SỰ XUẤT HIỆN CÁC H̀NH THỨC
TU TR̀ TRONG GÍAO HỘI
JB. Trần Hữu Hạnh, fsf
Có thể chia lịch sử
đời tu thành 5 giai đoạn. Mỗi giai đoạn
được ghi dấu bởi một h́nh ảnh/h́nh thức
tu tŕ tiêu biểu.
1.Giai đoạn từ 300- 500: Ẩn tu-
đan tu
2. Giai đoạn từ 500- 1200: Phát triển
Đan tu
3. Giai đoạn từ 1200- 1500: Hành khất
4. Giai đoạn 1500- 1800: Hoạt động
tông đồ
5. Giai đoạn 1800- 2000: Giảng dạy/truyền
giáo
Giai đoạn 2000-… :
…
1.Giai đoạn từ 300- 500: Ẩn
tu /Các tổ phụ của nếp sống ẩn tu
Đời tu đă có từ thời Cựu
ước: Tiên tri Giêrêmia sống đời độc
thân. Các ngôn sứ Elia[1] và Eliseô cũng sống đời
sống cộng đoàn với một số đệ tử
của họ, cùng chia sẻ với họ nếp sống
khổ hạnh và sứ vụ.
Sở dĩ đời sống tu tŕ
chưa xuất hiện ngay từ đầu, v́ vào những
thế kỷ đầu, không có sự phân biệt về nếp
sống giữa người Kitô hữu và tu sĩ, chưa
có hàng rào phân cách giữa giáo sĩ và giáo dân. Danh
từ giáo sĩ (kleros) chỉ được sử dụng
từ năm 200, c̣n danh từ giáo dân (laicus) mới bắt
đầu được sử dụng từ năm 220.
Sau đó, danh từ tư tế (linh mục),
bắt đầu được sử dụng trong các cộng
đoàn nhỏ. Mọi Kitô hữu đều
được mời gọi sống thánh thiện, đều
được kêu mời vào làm vườn nho của Chúa
tùy theo nhu cầu, các đặc sủng
và ơn gọi của họ.
Lúc đó, ảnh hưởng
của Phúc âm và của thánh Phaolô c̣n rất mạnh nơi
người tín hữu. Những
cộng đoàn tiên khởi nghĩ rằng Chúa sắp đến
rồi, nên theo lời khuyên của thánh
Phaolô, ai có vợ hăy sống như không có vợ: “Thưa
anh em, tôi xin nói với anh em điều này: thời gian chẳng
c̣n bao lâu. Vậy từ nay những người có vợ
hăy sống như không có;ai khóc lóc, hăy làm như không khóc; ai
vui mừng, như chẳng mừng vui; ai mua sắm, hăy làm
như không có ǵ cả; kẻ hưởng dùng của cải
đời này, hăy làm như chẳng hưởng. V́ bộ mặt thế gian này đang biến
đi.” (1Cr 7, 29-31). Họ bán hết của
cải và giao nộp cho các tông đồ. Họ bắt chước cách sống của Chúa
Kitô và cố gắng đem ra thực hành những lời dạy
của Ngài. Giai đoạn này Giáo hội đang bị
bách hại, nên h́nh thức đặc biệt của việc
bắt chước này là sự tử đạo, chết
v́ đức tin: đó là cách bổ túc vào sự khổ nạn
của Chúa. Đức Kitô tiếp tục chịu
đau khổ và chịu chết nơi người tử
đạo.
Nhưng ngay từ đầu
đă có một số người sống độc thân. Đó là các trinh nữ (x.
1Cr 7) và những người nam sống khổ hạnh.
Họ sống xả kỷ, từ bỏ, chấp
nhận mọi hy sinh gian khổ, dành thời giờ vào việc
cầu nguyện hay làm việc bác ái, tuy họ vẫn sống
tại gia đ́nh, giữa ḷng xă hội. Họ đi
từ cộng đoàn này sang cộng đoàn khác để
rao giảng Tin mừng, thăm viếng bệnh nhân, tham gia
vào đời sống Giáo hội, củng cố đức
tin anh chị em trong lúc Giáo hội đang bị bách hại.
Nhưng họ không có ǵ khác biệt với
các tín hữu. Đôi khi có những trinh nữ sống
chung với những người nam
độc thân như anh chị em. Thánh Luca cũng nói đến
4 người con gái của phó tế Philipphê. Họ
ở đồng trinh và được ơn nói tiên tri (Cv
21, 8). Họ sống độc thân tự
nguyện như đoạn Tin mừng Mt 19, 10-12. Họ
đang mong chờ ngày Chúa Kitô trở lại, nên họ không
có ư định xây dựng một nếp sống tu theo định chế kéo dài măi.
Nhưng từ thế kỷ IV, t́nh thế
đă thay đổi: Giáo hội không c̣n bị ngược
đăi nữa. Giáo hội được hợp
thức hóa sau 300 năm bị bách hại qua sắc chỉ
Họ hiểu và thực hành các bản
văn Kinh thánh về việc bước theo Chúa theo nghĩa
đen. Chẳng hạn, thánh Antôn, khi vào nhà thờ nghe
đoạn Tin mừng: “Nếu con muốn nên trọn lành,
hăy về bán hết…” (Mt 19, 21; Mt 6, 34), đă cảm nhận
được tiếng Chúa gọi ngài. Đối với
ngài, việc theo Chúa là bắt chước các môn đệ
trong việc từ bỏ nhà cửa, gia đ́nh.
a. Tại phương đông
Nếp sống ẩn tu đơn độc
này khai sinh tại Ai Cập. Thánh Phaolô Thèbes (236 - 347)
và thánh Antôn (250- 356) được coi như
là những nhân vật tiêu biểu, tổ phụ của
nếp sống ẩn tu. Thánh Phaolô thành Thèbes sống xa cách
mọi người. Ngài không viết lách, không rao giảng,
không thu nhận đệ tử. Nhưng ngài tỏa sáng bằng
chính đời sống gương mẫu, thánh thiện.
Thánh Antôn mồ côi cha mẹ năm 18 tuổi và ngài phải
chăm sóc đứa em gái. Nhưng khi nghe được
tiếng Chúa gọi, ngài đă bán hết tài sản, bố
thí cho kẻ nghèo, đem em gái đến kư thác cho một
nhóm trinh nữ rồi bước theo Chúa. Lúc đầu
ngài đến một nơi hoang vắng gần nhà và
thường tới tṛ chuyện với một cụ già
có kinh nghiệm về cuộc sống. Sau thời gian chuẩn
bị này, ngài đi sâu hơn vào hoang địa để
chiến đấu với ma qủy. Trước tiên, ngài
đến sống gần một ngôi mộ trong khoảng
13 năm. Ngài bị ma qủi quấy phá, nhưng chúng
đă không làm ǵ được ngài. Năm 286, lúc 35 tuổi,
ngài sống đơn độc trong một pháo đài bị
bỏ hoang trong suốt gần 20 năm trời. Năm 306,
55 tuổi, ngài mới bắt đầu thu nhận đệ
tử. Ngài sống ẩn ḿnh trong sa mạc. Nhưng từ
năm 338, ngài xuất đầu lộ diện để
chống lại bè rối Ariô và qua đời năm 356.
Các ẩn sĩ đă can đảm mở
ra một h́nh thức tu tŕ độc đáo của Kitô
giáo. Sự nhiệt tâm và thánh thiện của họ đă
thu hút nhiều người bước theo.
Nói chung, họ được gọi là
các ẩn sĩ/đan sĩ, sống một ḿnh với
Chúa, sống cho một ḿnh Chúa dưới sự hướng
dẫn của một nhà d́u dắt thiêng liêng. Họ vào sa mạc,
nơi được coi là miền đất của ma qủi,
để chống lại chúng, kẻ thù của con người
trên đường tiến về quê trời (vào hang cọp
để bắt cọp, vào tận sào huyệt của
chúng để diệt chúng) và nhất là để bắt
chước Chúa Giêsu, Đấng đă vào sa mạc để
chịu cám dỗ. Ngày Chúa nhật họ cũng t́m đến
nhà thờ nào đó tham dự thánh lễ, và có dịp trao
đổi hàng hóa để sinh sống.
Dần dần, các đan sĩ từ bỏ
nếp sống đơn độc để qui tụ
thành từng nhóm. Tuy nhiên, vẫn c̣n những người
thích nếp sống ẩn tu một ḿnh. Bởi đó, hai lối
sống cộng đoàn và ẩn tu vẫn phát triển song
song. Cũng có người sau khi đă tu luyện ở cộng
đoàn, lại rút lui vào sống ẩn tu.
Bộ Giáo luật ngày nay vẫn c̣n công
nhận hai h́nh thức tu: trinh nữ (can 604) và ẩn sĩ
(can 603).
Có thể nói thánh Pacômiô (292- 346) là
người đầu tiên khai sinh ra đời sống tu
trong cộng đoàn (koinonia), tại Tabenne, miền thượng
Ai Cập, năm 325. Thánh Pacômiô và các môn đệ sau này
đều đến từ ngoại giáo. Chính đời sống
bác ái của những người Kitô hữu đă cảm
hóa ngài và ngài quyết định gia nhập Kitô giáo. Sau khi
gia nhập Kitô giáo, ngài đă dấn thân phục vụ những
người chung quanh, rồi vào sa mạc sống gần
nhà khổ hạnh Palêmôn vài năm và nhận ông này làm linh
hướng. Sau đó, ngài lại trở về sống phục
vụ và khổ hạnh như một đan sĩ. Lối
sống của ngài đă thu hút được nhiều
người đi theo và ngài đă tụ họp họ lại
thành cộng đoàn theo tinh thần cộng đoàn tiên khởi
tại Giêrusalem. Đời sống cộng đoàn đ̣i hỏi
phải có qui củ, giờ giấc. Ngài đă soạn ra bộ
luật cho cộng đoàn và đó là bản luật cổ
nhất của đời tu. Lối sống cộng
đoàn này cũng không khác ǵ nếp sống đan tu
đơn độc. Họ cũng sống độc
thân, ẩn dật, khổ hạnh, cầu nguyện, suy gẫm
Lời Chúa. Luật của thánh Pacômiô lần đầu
tiên đề ra chức viện phụ và đức vâng lời.
Vâng lời đ̣i hỏi phải từ bỏ ư riêng, tùng phục
công ích. Vâng lời mang tính huynh đệ và vâng lời viện
phụ là tôn trọng lề luật. Mặc dù bước
đầu gặp rất nhiều khó khăn, thánh Pacômiô cũng
đă lập được một cộng đoàn nam và một
cộng đoàn nữ. Ngài coi sóc cộng đoàn nam, c̣n em
gái của ngài trông coi cộng đoàn nữ. Ngài mất
năm 346. Ngài được coi là tổ phụ của
đời sống tu trong cộng đoàn. Lối sống
tu tŕ cộng đoàn này phát triển mạnh mẽ với
9 cộng đoàn nam và 2 cộng đoàn nữ.
Từ Ai cập, đời sống
đan tu mở rộng sang
Tại Palestine, Hilarion, sinh tại Gaza,
sau khi t́m gặp và sống với thánh Antôn gần 2 tháng,
ông đă khám phá ra lư tưởng đời đan tu. Trở
về quê hương, ông bán tất cả của cải và
sống ẩn dật 45 năm. Hilarion lại qua Ai Cập
và mất tại đảo Chypre năm 371. Những nơi
ông đi qua đều thu hút được nhiều
người bước theo lối sống của ông. Nhiều
vị ẩn tu, theo gương Hilarion, t́m vào sa mạc
Giuđa và dọc bờ biển Gaza, tạo nên những
trung tâm đan tu rất phồn thịnh. Ngoài ra, đất
thánh
Tại
Tại Tiểu Á, một nhân vật nổi
tiếng là thánh Basiliô (329- 379), tác giả của một
bản luật mà ngày nay c̣n được tuân giữ bên
các Giáo hội Đông phương. Thánh Basiliô sinh ra trong một
gia đ́nh có nhiều người nên thánh như bà nội,
bố, mẹ và em trai. Ngài đă sống ẩn dật 5
năm tại Annesi. Năm 25 tuổi, ngài du hành qua Syria, Ai Cập,
Palestine và Lưỡng Hà Địa để t́m hiểu lối
sống đan tu. Ngài bị lôi cuốn bởi nếp sống
đan tu của thánh Pacômiô. Trở về quê quán, ngài liền
thành lập một đan viện với những
phương tiện riêng. Đan viện này chỉ kéo dài
được gần 8 năm, v́ ngài được chọn
làm Giám mục năm 370. Ngài luôn luyến tiếc nếp sống
đan tu và nghĩ rằng ḿnh chỉ có ơn gọi làm
đan sĩ. Ngài thường đi thăm các đan viện
và ngài đă thành lập một đan viện rất lớn
bên cạnh Ṭa Giám mục của ngài. Bên cạnh đan viện
c̣n có một trường học và một bệnh viện.
Luật của thánh Basiliô nhen nhúm đức ái. Có thể
tóm tắt như sau: để yêu mến Chúa, phải xa
lánh thế gian; để yêu mến tha nhân, phải sống
chung với nhau. Bộ luật lấy nguồn từ Kinh
thánh và bám rễ sâu vào Giáo hội. Ngài dựa trên những
câu Tin mừng đầy tinh thần bác ái, nhưng khi áp dụng
vào đời sống cụ thể, lại chú trọng
đến những lời cảnh cáo và trừng phạt.
Do vậy, luật của ngài mới chỉ nhen nhúm tinh thần
bác ái Tin mừng mà thôi. Thánh Basiliô áp dụng tinh thần
huynh đệ theo luật thánh Pacômiô, nhưng thay đổi
nếp sống bằng cách giảm bớt số người
trong cộng đoàn, giúp cho viện phụ dễ quan tâm
đến tất cả mọi người và đưa
ra những luật lệ gắt gao hơn. Vai tṛ của viện
phụ và đức vâng phục được đề
cao hơn. Các đan sĩ có thể được lănh tác vụ
linh mục để phục vụ cộng đoàn.
b. Tại phương tây
Đời sống tu tŕ được
truyền bá sang Âu châu nhờ những người hành
hương thánh địa, các thương gia, đặc
biệt nhờ công lao của Giám mục Athanasiô khi ngài bị
lưu vong tại thành Trèves mang về. Bên Tây phương,
h́nh thức ẩn tu không phát triển, chỉ có h́nh thức
cộng đồng. Lúc đầu, các cộng đoàn này
thường do các Giám mục thành lập và qui tụ quanh
các ngài như Giám mục Martinô ở Tours (317- 397), bên Pháp.
Đây là cộng đoàn đan tu đầu tiên bên tây
phương, sống theo luật của thánh Pacômiô. Hoặc
như cộng đoàn của Giám mục Eusebiô ở Vercelli
(+ 371), Ambrôsiô ở Milanô (+ 397), Italia; Augustinô thành Hippône (354-
430). Ngoài ra, Honorat cũng thành lập một cộng
đoàn đan tu Lérins nổi tiếng khắp vùng năm
410, và sau khi trở thành Giám mục, ngài c̣n lập thêm một
đan viện nữa. Một nhân vật nổi tiếng
khác cùng miền là Cassianô (360- 435) cũng đă lập ra 2
đan viện: đan viện thánh Victor dành cho nam và đan
viện Đấng Cứu Chuộc dành cho nữ. Cassianô
ghi lại những kinh nghiệm ông đă thu lượm
được từ đông phương và cho phát hành bộ
Institutions cénobitiques (Hiến pháp đời sống cộng
đoàn ẩn tu) gồm 12 cuốn.
Các cộng đoàn đan tu bên tây
phương sống tại các thành thị, và thường
bao gồm cả các giáo sĩ. Cũng có cả các cộng
đoàn các trinh nữ nữa.
Nổi bật nhất là bản luật
của thánh Augustinô: bản luật này có ảnh hưởng
đối với các đan viện thời các giáo phụ
và thời trung cổ, được nhiều ḍng áp dụng
như ḍng Prémontrès, Tôi tớ Đức Mẹ, đặc
biệt là các ḍng nam mang danh là ḍng thánh Augustinô (Ordo S.
Augustini). Luật của thánh Augustinô là bản đầu
tiên được viết thành văn bên tây phương,
được kể vào loại cổ xưa nhất trong
đời tu, sau bản luật của thánh Pacômiô và Basiliô
và trước luật của thánh Bênêdictô cả một thế
kỷ. Thánh Augustinô được coi là người đầu
tiên viết luật cho ḍng nữ.
Đối với phái nữ, đời
sống tu tŕ phát triển một cách chậm chạp. Ngay từ
đầu đă có những trinh nữ, nhưng khi h́nh thức
ẩn tu h́nh thành th́ chỉ có nam tu mới dám lên rừng tu
luyện. Khi h́nh thức tu cộng đồng xuất hiện,
cũng có những cộng đồng trinh nữ, nhưng ở
tại thành thị, v́ lư do an ninh. Từ thế kỷ IV,
đă có những cộng đồng trinh nữ bên cạnh
các ṭa Giám mục.
2. Giai đoạn từ 500- 1200: Phát triển
Đan tu
Đây là giai đoạn phát triển, cải
tổ đời sống đan tu bên tây phương.
Đế quốc Rôma sụp đổ
(450-800): Giáo hội chuyên chế sụp đổ cùng với
sự sụp đổ của Đế quốc Rôma. Từ
đây phát sinh phong trào Giáo hội trở về sống lối
sống khắc khổ (monasticism) của các đan sĩ với
cao điểm là thánh Bênêđictô thành Norcia. Lối sống
này tác động đến Giáo hội thật sâu rộng
với chủ trương các tín hữu sống “vừa cầu
nguyện vừa lao động”, thích nghi theo lối sống
nông thôn và tập trung thành các cộng đoàn cầu nguyện
và tôn sùng Thánh Thể.
Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả thiết
lập Thánh Thể như một khuôn mẫu cho lối sống
tu tŕ và lối sống của các đan sĩ trở thành
khuôn mẫu cho lối sống của hàng giáo sĩ cũng
như cho những ai nắm giữ chức sắc trong Giáo
hội.
Khuôn mặt đan tu thay đổi toàn
diện với thánh Bênêdictô (480- 547). Ngài đă thành lập
những cộng đoàn đan tu nổi tiếng ở
Subiacô và Monte Casinô (Italia). Sau khi thành lập nhiều đan
viện ở Subiacô, ngài bắt đầu viết luật
cho họ. Bản luật của thánh Benedictô thu gom những
tinh hoa của các bản luật trước: Pacomiô, Basiliô,
Cassianô, Augustinô. Nhưng trên tất cả là chính kinh nghiệm
sống đời đan tu của ngài. Thánh Benedictô đề
cao việc ngợi khen Chúa qua phụng vụ, kế đó
là lao động. Phương châm của người
đan sĩ là “cầu nguyện và lao động” (Ora et
Labora). Viện phụ được anh em bầu lên vĩnh
viễn và ngài là đại diện cho Chúa Kitô. Đan sĩ
tuyên hứa vĩnh cư, hoán cải (bao gồm việc từ
bỏ tài sản, tính hư nết xấu) và vâng phục
(thế kỷ 13 mới có 3 lời khấn như ngày nay).
Lúc đầu, các đan viện hoàn toàn biệt lập, tự
trị. Mỗi tu viện h́nh thành đều được
phát sinh ra từ một tu viện mẹ. Vào thế kỷ
VIII và IX, luật của thánh Benedictô trở thành luật
chung cho đời sống đan tu bên Tây phương. Ngài
được coi là tổ phụ của đời
đan tu bên Tây phương. Các đan viện trở thành
những trung tâm văn hóa với di tích các thánh, những kho
tàng phụng vụ, những thư viện và những thủ
bản. Lối sống đan tu trở thành h́nh thái độc
nhất của nền văn hóa cổ.
Năm 800, hoàng đế Charlemagne của
nước Pháp được phong làm hoàng đế đầu
tiên của đế quốc Rôma và là người bảo vệ
ngai giáo hoàng. Thế quyền và giáo quyền lại liên kết
với nhau thành một tổ chức được coi là
linh thánh. Hàng giáo sĩ vừa nắm thần quyền và thế
quyền nên đă phát sinh ra nhiều tệ nạn làm cho
Giáo hội trở thành Giáo hội của thế gian, không
c̣n là Giáo hội của Chúa nữa. Đứng trước
những suy thoái trầm trọng này, Đức Giáo Hoàng
Grêgoriô VII đă cố công cải cách hàng giáo sĩ. Trước
tiên, ngài tấn công vào việc buôn thần bán thánh, bán các
đồ thờ phượng trong Giáo hội, kiểm soát
chuyện pḥng the giáo sĩ, chuyển tài sản cho con cái của
giáo sĩ. Đức Grêgoriô cũng bắt buộc các giáo sĩ
phải sống độc thân. Nhiều phong trào cải
cách nổi lên, đ̣i hỏi Giáo hội trở về với
nếp sống giản dị của thời Giáo hội
nguyên thủy. Các ḍng khổ tu cũng phát động công cuộc
canh tân Giáo hội.
Đối với nội bộ các ḍng
tu, sau một thời gian sống theo h́nh thức mới, có
nhiều vấn đề nảy sinh, nhiều vấn
đề tiêu cực, nhiều khi đi quá trớn, hoặc
đi trệch đường cần được uốn
nắn. Bởi đó, vấn đề cải cách
được đặt ra. Từ thế kỷ 10, chúng
ta có các cuộc cải tổ. Ở đây, chỉ nói
sơ qua về sự cải tổ của Cluny, từ
thế kỷ X; và Xitô, thế kỷ XI. Do sự cải
tổ của ḍng Cluny, một số đan viện liên kết
với nhau chung quanh một đan viện mẹ, quyền
hành được tập trung vào trung ương. Một
đặc điểm nữa là tại Cluny, vai tṛ của
phụng vụ rất được đề cao. Đây
là sự cố gắng áp dụng triệt để luật
của thánh Benedictô (kinh sĩ: hát kinh thần vụ). Sang thế
kỷ XI, cuộc cải cách Xitô đi ngược lại:
không tập trung quyền hành vào nhà mẹ, tôn trọng sự
tự trị của mỗi đan viện. Các đan viện
vẫn liên kết với nhau qua việc tuân giữ một
luật lệ chung, qua các tổng hội hàng năm và qua việc
kinh lư của các viện phụ trưởng. Một sự
thay đổi nữa là các đan sĩ dần dần chịu
chức linh mục để đáp ứng nhu cầu mục
vụ. Các đan sĩ không sống trong rừng vắng hay
nơi cô quạnh, nhưng họ luôn biết “xuất thế”
để sống cho một ḿnh Thiên Chúa.
3. Giai đoạn từ 1200- 1500: Hành khất
Trong hai giai đoạn trước, có
hai h́nh thức chính là ẩn tu đơn độc và
đan tu cộng đoàn. Trong giai đoạn này, đời
sống đan tu cộng đoàn vẫn tiếp tục phát
triển, nhưng một h́nh thức mới xuất hiện:
các ḍng hành khất.
Trong giai đoạn này, văn minh Âu châu
bước sang một bước ngoặt mới: từ
kinh tế nông nghiệp chuyển sang kinh tế
thương mại ở thành thị và nhiều đại
học ra đời. Bởi đó, các cộng đoàn tu giă
từ nông thôn và nơi hoang vắng để tiến về
thành phố, tiến về nơi đô hội, hầu đáp
ứng những nhu cầu mới của xă hội và Giáo hội.
Hơn nữa, đời tu cũng cần được
cải tổ, v́ các đan viện lớn trở thành những
dinh thự giàu có và đầy quyền lực, các viện
phụ cũng nắm quyền hành không khác ǵ các lănh chúa.
Các phong trào canh tân Giáo hội trong giới
tu sĩ rầm rộ mọc lên, nhất là các ḍng hành khất
của thánh Phanxicô Assisi (1181- 1226) và thánh Đaminh
(1170- 1220), với chủ trương: Hăng say đi loan
báo Tin Mừng, rao giảng bằng gương mẫu đời
sống khó nghèo; chăm lo về mục vụ hơn là cai
trị trong Giáo hội; phát động canh tân về thần
học, nhờ đó đă tạo ra được những
nhà thần học sáng chói trong Giáo hội.
Đối với các ḍng hành khất, ư
thức về sứ vụ loan báo Tin mừng trở nên rơ
rệt hơn. Việc bước theo Đức Kitô không
chỉ là tu thân tích đức, nhưng c̣n phải ra đi
loan báo Tin mừng như Chúa đă sai các môn đệ đi
rao giảng (Lc 10, 1- 15). Họ không c̣n khấn vĩnh cư
nữa, nhưng có thể được di chuyển tới
bất cứ đâu, bất cứ nơi nào. Tất cả
đời sống của họ từ cầu nguyện,
hy sinh hăm ḿnh, khó nghèo, vâng lời, đời sống cộng
đoàn… đều hướng về truyền giáo, nhằm
chuẩn bị tâm hồn để sẵn sàng được
sai đi.
Thánh Đaminh và thánh Phanxicô đă đi
tiên phong, khai mở một h́nh thức tu tŕ mới cho các
ḍng hành khất thời Trung cổ. Họ sống khó nghèo tập
thể, sống nhờ vào sự khất thực hằng
ngày chứ không dựa trên của cải, tài sản. Đối
tượng rao giảng Tin mừng của họ là những
tầng lớp xă hội mới ra đời: trí thức,
thương gia. Tuy vẫn giữ luật nghiêm ngặt
như trước; nhưng cách tổ chức, sinh hoạt
của các ḍng này cũng được canh tân để
thích nghi với sứ vụ mới. Bề trên, do anh em bầu
ra, được coi như anh trưởng, chứ không
như viện phụ như trước đây. Hầu hết
các tu sĩ lănh tác vụ linh mục để đáp ứng
với nhu cầu về mục vụ và truyền giáo.
Ngoài hai ḍng Đa minh và Phanxicô, ḍng
Augustinô, carmelô, Chúa Ba Ngôi, ḍng Bệnh viện thánh Gioan Thiên
Chúa, ḍng Tôi tớ Đức Bà cũng được xếp
vào loại hành khất.
Bên cạnh các ḍng nam cũng thường
xuất hiện các ḍng nữ như Biển đức,
Augustino, Đaminh, Clara, Cát minh (thế kỷ 15), …Nhưng v́
luật lệ c̣n nghiêm ngặt, nên các ḍng nữ thường
là các ḍng kín. (Thời trung cổ tỉ lệ tu sĩ giữa
nam và nữ là 5/1: Cứ 5 nam mới có 1 nữ. Nhưng t́nh
thế đă thay đổi. Năm 1992, số nữ tu là
759.177, nam tu là 232.636).
4. Giai đoạn 1500- 1800: Hoạt động tông
đồ
Giai đoạn này có 4 h́nh thức mới:
- Các giáo sĩ lề luật
H́nh thức này xuất hiện vào đầu
thế kỷ XVI, gồm: ḍng Teatinô (1524), ḍng Barnabiti (1533),
ḍng Tên (1540), ḍng Somasca (1540), ḍng Camilianô (1591). Họ là những
giáo sĩ chuyên về các công tác mục vụ của chức
linh mục. Họ có luật riêng, có lời khấn ḍng,
nhưng không theo nếp sống của đan tu (như
đọc kinh Thần vụ chung) để dành nhiều
thời giờ hơn cho các công tác mục vụ: việc
hoạt động tông đồ được coi như
một phương thế để nên thánh. Cách tổ chức
và sinh hoạt của họ cũng được sắp
xếp phù hợp với việc tông đồ: Bề trên
tổng quyền nắm mọi quyền hành để có thể
dễ dàng điều động nhân sự, các chức vụ
đều do trung ương chỉ định. Có thể
nói thế kỷ 16 là thế kỷ của giáo sĩ lề
luật.
(Bên cạnh đó, thế kỷ 16 cũng
đánh dấu một thời kỳ truyền giáo rộng
lớn của các hội ḍng như ḍng Đaminh, Phanxicô,
Augustinô, ḍng Tên,… Họ đến những vùng đất mới
cùng với thời kỳ khám phá ra Châu Mỹ (1492), xâm chiếm
thuộc địa của các nước Tây ban nha, Bồ
đào nha, Pháp,…)
- Các hội ḍng hoạt động tông
đồ
Từ thế kỷ XVI- XVII, các trường
học phần lớn được dành riêng cho các con em
thuộc tầng lớp qúi tộc, quyền thế và trung
lưu. Các con em của giới thợ thuyền, lao động
nghèo bị bỏ rơi. Do đó, một số cha sở
đă lập ra những ngôi trường từ thiện
cho các con em trong giáo xứ. Một số ḍng tu cũng chuyên
chú vào giáo dục như ḍng Thánh Thể, ḍng Chúa Giêsu Hài
Đồng, ḍng Nữ Kinh sĩ Âu Tinh.
Bên cạnh đó, khác với các đan viện
trước đây nhắm tới việc tu thân tích đức,
nhiều ḍng ra đời trong giai đoạn này đều
theo đuổi một công tác tông đồ nhất định,
đáp ứng nhu cầu cụ thể của Giáo hội
hay xă hội như giáo dục, săn sóc bệnh nhân, cô nhi,
người già, người tàn tật,... Một số
ḍng nam trong giai đoạn này gồm có ḍng các Sư huynh
Lasan (1680), Ḍng thánh Gioan Thiên Chúa (1572), Tu đoàn Truyền
giáo thánh Vinh sơn (1625),… Nhưng các ḍng nữ thuộc loại
này chiếm đa số. Thường lúc đầu họ
chỉ là những nhóm nhỏ, hội, giống như là nhà
t́nh thương, hội bác ái,… hoạt động trong các
giáo xứ hay giáo phận. Sau đó, khi đă đủ lông
đủ cánh, họ xin Ṭa thánh phê chuẩn. Tuy nhiên, tiến
tŕnh phê chuẩn rất chậm chạp, v́ để thực
thi nghị định cải tổ đời tu của
công đồng Trentô, đức Piô V, với tông hiến
Circa Pastoralis (1566), đă ra lệnh cho tất cả các nữ
tu phải khấn trọng và sống trong nội vi. Do
đó, nếu ḍng nữ muốn tham gia vào hoạt động
xă hội ngoài đời, th́ chỉ được nh́n nhận
là bán-nữ tu. Măi cho tới đầu thế kỷ 20,
giáo luật mới coi các nữ tu hoạt động tông
đồ cũng là nữ tu thực thụ.
Mặc dù giáo luật đ̣i buộc khắt
khe như vậy, từ cuối thế kỷ 16 - kỷ
18, các ḍng tu nữ thiên về hoạt động tông đồ
cũng đă xuất hiện:
1579: ḍng Mẹ Vô nhiễm (Daughters of the
Immaculate Conception)
1609: ḍng Trinh nữ Maria (Institute of the
Blessed Virgin Mary- English Ladies)
1633: Tu đoàn Nữ tử bác ái Vinh
sơn, do thánh Vinh sơn thành lập tại Pháp. V́ giáo luật
lúc đó cấm các nữ tu ra khỏi nội vi để
làm việc tông đồ và thánh Vinh Sơn lại không muốn
từ bỏ đặc sủng phục vụ người
nghèo của ḿnh, nên ngài đành chấp nhận việc các nữ
tử không được xếp vào hàng nữ tu thực
thụ: họ chỉ có lời khấn tư và lặp lại
hàng năm.
1667: ḍng Chúa Giêsu Hài đồng, Pháp, do mẹ
Anne Marie Martel (1644-1673).
1670: ḍng Mến thánh Giá (Việt Nam)
1696: ḍng thánh Phaolô thành Chartres
1715: Nữ Đaminh Việt Nam
1762: ḍng Chúa Quan pḥng
Thế kỷ 16 có thêm 18 hội ḍng mới.
Thế kỷ 17 có thêm 22 hội ḍng mới.
- Các tu đoàn tông đồ
Bộ Giáo luật cũ gọi họ
là các tu đoàn sống chung không có lời khấn. Nói chung,
họ là những giáo sĩ muốn sống chung với nhau
để giúp nhau nên thánh hay để cùng nhau thực hiện
một công việc nào đó, nhưng họ không muốn bị
ràng buộc bởi lời khấn ḍng. Ở Việt Nam
chúng ta có các Tu đoàn thuộc quyền Giáo hoàng: Tu đoàn
Truyền giáo thánh Vinh Sơn (1625), Hội linh mục Xuân
Bích (1641), Hội Thừa sai Paris (1664); và sau này có các tu
đoàn thuộc quyền giáo phận: Tu đoàn Tông đồ
Giáo sĩ Nhà Chúa (1996), Tu đoàn Nhập Thể- Tận hiến-
Truyền giáo (2000), Tu đoàn Thừa sai Thánh Mẫu Chúa Cứu
Thế (1991), Hội Thừa sai Việt Nam (1972). Cũng có
những tu đoàn tông đồ nữ đang hoạt
động tại Việt Nam như: Tu đoàn Nữ tử
Bác ái Vinh Sơn (thuộc quyền giáo hoàng) và 2 Tu đoàn thuộc
quyền giáo phận là Tu đoàn Ảnh Phép lạ (1947) và
Tu đoàn Nhập Thể- Tận hiến- Truyền giáo
(1998).
- Các tu hội đời
H́nh thức này đă nhen nhúm từ thế
kỷ 16, khi thánh Angela Merici (1470/4- 1540), lúc đă ngoài 60 tuổi,
lập một hội những thiếu nữ muốn dâng
ḿnh cho Chúa và đồng thời chăm sóc các trẻ em mồ
côi vào năm 1533, nhưng họ vẫn tiếp tục sống
tại gia đ́nh, không có tu phục. Có thể nói đây là một
cuộc cách mạng táo bạo và quá cấp tiến so với
thời đó. Do đó, h́nh thức này chỉ tồn tại
được một thời gian ngắn. Cho măi tới
năm 1947, giáo luật mới nh́n nhận h́nh thức tu
này, nên các tổ chức ra đời trước đó phải
sống lén lút, tu chui, ngoài ṿng giáo luật. Sự phát triển
thực sự của h́nh thức tu hội đời chỉ
phát triển ở thế kỷ 20, khi Giáo hội cần có
những người dấn thân để làm chứng giữa
đời. Năm 1992, đă có 163 tu hội đời trên
toàn thế giới (42 nam và 97 nữ; 53 thuộc quyền
Giáo hoàng và 110 thuộc quyền giáo phận). Họ sống
giữa đời, giống như mọi người,
để phục vụ.
5. Giai đoạn 1800- 2000: Giảng dạy/truyền
giáo
Giai đoạn trăm hoa đua nở.
Đây là giai đoạn các hội ḍng mới
thành lập dấn thân mạnh mẽ vào việc truyền
giáo và vào đời sống xă hội, đặc biệt
là các ḍng nữ khi giáo luật (đầu thế kỷ 20)
nh́n nhận các nữ tu hoạt động tông đồ cũng
là nữ tu thực sự (không c̣n bị coi là bán nữ tu nữa).
Trong giai đoạn này, nhiều ḍng ra
đời để đáp ứng những nhu cầu khác
nhau của Giáo hội và xă hội, như giáo dục (nhu cầu
mở nhà trẻ để trẻ em có được sự
giáo dục Kitô giáo ngày càng lớn mạnh), chăm sóc bệnh
nhân, người già, trẻ mồ côi, người tàn tật,
mở rộng sự phục vụ đến những
người ngoài Công giáo, nhu cầu về truyền giáo. Thế
kỷ XIX đă đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ
của những hội ḍng loại này. Chỉ
trong thế kỷ này, có khoảng 600 cộng đoàn mới
được thành lập.[2] Thế kỷ XX ghi dấu ấn
của một đấng sáng lập được cả
thế giới khâm phục và ngưỡng mộ: mẹ
Têrêxa Calcutta. Ḍng của mẹ đă đem t́nh yêu Thiên Chúa
đến với những người cùng khốn nhất
qua việc phục vụ trong khiêm nhường.
Giai đoạn này cũng đánh dấu
sự xuất hiện của các hội ḍng đa sắc tộc,
nhất là những hội ḍng hướng đến truyền
giáo.
Các Hội ḍng cố gắng bước
theo Chúa Kitô, họa lại cuộc đời của Ngài. Mỗi
ḍng có mục đích khác nhau, tùy vào việc họa lại
khía cạnh nào của cuộc sống Chúa Giêsu. Cách chung có 4
loại ḍng:
1) Chúa Giêsu cầu nguyện: đây là mục
tiêu của những hội ḍng thuần túy chiêm niệm.
2) Chúa Giêsu loan báo nước trời: mục
đích của những ḍng phục vụ Lời Chúa (giảng,
dạy).
3) Chúa Giêsu thi ân giáng phúc cho nhân loại:
những ḍng chuyên về công tác bác ái xă hội.
4) Chúa Giêsu sống giữa đời:
các Tu hội đời.[3]
Mỗi thời đại, mỗi nhu cầu,
có cách đáp trả riêng.
6. Giai đoạn 2000-...?
H́nh thức tu tŕ nào sẽ nổi bật
trong giai đoạn mới này?
Các h́nh thức tu tŕ xuất hiện trong
lịch sử Giáo hội thường là để đáp ứng
2 mục đích chính: trở về với Tin mừng (khi
đời sống đạo trong Giáo hội sa sút, xa rời
Tin mừng) và đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp
của Giáo hội và xă hội.
Qua các giai đoạn, chúng ta thấy có một
khuynh hướng chung: đời tu càng ngày càng dấn
thân hơn, càng ư thức về sứ vụ hơn. Từ
thời Trung cổ, ư thức về sứ vụ ngày càng trở
nên mănh liệt. Từ trong sa mạc, nơi thôn làng hẻo
lánh, họ bước ra ngoài xă hội nhưng vẫn sống
trong khung cảnh của tu viện (kín cổng cao tường),
rồi dần dần đảm nhận những vai tṛ
trong Giáo hội và xă hội. Ngày nay, đời tu thâm nhập
vào mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội
cũng như xă hội. Các hội ḍng ngày càng ư thức
hơn về sứ mệnh của họ trong việc phục
vụ những nhu cầu tinh thần hay vật chất của
nhân loại theo đặc sủng của ḿnh. Mỗi giai
đoạn được đánh dấu bằng một
h́nh thức tu tŕ nổi bật. Những thay đổi lớn
trong Giáo hội và xă hội là những dấu chỉ thời
đại mà Chúa Thánh Thần tác động nơi các vị
sáng lập, để họ lập nên những h́nh thức
tu tŕ mới, đáp ứng những nhu cầu của Giáo hội
và xă hội.
Ngày nay, con số các ḍng tu cũng giảm
sút nhiều: hơn 2/3 các ḍng thành lập trước
năm 1500 nay không c̣n nữa, gần ½ các ḍng thành lập sau
năm 1600 cũng bị xóa tên: nhu cầu họ đáp ứng
không c̣n nữa, nhưng họ đă hoàn thành sứ mệnh
lịch sử của ḿnh.[4]
Con số các nam nữ tu sĩ cũng đang giảm sút nhiều.
Con số nam nữ tu sĩ đă giảm 18,7%, từ 1 triệu
225,056 xuống c̣n 995,639 trong khoảng thời gian từ
năm 1978 đến năm 2000.
Chúng ta đang ở thời kỳ đầu
của giai đoạn mới, là những người
đang góp phần tạo nên một h́nh ảnh mới nổi
bật của giai đoạn này. Người tu sĩ hôm
nay đang sống trong một thế giới khác hẳn
trước đây: toàn cầu hóa, tục hóa, sự phân
chia và đối đầu ngày càng gay gắt giữa thần
quyền và thế quyền, sự bất công trong xă hội
ngày càng gay gắt, t́nh trạng di dân lan tràn,…Thiên niên kỷ
này là của Châu Á, của đối thoại tôn giáo, đại
kết, hội nhập văn hóa, của giáo dân, đặc
biệt là phụ nữ.
Trong bối cảnh hiện nay, có nhiều
h́nh thức tu tŕ mới, nhiều cộng đoàn mới ra
đời. Đây là những h́nh thái mới của đời
tu: gồm nam và nữ, giáo sĩ và giáo dân, người
đă lập gia đ́nh và người độc thân, các
phong trào tông đồ giáo dân, các đan viện đại
kết (chia sẻ nếp sống đan tu giữa Giáo hội
Công giáo và Giáo hội Kitô khác, hoặc giữa Công giáo với
các tôn giáo khác như Ấn giáo, Phật giáo), các hội ḍng
đa sắc tộc ngày càng phát triển, các phong trào Giáo hội
liên kết với các hội ḍng, v.v.
Trong thời đại chúng ta, người
giáo dân đóng vai tṛ chủ đạo trong sứ mệnh loan
báo Tin mừng và tân Phúc âm hóa. Qua các đặc sủng của
họ, họ tích cực loan báo Tin mừng cho toàn thế giới
qua con đường đối thoại bằng đời
sống, mang sứ điệp của Tin mừng đến
khắp mọi nơi. Một số phong trào Giáo hội
đă liên kết chặt chẽ với các hội ḍng và
chia sẻ đoàn sủng, linh đạo và sứ mệnh
đặc biệt của các hội ḍng đó. Sự hiệp
thông và cộng tác này giúp phổ biến linh đạo
hướng tới hoạt động ra ngoài biên giới
của hội ḍng, giúp cho hội ḍng đào sâu và làm phong phú
thêm đoàn sủng của ḿnh và từ đó rút ra nhiều
gợi ư cho hoạt động tông đồ mới mẻ.
Nhờ gương thánh thiện của những người
tận hiến, người giáo dân sẽ có kinh nghiệm
trực tiếp về tinh thần của các lời khuyên
Phúc âm, được khích lệ và làm chứng cho tinh thần
các mối phúc để biến đổi trần thế
theo ư định của Thiên Chúa (x. VC 54- 56; FLC 62, 70). Bởi
đó, các hội ḍng nên xem xét lại những hoạt động
truyền thống của ḿnh để hợp tác với
người giáo dân trong công việc truyền giáo, đáp ứng
tốt hơn những nhu cầu tông đồ và mục vụ
đang nổi lên, đặc biệt trong những lănh vực
công bằng xă hội, xây dựng những cộng đoàn
cơ bản được năng động bởi sự
hiệp thông và tham gia vào biến đổi xă hội nên tốt
đẹp hơn.
Chúng ta không thể dự đoán
được h́nh thức tu tŕ nào sẽ nổi bật
trong giai đoạn mới này. Đây là công việc của
Chúa Thánh Thần. Lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần,
nhạy bén với những dấu chỉ thời đại…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Arbuckle,
Gerald A, S.M. From Chaos to Mission, Refounding Religious Life
Formation. London: Geoffrey Chapman, 1996
M. Ngọc
Đính (Chuyển ngữ). Đời tu dưới ánh
sáng công đồng Vatican II và Giáo luật, Quyển I. The
Daughters of St. Paul, 1986, p. 69-80.
Phan Tấn
Thành. Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập
3 và 4 Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ.
Rôma, 1993, p. 350-369, 411-412, 429- 432
Union of
Superiors General. Consecrated Life Today- Charisms in the Church for the
World. International Congress. Rome, 22- 27 November 1993.
www.dunglac.net
[1] Ḍng Carmelo đă chọn
ngôn sứ Elia làm tổ phụ…v́ ḍng được thành lập
ở núi
[2] X. Gerald A. Arbuckle, SM, From Chaos to
[3] X. LG 46; Can 577; P.T.Thành,
Giải thích GL, tập 4, p. 564
[4] Thí dụ những ḍng Hiệp
sĩ