). Như thế, đời sống thánh hiến gắn liền với sứ mệnh (VC 1, 25) và cánh chung của toàn thể Giáo hội (VC 26). Tông huấn khẳng định một cách rơ ràng tầm quan trọng và sự cần thiết của đời sống thánh hiến đối với Giáo hội (VC 3, 6, 18,29, 32, 105). Mặc dù tông huấn cũng coi tất cả mọi Kitô hữu đều b́nh đẳng như nhau, cùng có chung một phẩm giá, cùng được kêu gọi nên thánh (VC 31b, 18b) và mỗi người đều làm phong phú người khác (VC 33b), nhưng tông huấn cho thấy vị trí trổi vượt của đời sống thánh hiến, v́ người được thánh hiến sống triệt để nếp sống mà Chúa Giêsu đă sống khi được Chúa Cha sai đến thế gian.[9]

Nhờ có sự đóng góp của các tu sĩ mà Tin mừng có thể được biết đến rộng răi như ngày nay, Giáo hội mới được cắm sâu vào nhiều nơi trên thế giới và bộ mặt Giáo hội được tươi thắm tại các Giáo hội c̣n non trẻ (x. VC 47).

Các Giám mục được yêu cầu đón tiếp và trân trọng các đoàn sủng của các hội ḍng, dành cho chúng một chỗ trong kế hoạch mục vụ của giáo phận. Các ngài phải đặc biệt quan tâm đến các hội ḍng thuộc quyền giáo phận, được trao phó cho các ngài chăm sóc đặc biệt. Một giáo phận không có đời sống thánh hiến sẽ thiếu nhiều ơn huệ thiêng liêng, thiếu những nơi dành riêng cho việc t́m kiếm Thiên Chúa, thiếu các hoạt động tông đồ và những phương thức mục vụ chuyên biệt; hơn nữa, giáo phận đó có thể suy yếu đi rất nhiều, v́ thiếu vắng tinh thần truyền giáo vốn là đặc điểm của hầu hết các hội ḍng (x. AG 18[10]). V́ thế, cần biết đón nhận, với ḷng tri ân và quảng đại, hồng ân của đời sống thánh hiến mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội địa phương.” (VC 48)

 

c. Phục vụ Giáo hội qua cách sống và các hoạt động tông đồ

Công đồng đă kêu gọi và khuyến khích họ: “Những kẻ được Thiên Chúa mời gọi thực hành và quyết tâm khấn giữ trung thành với các lời khuyên Phúc âm đều hiến thân cho Thiên Chúa một cách đặc biệt, noi gương Chúa Kitô khiết tịnh và khó nghèo (x. Mt 8, 20; Lc 9, 58) và v́ vâng phục Chúa Cha cho đến chết trên thập giá (x. Pl 2, 8) đă cứu chuộc và thánh hóa nhân loại. Được sự thúc đẩy của t́nh yêu mà Chúa Thánh Thần đă đổ tràn trong ḷng (x. Rm 5, 5), họ càng ngày càng sống cho Chúa Kitô và Thân Thể Ngài là Giáo hội (x. Cl 1, 24). Bởi vậy, họ càng nồng nàn kết hợp với Chúa Kitô bao nhiêu qua sự dâng ḿnh gồm trọn cả cuộc sống, th́ đời sống Giáo hội càng phong phú hơn và việc tông đồ của Giáo hội càng dồi dào mănh liệt hơn bấy nhiêu.” (PC 1)

Cốt yếu của đời sống thánh hiến là việc bắt chước Chúa Kitô qua việc thực hành các lời khuyên Phúc âm. Họ đem Phúc âm áp dụng vào những nhu cầu cụ thể trong những môi trường và thời gian khác nhau. Qua cách sống của họ, người ta có thể thấy được Chúa Kitô đang hiện diện. Đời thánh hiến c̣n là dấu chỉ (chứng tá) đời sống mai hậu (x. LG 44; PC 1; Can 607 §1), v́ họ thể hiện việc h́nh thành nước Thiên Chúa ngay tại trần gian này qua đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn. Họ hướng Hội thánh về tương lai, đích điểm của cuộc lữ hành. Họ bắt chước Chúa Kitô trong việc tận hiến cho Thiên Chúa và phục vụ nước trời.

Các lời khuyên Phúc âm dẫn những người tận hiến đến đức ái, và nhờ đó, các lời khuyên này kết hợp họ cách đặc biệt với Hội thánh và với mầu nhiệm Hội thánh. Do đó, đời sống thiêng liêng của họ phải mưu cầu ích lợi cho toàn thể Hội thánh. Họ có bổn phận làm cho nước Chúa được phát triển và hiển trị khắp nơi (x. LG 44).

 “Hoạt động tông đồ của các tu sĩ tiên vàn hệ tại việc chứng tá của đời tận hiến. Họ có bổn phận hun đúc đời sống chứng tá nhờ lời cầu nguyện và việc đền tội.” (Can 673).

Đối với các ḍng thuần túy chiêm niệm: “Các ḍng sống đời thuần túy chiêm niệm luôn luôn giữ một phần cao trọng trong Nhiệm thể của Chúa Kitô, bởi v́ họ dâng lên Thiên Chúa hy lễ ngợi khen tuyệt vời: họ trang điểm dân Chúa với những hoa trái trù phú của sự thánh thiện, họ thúc đẩy dân Chúa bằng gương sáng và làm nó phát triển nhờ sự phong nhiêu tông đồ kín nhiệm của ḿnh. V́ lẽ ấy, dù nhu cầu hoạt động tông đồ khẩn cấp đến đâu, các phần tử của các hội ḍng này không thể được gọi hoạt động hợp tác các công việc mục vụ khác.” (Can 674)

Đối với các ḍng hoạt động tông đồ: “Hoạt động tông đồ làm nên phần cốt yếu của các hội ḍng chuyên biệt tông đồ. V́ vậy, toàn thể đời sống của các phần tử phải được thấm nhần tinh thần tông đồ, và toàn thể hoạt động tông đồ phải được chất chứa tinh thần tu tŕ.” (Can 675 §1)

“Các Bề trên và các phần tử hăy trung thành duy tŕ sứ mệnh và các công tác riêng của ḍng. Tuy nhiên, họ hăy biết thích ứng chúng cách khôn ngoan chiếu theo nhu cầu của thời thế và địa phương, kể cả bằng việc sử dụng các phương tiện mới mẻ và thích ứng.” (Can 677 §1).

Dù nhu cầu mục vụ cấp bách thế nào đi nữa, chúng ta luôn phải nhớ rằng sự đóng góp tốt nhất mà một hội ḍng có thể đem lại cho Giáo hội là sự trung thành với đoàn sủng của họ. Hội ḍng càng hiện diện theo đoàn sủng của ḿnh, càng đem lại nhiều hoa trái (x. FLC 61; MR 49- 50).

Trong tông huấn Giáo hội tại Á Châu, Đức Gioan Phaolô II viết: “Tôi hiệp ư với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà kêu gọi những người sống đời thánh hiến, canh tân sự nhiệt thành của họ trong việc loan báo chân lư cứu độ của Chúa Kitô. Tất cả phải được huấn luyện và đào tạo xứng hợp; nền huấn luyện này cần tập trung vào Chúa Kitô và trung thành với đoàn sủng nền tảng của họ, nhấn mạnh đến sự thánh thiện và chứng tá cá nhân; tu đức và lối sống của họ phải nhạy cảm với gia sản tôn giáo của dân tộc mà họ đang sống và phục vụ. Tuy vẫn tôn trọng đoàn sủng riêng của họ, họ phải hoà nhập trong chương tŕnh mục vụ của Giáo Phận nơi họ làm việc. Về phần ḿnh, các Giáo Hội địa phương cần đẩy mạnh sự hiểu biết về lư tưởng của các tu sĩ và đời sống thánh hiến, và cổ vơ những ơn gọi đó.” (EA 44)

Các Giám mục cần trợ giúp, nâng đỡ, thăng tiến và bênh vực những người sống đời tận hiến, hầu giúp họ hội nhập, sống hiệp thông với Giáo hội, khai mở những định hướng thiêng liêng và mục vụ đáp ứng lại những nhu cầu của thời đại ngày nay, nhưng vẫn trung thành với đoàn sủng của mỗi hội ḍng. Những người tận hiến, tùy theo khả năng và sứ vụ của ḿnh, nên quảng đại cộng tác với Giáo hội địa phương trong tinh thần hiệp thông trọn vẹn với Giám mục trong các lănh vực loan báo Tin mừng, huấn giáo và sinh hoạt giáo xứ. Các tu sĩ phải coi Giám mục không chỉ như chủ chăn của toàn thể cộng đồng giáo phận, mà c̣n như vị bảo đảm sự trung tín của họ với ơn gọi trong việc chu toàn việc phục vụ v́ lợi ích của Giáo hội địa phương. Các tu sĩ hăy mau mắn và trung thành hưởng ứng những lời thỉnh cầu và nguyện vọng của các Giám mục để nhận lănh những vai tṛ rộng lớn hơn trong việc cứu độ con người, tuy vẫn phải duy tŕ đặc tính của hội ḍng và theo đúng hiến pháp. Các hội ḍng, khi điều phối việc phục vụ Giáo hội hoàn vũ và việc phục vụ Giáo hội địa phương, không được nại vào quyền tự trị chính đáng của ḿnh, thậm chí cả quyền miễn trừ[11], để biện minh cho những chọn lựa đi ngược lại những đ̣i hỏi của sự hiệp thông hữu cơ cần thiết cho đời sống lành mạnh của Giáo hội. Do đó, cần có sự đối thoại thân ái và cởi mở giữa các Giám mục và các bề trên các hội ḍng để cùng đi đến quyết định và thực hiện chung. Sự quan tâm của các Giám mục đối với ơn gọi và sứ vụ của các hội ḍng và thái độ kính trọng của các hội ḍng đối với thừa tác vụ Giám mục được thể hiện qua việc mau mắn đón nhận những chỉ thị cụ thể về mục vụ giáo phận, thể hiện hai h́nh thái liên kết chặt chẽ của một đức ái duy nhất trong Giáo hội. Đức ái đ̣i hỏi mỗi bên phải phục vụ sự hiệp thông hữu cơ (vừa có tính đoàn sủng, vừa có tính phẩm trật) của toàn dân Thiên Chúa (x. VC 49; MR 52; CD 35,1).

“Cùng với hàng giáo sĩ của ḿnh, các Giám mục phải là những người xác tín về đời sống thánh hiến, che chở những cộng đoàn tu sĩ, giáo dục ơn gọi và bảo vệ một cách hữu hiệu  đặc tính của mỗi gia đ́nh hội ḍng trong lănh vực thiêng liêng cũng như hoạt động tông đồ.” (MR 28; x. MR 46, 52)

Cần có sự đối thoại thường xuyên trong t́nh bác ái giữa Giám mục và các bề trên các hội ḍng trong giáo phận. Qua các cuộc gặp gỡ, các bề trên có thể thông báo cho các Giám mục biết những kế hoạch tông đồ ḿnh đang nhắm đến trong giáo phận của các ngài, để cùng trao đổi thực hiện. Do đó, Các bề trên thượng cấp cần phải nắm vững được khả năng của các tu sĩ dưới quyền ḿnh, và đồng thời nắm bắt được những nhu cầu tông đồ của các giáo phận mà ḿnh được mời gọi cộng tác. Các Giám mục và những cộng sự viên trực tiếp của ngài không những phải hiểu rơ đặc tính riêng biệt của mỗi hội ḍng, mà c̣n phải nắm rơ hiện trạng và các tiêu chuẩn canh tân của họ. Đối thoại giúp hiểu biết lẫn nhau để có thể hợp tác với nhau, nhất là trong lănh vực mục vụ. Nhằm tạo ra sự hiểu biết giữa đôi bên, nên đưa môn thần học và linh đạo của đời sống thánh hiến vào chương tŕnh thần học của các linh mục giáo phận; cũng vậy, chương tŕnh đào tạo tu sĩ nên bao gồm việc học hỏi nền thần học Giáo hội địa phương và linh đạo giáo sĩ giáo phận (x. VC 50; MR 38, 45, 47).

Đối với các nữ tu, các Giám mục, các cộng sự viên của ngài và các bề trên ḍng cần tôn trọng và nh́n nhận đúng đắn vai tṛ riêng biệt của nữ tu trong các hoạt động tông đồ. Họ phải được qúi trọng và đánh giá đúng đắn v́ chứng tá con người tận hiến của họ, trước khi v́ những hoạt động hữu ích mà họ đảm nhận cách quảng đại (x. MR 49- 50).

Mục vụ cổ vũ cho ơn gọi (x. PO 11, PC 24; OT 2) phải được coi là lănh vực hợp tác ưu tiên giữa các Giám mục và tu sĩ. Chúa Thánh Thần thúc đẩy mọi Kitô hữu đảm nhận các thừa tác vụ khác nhau và các bậc sống khác nhau để xây dựng Giáo hội. Lịch sử đă cho thấy rằng sự đa dạng của ơn gọi và sự hợp tác giữa hàng giáo sĩ triều và ḍng đă làm cho giáo phận thêm phong phú nhờ các kho tàng thiêng liêng mới và tăng cường sức sống cho các hoạt động tông đồ (x. MR 39).

Các Giám mục và các tu sĩ đều có bổn phận phải truyền giáo, một bổn phận gắn liền với chính tác vụ và đặc sủng của họ. Bổn phận này mỗi ngày một trở nên khẩn trương, cấp bách hơn trong bối cảnh văn hóa, chính trị, xă hội ngày càng biến chuyển nhanh chóng. Những biến chuyển này đ̣i hỏi việc canh tân nhiều sinh hoạt mục vụ truyền thống, đ̣i hỏi nhiều sáng kiến mới trong các hoạt động tông đồ (x. MR 19, 41).

Hoạt động của các hội ḍng cần được thực hiện trong sự hiệp thông với Giáo hội. Họ cần duy tŕ mối tương quan với Giám mục giáo phận, vị chủ chăn, trong tinh thần phục tùng và kính trọng (x. MR 45). “Hoạt động tông đồ cần được thực hiện nhân danh và với ủy nhiệm của Giáo hội, cũng như trong sự hiệp thông với Giáo hội.” (Can 675 §3) Các hội ḍng có quyền tự trị trong tổ chức nội bộ để bảo vệ gia sản của ḿnh và các Bản quyền sở tại có bổn phận tôn trọng sự tự trị đó (Can 586). Nhưng các tu sĩ phải phục tùng Giám mục trong hoạt động tông đồ bên ngoài.

Giáo hội hoạt động dưới sự dẫn dắt của Thần khí, linh hồn của Giáo hội. Giáo hội được đặt trên nền tảng thánh Phêrô, các thánh Tông đồ và những người kế vị các ngài. Bởi đó, thừa tác vụ Giám mục là nguyên lư chỉ đạo cho hoạt động mục vụ của toàn thể Giáo hội. Các tu sĩ thuộc về gia đ́nh giáo phận, họ phải cộng tác với Giám mục trong các công tác mục vụ của giáo phận (x. CD 34). Đối với các tu sĩ linh mục, do tính cách duy nhất của chức tư tế (x. LG 28; CD 28, 11) và với nhiệm vụ tham gia vào việc chăm sóc các linh hồn, xét về một phương diện nào đó, họ phải coi ḿnh “thực sự thuộc hàng giáo sĩ của giáo phận” (CD 34; x. MR 36).

Cần cố gắng tạo ra mối dây liên kết huynh đệ, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, liên đới trong các hoạt động tông đồ giữa hàng giáo sĩ giáo phận và cộng đoàn tu sĩ (x. CD 35; MR 37; Can 680). “Để linh mục đoàn trong giáo phận có thể biểu lộ sự hợp nhất và chu toàn tốt hơn các thừa tác vụ khác nhau, Giám mục ân cần khuyên các linh mục triều nh́n nhận, với ḷng tri ân, sự đóng góp phong phú của các tu sĩ nam nữ cho Giáo hội địa phương và vui vẻ chấp nhận việc bổ nhiệm các tu sĩ vào những công tác có tầm mức rộng lớn hơn, hợp với ơn gọi và khả năng của họ.” (MR 55). “Phải sắp đặt sao cho các tu sĩ linh mục tham gia vào các hội đồng linh mục một cách thích đáng. Cũng nên lưu ư để các nam tu sĩ (linh mục và không linh mục) và các nữ tu được đại diện một cách công b́nh trong các hội đồng mục vụ (x. PO 7; CD 27; ES 1, 15 và 16). Giám mục địa phương sẽ đưa ra những tiêu chuẩn để ấn định cách công b́nh tỉ lệ đại diện trong các hội đồng nói trên.” (MR 56)

Mỗi giáo phận nên có vị Đại diện Giám mục đặc trách về tu sĩ, để giúp Giám mục chu toàn tác vụ của ḿnh, đó là chăm lo đời sống tu tŕ trong giáo phận và hội nhập nó vào toàn bộ hoạt động mục vụ của giáo phận. Để chu toàn chức vụ này, nên có sự tham gia thích đáng của các tu sĩ, thuộc nhiều thành phần khác nhau: linh mục, tu sĩ giáo dân, nữ tu có khả năng cần thiết (x. MR 54).

MR 44 đă liệt kê những lănh vực trong hoạt động mục vụ mà tu sĩ phải tùy thuộc Giám mục: “Công đồng tuyên bố rơ ràng rằng mọi tu sĩ miễn trừ và không miễn trừ đều phải phục tùng bản quyền địa phương trong những điều liên quan đến việc công khai tôn thờ Thiên Chúa (tuy vẫn tôn trọng sự khác biệt của các nghi lễ), việc coi sóc các linh hồn, việc giáo huấn cho dân chúng, việc giáo dục tôn giáo và luân lư, việc tổ chức dạy giáo lư và huấn luyện phụng vụ cho các tín hữu nhất là cho thiếu nhi, tư cách của hàng giáo sĩ và cả những việc liên quan đến hoạt động tông đồ. Các học đường Công giáo do các tu sĩ đảm nhiệm cũng phải lệ thuộc bản quyền sở tại về những ǵ liên hệ đến tổ chức chung và giám sát. Các tu sĩ cũng buộc phải tuân giữ tất cả những ǵ mà các công đồng hay HĐGM ban bố cách hợp pháp, buộc mọi người phải giữ (x. CD 35,4; 35,5; ES I,39; MR 53)”.

Những qui tắc cho mối tương quan giữa Giám mục và tu sĩ (MR) đă được Bộ Giáo luật hiện hành lấy làm nền tảng cho các điều 678- 683[12]. Điều 678 §1 xác định 3 lănh vực mà các hội ḍng (cả các ḍng miễn trừ) phải tuân theo đường lối của Giám mục giáo phận: coi sóc các linh hồn (công việc của các giáo sĩ), cử hành phụng tự công khai (nếu cử hành chỉ riêng cho cộng đoàn tu viện, th́ có thể theo nghi thức riêng của ḍng, kể cả sử dụng các ngôn ngữ cổ điển như Latinh, Hy lạp) và các hoạt động tông đồ khác (ngoài 2 lănh vực trên đây, như hoạt động bác ái). Giáo luật đă qui định về phụng vụ (Can 838 §4), về các ngày lễ buộc (Can 1246 §2),  về bổng lễ và thù lao khi cử hành bí tích và á bí tích  (Can 952 §3), về việc quyên tiền (Can 1265, 1266), năng quyền giải tội (Can 969 §1), năng quyền để dạy giáo lư (Can 805), mở trường Công giáo (Can 801), phép ấn hành sách báo Công giáo (Can 824 §1), qui tắc về việc sử dụng phương tiện truyền thông xă hội (Can 831).

  “Giám mục giáo phận có quyền và nghĩa vụ kinh lư, kể cả về phần kỷ luật tu tŕ: các đan viện tự trị (Can 615); mỗi nhà của ḍng giáo phận ở trong lănh thổ của ngài.” (Can 628 §2)

Các hội ḍng cần phải có sự thỏa thuận của Giám mục khi: mở một tu viện trong giáo phận (Can 609), thay đổi công tác tông đồ (Can 612). Trước khi đóng cửa một tu viện cũng phải tham khảo ư kiến của ngài (Can 616 §1). Đối với các ḍng giáo dân, việc bổ nhiệm cha tuyên úy và cha giải tội thường xuyên thuộc thẩm quyền của Bản quyền sở tại, sau khi đă bàn hỏi với bề trên và cộng đoàn (Can 567; 630 §3). Can 681 §1 qui định các tu sĩ được Giám mục trao một công tác hay chức vụ ǵ như giáo xứ (Can 520) hay một khu vực truyền giáo (Can 790), th́ họ phải ở dưới quyền và tuân hành chỉ thị của Giám mục trong những lănh vực đó. Dĩ nhiên, họ phải làm phúc tŕnh lên Giám mục và vị này có quyền thanh tra kinh lư.

Cần có bản hợp đồng đối với các công tác tông đồ mà Giám mục giáo phận trao cho một hội ḍng. Bản hợp đồng được kư kết giữa Bản quyền sở tại và bề trên có thẩm quyền, trong đó ghi rơ những ǵ liên quan đến việc thực hiện công tác, các tu sĩ được gửi tới làm việc và các vấn đề tài chính. Bề trên phải trao đổi với Giám mục giáo phận về nhân sự, nếu trao cho tu sĩ một chức vụ thuộc giáo sĩ th́ đương sự phải được chính Bản quyền sở tại bổ nhiệm, cho một nhiệm kỳ được 2 bên thỏa thuận. Mục đích bản hợp đồng là để tránh việc thay đổi dễ dàng các người phụ trách và bảo đảm việc chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản trong trường hợp công tŕnh phải giải tán (x. MR 57; Can 681, 682). “V́ một lư do nghiêm trọng, bất kỳ một tu sĩ nào cũng có thể bị giải nhiệm hoặc do ư muốn của giáo quyền đă trao nhiệm vụ, sau khi đă báo cho bề trên đương sự biết; hoặc do ư muốn của bề trên, sau khi đă báo cho giáo quyền đă trao nhiệm vụ biết. Hai bên đều có quyền ngang nhau. Bên này không buộc phải có sự đồng ư của bên kia. Bên này không cần phải chứng minh hay ngay cả thông tri cho bên kia những lư do của sự quyết định của ḿnh. Mỗi bên vẫn có quyền khiếu nại lên Ṭa Thánh nếu muốn.” (MR 58; x. Can 682 §2)

Ngoài ra, Bộ Giáo luật c̣n qui định cho các hội ḍng thuộc giáo phận một số trường hợp liên hệ với Giám mục giáo phận nữa (x. Can 595 §1; 625 § 2; 628 §2.2; 637, 638 §4; 595 §2; 686 §1.4; 688 §2; 696 §2; 700)[13]

 “Các tu sĩ không được nhận những bổn phận và chức vụ ngoài hội ḍng của ḿnh nếu không có phép của Bề trên hợp pháp” (EE 25; Can 671). “Cũng như các giáo sĩ, các tu sĩ không được nhận các chức vụ công cộng đ̣i phải thi hành quyền bính dân sự” (EE 25; Can 285 §3 và 672).

Đối với tu sĩ linh mục và phó tế (x. PI 108- 109): Tu sĩ linh mục và phó tế cần ư thức về hai khía cạnh trong một ơn gọi duy nhất của ḿnh: ơn gọi sống trong hội ḍng và trong giáo phận. Họ phải sống hài ḥa hai chiều kích này. Họ “phải có một nhận thức rơ rệt và những xác tín vững chắc về bản chất của thừa tác vụ linh mục và phó tế (thuộc về cơ cấu của Giáo hội) và của đời tu (thuộc về sự thánh thiện và sự sống của Giáo hội) (x. LG 44), nhưng họ phải giữ nguyên tắc này là thừa tác vụ mục vụ của ḿnh là thành phần của bản chất đời tu (x. PC 8).” (PI 108; x. PI 109)

 

d. Hiệp thông và cộng tác với giáo dân

Giáo hội tại Á Châu phải là Giáo hội tham gia (Participatory Church) mà trong đó không ai cảm thấy bị loại trừ (x. EA 45). Toàn bộ Giáo hội được sai đi để loan báo và phục vụ nước Thiên Chúa. Tất cả các thành viên của Giáo hội đều có trách nhiệm xây dựng Giáo hội và chia sẻ toàn bộ sứ vụ của Chúa Kitô. Thật vậy, chúng ta là Giáo hội. Đó là cộng đoàn con cái Thiên Chúa, cùng là môn đệ của Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần. V́ vậy, sự hiệp thông trong cộng đoàn và sứ vụ phải liên kết và thúc đẩy lẫn nhau.

Người giáo dân có những nhiệm vụ khác nhau và họ cũng được kêu gọi nên thánh trong bậc sống của họ. Mỗi Kitô hữu nhận được một ân sủng của Thần khí v́ lợi ích chung (x. 1Cr 12, 7). Công đồng Vatican II đă tŕnh bày một cách rơ ràng rằng: “Những Kitô hữu được tháp nhập vào Thân thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đă trở nên dân Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ… V́ ơn gọi riêng, giáo dân có bổn phận t́m kiếm nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă hội; tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của ḿnh; và như thế, với ḷng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác, v́ thế, họ có nhiệm vụ đặc biệt soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và bành trướng theo Thánh Ư Chúa Kitô, hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ.” (LG 31) Công đồng cũng đề cao vai tṛ của họ trong sứ mệnh loan báo Tin mừng: “Người giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo hội hiện diện và hoạt động nơi và trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo hội sẽ không trở thành muối của thế gian. Như thế, v́ những ân huệ đă lănh nhận, mọi giáo dân vừa là chứng nhân vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh của Giáo hội.” (LG 33) Người giáo dân sống và làm việc với những người tin của các tôn giáo khác trong mọi lănh vực của cuộc sống. Do đó, “nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ư định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại. V́ thế, khắp nơi phải mở đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo hội, tùy sức lực họ và tùy nhu cầu của thời đại.” (LG 33) Tông huấn Giáo hội tại Á Châu cũng khẳng định: “Hơn ai hết, họ chính là những người được mời gọi biến đổi xă hội, cộng tác với các Giám mục, linh mục và tu sĩ, bằng cách đưa ‘tinh thần của Chúa Kitô’ vào trong năo trạng, tập quán, luật lệ và cơ chế của thế giới mà trong đó họ đang sống.” (EA 22)  Bên cạnh đó, chính đời sống hôn nhân gia đ́nh là một chứng tá hùng hồn và cụ thể: “Công cuộc rao giảng Phúc Âm đó, nghĩa là sự loan báo Chúa Kitô bằng đời sống, chứng tá và lời nói, mang một sắc thái và hiệu quả đặc biệt v́ được thể hiện trong những hoàn cảnh chung của trần gian. Có một bậc sống rất giá trị để thể hiện nhiệm vụ đó, bậc sống được một bí tích đặc biệt thánh hóa, đó là đời sống hôn nhân và gia đ́nh. Gia đ́nh là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân. Từ gia đ́nh, Kitô giáo thấm nhập vào tất cả các tổ chức cuộc sống và dần dần biến đổi các tổ chức ấy; nơi gia đ́nh, vợ chồng t́m thấy ơn gọi riêng của ḿnh là làm chứng cho nhau và cho con cái ḷng tin và t́nh yêu Chúa Kitô. Gia đ́nh Kitô giáo lớn tiếng loan truyền sức mạnh của nước Thiên Chúa và niềm cậy trông vào một đời sống hạnh phúc. Như thế bằng gương lành và chứng tá, gia đ́nh Kitô giáo làm cho thế gian nhận biết tội lỗi ḿnh, đồng thời sáng soi những kẻ đang kiếm t́m chân lư.” (LG 35)

Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (Basic Ecclesial Community: BEC) là cách thể hiện mới của Giáo hội. Nó cung cấp cho người giáo dân cảm giác thuộc về Giáo hội, khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động của Giáo hội, giúp họ nhận ra sự hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống hằng ngày của họ. Họ tập họp cùng nhau trong những nhóm nhỏ, cử hành Lời Chúa và Thánh Thể để họ có thể nuôi dưỡng ư thức về cộng đoàn và tông đồ. Đó chính là chất men làm biến đổi thế giới của chúng ta.[14] “Các Cộng đoàn Giáo hội Cơ Bản như một phương thế hữu hiệu đẩy mạnh sự hiệp thông và cộng tác trong các giáo xứ và giáo phận, và như một lực lượng thực sự cho công cuộc Phúc âm hóa. Những tập thể nhỏ bé này sẽ giúp các tín hữu sống thành những Cộng đoàn Đức Tin, cầu nguyện và yêu thương như các Ki-tô hữu đầu tiên (x. Cv 2, 44-47; 4, 32-35). Các Cộng đoàn này c̣n giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, từ đó trở thành khởi điểm vững chắc cho một xă hội mới, biểu hiện một nền văn minh t́nh thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo hội tại Á châu, chỗ nào có thể được, hăy coi các Cộng đoàn cơ bản ấy như một nét tích cực trong công tác Phúc âm hóa của Giáo hội.” (EA 25).

“Giáo hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Ki-tô giữa loài người nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo phẩm. Thật vậy, Phúc âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Ki-tô giáo trưởng thành.” (AG 21). V́ thế, người giáo dân cần được học hỏi giáo huấn của Giáo hội về xă hội liên quan đến các vấn đề như phẩm giá người Kitô hữu, đời sống nhân loại, gia đ́nh, xă hội. Việc đào tạo nên giúp người giáo dân khám phá ra ơn gọi và sứ vụ của họ, tích cực sống ơn gọi và chu toàn sứ vụ ấy. Việc đào tạo về Kinh thánh phải được xem như là một phương tiện thiết yếu để giáo dục họ trong đức tin và trang bị cho công việc loan báo Tin mừng của họ (x. CL 58; EA 22). 

Trong Châu Á ngày nay, Chúa Thánh Thần đang thúc giục những môn đệ của Chúa Kitô sống và làm chứng về sự hiệp nhất trong Giáo hội địa phương, đặc biệt là tại lănh vực giáo xứ, xây dựng một Giáo hội tham gia mà trong đó các Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân cùng hiệp thông, chia sẻ, hợp tác và đồng trách nhiệm trong sứ vụ loan báo Tin mừng.[15]

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

- FABC, Franz-Josef Eilers, ed.,  For All the People of Asia, Vol 3 (Quezon City: Claretian Publications, 2002.

- John Manuel Lozano, CMF. Foundresses, Founders and Their Religious Families. Chicago: Claret Center   for Resources in Spirituality, 1983.

            - Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3 và 4, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. Rôma, 1993.

- Xem thêm RHP 20- 27; EE 38-43; PI 21- 25, 94-97; FLC 60- 62.

 

 

 

 

 


 


[1] “Đời sống thánh hiến và các cơ cấu trong Giáo hội không phải là 2 thực tại tồn tại riêng biệt, như thể một thực tại thuộc về ân sủng và thực tại kia thuộc về cơ cấu. Trái lại, 2 yếu tố ấy, tức ân sủng thần thiêng và cơ cấu trong Giáo hội, làm thành một thực tại duy nhất, tuy phức tạp (x. LG 8)” (MR 34).

[2] Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ, Rôma, 1993, p. 416-417.

[3] Công đồng tránh so sánh các bậc sống trong Giáo hội, tuy nhiên công đồng giải thích danh nghĩa đặc biệt của sự thánh hiến tu tŕ.

[4] X. Can 607§ 1, “kết hôn”: lúc đầu chỉ áp dụng cho các trinh nữ, sau Đức JP II đă áp dụng cho tất cả tu sĩ.

[5] Bí tích Thánh Thể là nguyên nhân, nền tảng và là con đường dẫn tới sự hiệp thông trong Giáo hội: hiệp thông với Chúa Kitô và hiệp thông giữa các tín hữu (x. LG 11a, PO 6a, AG 9b, VC 30ab, 31b, 95b).

[6] Đây là những h́nh thái mới của đời tu: gồm nam và nữ, giáo sĩ và giáo dân, người đă lập gia đ́nh và người độc thân.

[7] Bộ Giáo luật, đ. 573; Bộ Giáo luật các Giáo hội Đông phương, đ. 410.

[8] X. Đức Gioan Phaolô II, bài nói chuyện với các tu sĩ tại Sao Paulo, 3/7/1980, được trích lại trong  trong John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 28; Thượng Hội đồng Giám mục, kỳ IX, Đời Sống Thánh Hiến và Sứ Mạng của Đời sống này trong Giáo hội và trong Thế giới, số 3, 6.

[9] Xin đọc thêm VC 46- 50.

[10] Sắc lệnh về truyền giáo, Ad Gentes (AG): số 15i (vai tṛ bất khả thay thế), số 18- 19 (phát huy đời tu ở các xứ truyền giáo), số 20 (ḷng nhiệt thành của các tu sĩ), số 27 (các tu hội truyền giáo), số 32- 33 (hợp tác với Giáo hội địa phương trong hoạt động truyền giáo), số 40 (nhiệm vụ truyền giáo của các tu sĩ).

[11] “Các tu sĩ, dù thuộc quyền Giáo hoàng, phải cảm thấy ḿnh thực sự là thành phần của ‘gia đ́nh giáo phận’ (x. CD 34) và đảm nhận những nhiệm vụ thích nghi cần thiết” (MR18b; x. MR 22; Can 586, 591).

[12] Sắc lệnh về Chức vụ Giám mục, Christus Dominus (CD): số 32-35, nói về việc hoạt động mục vụ của các tu sĩ trong giáo phận. Công đồng đặt ra những qui tắc cho mối liên hệ giữa Giám mục và tu sĩ. Những qui tắc này sẽ được khai triển trong văn kiện Mutuae Relationes, 1978, làm nền tảng cho các điều 678- 683 của BGL 1983.

[13] X. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2, tập 4, tr. 660- 663.

[14] X. FABC, Franz-Josef Eilers, ed.,  For All the People of Asia, Vol 3 (Quezon City: Claretian Publications, 2002), tr. 3, 4,  36, 91, 108, 115.

[15] X. UCAN News, Ucan Commentary - The Role of Religious amid the Asian Crisis, November 16, 1998 at http://www.ucanews.com/html/uca/index.html, accessed on February 9, 2003.