ƠN GỌI

 JB. Trần Hữu Hạnh, fsf

MỤC LỤC

1. Ơn gọi là ǵ?

2. Những  ơn gọi chung và chính yếu

    a. Ơn gọi làm người

    b. Ơn gọi làm Kitô hữu

    c. Ơn gọi sống đời hôn nhân hay tu tŕ

3. T́m hiểu ơn gọi tu tŕ

4. Sự đáp trả của con người

5. Đức Maria và ơn gọi

Tài liệu tham khảo

 

1.  ƠN GỌI LÀ G̀?

Mỗi người đều được Thiên Chúa kêu gọi. Ơn gọi là tiếng gọi yêu thương của Chúa cho con người và Chúa mời gọi ta đáp lại t́nh yêu đó. Chính Thiên Chúa gọi ta và Người mong một ngày nào đó ta nghe được tiếng Người. Đây là tiếng gọi từ muôn thuở, từ lúc chưa có loài người sống trên mặt đất, chưa có đất trời, núi đồi, biển cả... Ngài yêu từng người, như thể chỉ có ḿnh họ trên đời; do đó, Ngài cũng gọi từng người và đặt họ vào những con đường khác nhau từ lúc họ chưa được tạo thành:

“Trước khi cho ngươi thành h́nh trong dạ mẹ, Ta đă biết ngươi; trước khi ngươi lọt ḷng mẹ, Ta đă thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” (Gr 1, 5)

“Thiên Chúa đă dành riêng tôi ngay từ khi tôi c̣n trong ḷng mẹ, và đă gọi tôi nhờ ân sủng của Người.” (Gl 1, 15)

“Mỗi đời sống là một ơn gọi.”[1] Việc ư thức đời sống như một ơn gọi sẽ khơi dậy trong con người niềm khát vọng trước tương lai, đồng thời loại bỏ quan niệm về một đời sống thụ động, buồn nản và tầm thường. Như thế, đời sống luôn mang giá trị của “ân ban đă lănh nhận mà theo bản tính nhằm trở nên điều thiện hảo được ban lại cho kẻ khác.”[2]

Thiên Chúa c̣n mời gọi con người vào một bậc sống nào đó và trao cho họ một sứ mệnh. Chúa có thể kêu gọi những người hèn mọn, bất tài, cả những người đang chống lại Chúa, để làm những công việc vĩ đại cho Ngài.

Mỗi đời sống là một ơn gọi, nên có nhiều ơn gọi khác nhau. Ở đây chỉ bàn đến những ơn gọi chung và chính yếu.

 

2. NHỮNG ƠN GỌI CHUNG VÀ CHÍNH YẾU

a. Ơn gọi làm người

Ơn gọi làm người là ơn gọi đầu tiên và là nền tảng của mọi ơn gọi tự nhiên. Ơn gọi làm người đă được các triết thuyết, các hệ tư tưởng, các nền văn hóa nói tới. Làm người là một con đường dẫn tới sự hoàn thiện. Con người luôn phải chiến đấu với thói hư tật xấu của ḿnh để trở thành người hơn. Nhưng làm người, theo nghĩa tích cực nhất, là làm người trong mối tương quan với Thiên Chúa. Con người phải tôn kính Trời và tuân theo sự sắp đặt quan pḥng của Thiên mệnh (Ư Trời), v́ Thiên mệnh là nguồn gốc của mọi luật lệ đạo đức. Bởi đó, Khổng Tử nói: “Kẻ nào không nhận biết Thiên mệnh, sẽ không bao giờ là một hiền nhân.”[3] Sống theo thiên nhiên, tuân giữ luật của thiên nhiên là sống theo Thiên mệnh.

Thế nhưng, Kinh thánh nói ǵ về mối tương quan này?

Từ hư vô con người trở thành hiện hữu do ư muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa đă tạo dựng con người “theo h́nh ảnh ḿnh và giống ḿnh.” (St 1, 26) Ngài đă trao vũ trụ cho con người làm chủ và mời gọi con người bước vào một mối tương quan yêu thương mật thiết với Ngài. Thiên Chúa nghĩ đến ta trước cả khi Ngài tạo thành vũ trụ. Thực ra đó là lư do Ngài đă tạo dựng thế giới. Thiên Chúa đă h́nh thành hành tinh này cho chúng ta để chúng ta sống và hưởng dùng. “Đặc tính cao cả nhất của phẩm giá con người nằm trong ơn gọi con người được hiệp thông với Thiên chúa. Thiên Chúa khởi sự mời gọi con người đối thoại với Ngài, cùng với sự xuất hiện của họ trên đời. Bởi v́, nếu con người hiện hữu, là v́ yêu thương mà Thiên Chúa đă tạo dựng họ, và cũng v́ yêu thương mà ngài luôn cho họ được sống. Và con người chỉ sống hoàn toàn theo chân lư, nếu tự do nh́n nhận t́nh yêu đó và phó thác cho Đấng tạo dựng nên ḿnh.” (GS 9).

Chúng ta sẽ sống một cuộc sống thanh thản hơn, có ư nghĩa và tốt đẹp hơn, nếu chúng ta biết rằng Thiên Chúa đang điều khiển và quan pḥng mọi sự. Ngài hài ḷng với việc chúng ta tôn thờ Ngài, coi Ngài là trung tâm của cuộc sống. Và như vậy chúng ta phải luôn tiếp xúc với Ngài bằng cầu nguyện, lắng nghe tiếng Ngài, hiệp thông với Ngài. Chúng ta được tạo dựng để làm đẹp ḷng Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta được tạo dựng một cách độc đáo, không ai giống ai, cả về thể xác, tâm hồn, tính t́nh và năng khiếu. Bởi đó, không có ơn gọi nào giống ơn gọi nào. Mỗi người là tác phẩm nghệ thuật độc đáo và độc nhất vô nhị của Thiên Chúa.

Thiên Chúa quan tâm đến từng chi tiết của thân thể chúng ta:

“Tạng phủ con, chính Ngài đă cấu tạo, dệt tấm h́nh hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đă dựng nên con cách lạ lùng, công tŕnh Ngài xiết bao kỳ diệu!” (TV 139, 13-14) “Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm ǵ, khi con được thành h́nh trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong ḷng đất thẳm sâu.” (Tv 139, 15)

Không những Chúa tạo h́nh ta, Ngài c̣n tiếp tục tiến tŕnh định h́nh ta. Ngài đă lên kế hoạch trước những ngày sống của đời ta khi ấn định chính xác ngày ta sinh ra và ngày ta chết:

“Con mới là bào thai, mắt Ngài đă thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự.” (Tv 139, 16).

Ngài thấu suốt những công việc ta làm, ngay cả tư tưởng của ta Ngài cũng am tường hết:

“Lạy Chúa, Người đă ḍ xét con và Người biết rơ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng ǵ, Người thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Người quen thuộc cả...Người bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Người, Người đặt trên con.” (Tv 138, 1-5).

Ngài luôn nâng đỡ và hướng dẫn ta trên mọi nẻo đường đời:

“Ta đă nâng các ngươi từ trong ḷng mẹ, đă hứng các ngươi từ lúc chưa chào đời. Cho đến khi các ngươi già nua tuổi tác, trước sau ǵ Ta vẫn là Ta; cho đến khi các ngươi da mồi tóc bạc, Ta vẫn c̣n gánh vác các ngươi. Như xưa nay Ta vẫn từng đối xử: Ta sẽ nâng niu, gánh vác các ngươi, và ban ơn cứu thoát.” (Is 46, 3-4)

Qua đó nói lên rằng không ǵ xẩy ra trong đời ta mà lại không mang một ư nghĩa ǵ. Chúa uốn nắn ta theo mục đích tạo dựng của Ngài. Làm một công việc ǵ, chúng ta đều nhắm tới mục đích nào đó. Người không có mục đích cũng giống như con thuyền không bánh lái, như lục b́nh trôi sông. Khi tạo nên chúng ta, Thiên Chúa cũng có mục đích của Ngài và Ngài muốn chúng ta hoàn thành. Nếu chúng ta không hoàn thành, th́ ai sẽ thay thế chúng ta, v́ mỗi người đều có công việc của riêng ḿnh.

 V́ thế, chúng ta phải luôn tự hỏi ḿnh: Tôi sống ở trên đời này để làm ǵ? Đâu là ư nghĩa của sự hiện hữu của tôi? Nếu ta muốn biết lư do tại sao ta được đặt trên hành tinh này, ta phải bắt đầu từ Thiên Chúa. Ta không tạo dựng được chính ta; do đó, ta không thể bảo rằng tôi được tạo dựng để làm ǵ? Tôi muốn trở nên thế nào? Đâu là những mục tiêu, những tham vọng, những kế hoạch, những ước mơ của tôi? Tập trung vào ḿnh như vậy ta sẽ không bao giờ biết được mục đích chính của đời sống ta. Chính Thiên Chúa tạo dựng nên ta và Ngài có mục đích của Ngài. Ta không thể biết được mục đích của một phát minh mới, nếu người phát minh không nói cho ta biết. Ta không thể đạt tới mục đích đời ta bằng cách bắt đầu tập trung vào chính ḿnh. Ta phải bắt đầu với Thiên Chúa, Đấng tạo h́nh nên ta. Ta chỉ hiện hữu v́ Thiên Chúa muốn ta hiện hữu. Chỉ trong Thiên Chúa ta mới khám phá ra được nguồn gốc, căn tính, ư nghĩa, mục đích, cách thể hiện và số phận của ta. Tất cả các con đường khác đều dẫn đến bế tắc. Ta được tạo dựng cho Thiên Chúa; và v́ thế, cuộc sống của ta là để Ngài sử dụng cho các mục đích của Ngài, chứ không phải ta sử dụng Ngài cho mục đích riêng của ta. Nếu ta chỉ tập trung vào chính ḿnh, kiên tŕ và quyết tâm theo đuổi những mục tiêu ta đề ra, ta có thể đạt được thành công rực rỡ, nhưng vẫn c̣n thiếu những mục đích Thiên Chúa mong muốn khi tạo dựng nên ta.

Con người được tạo dựng cho vĩnh cửu. Chính Thiên Chúa đă tạo dựng ta theo h́nh ảnh Ngài, để sống trong cơi vĩnh hằng. Cuộc đời này không phải là tất cả. Nó là một sự chuẩn bị cho đời sống mai hậu. Mạnh giỏi lắm ta có thể sống một trăm năm trên trái đất này, nhưng ta sẽ sống muôn đời trong cơi đời đời. Đời sống chúng ta trên dương thế này chỉ là tạm bợ nơi đất khách quê người. Quê hương chúng ta là ở trên trời; do đó, đừng quá dính bén vào những của phù vân, đừng lo chiếm đoạt mọi thứ trên đời. Tất cả rồi sẽ qua đi… Mối giây liên hệ của ta với Thiên Chúa trên trần thế này sẽ xác định mối giây liên hệ với Ngài trong cơi đời đời. Nếu đo bằng cây thước vĩnh cửu, thời gian của chúng ta trên cơi đời này tựa như một chớp mắt, nhưng hậu quả của nó sẽ kéo dài vô tận.

Nhiều người để cho tiền bạc, danh vọng, lạc thú, tội lỗi, sự sợ hăi,… điều khiển đời sống của họ. Và kết quả là họ luôn sống trong bất an, tầm thường và vô nghĩa. Nếu ta tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, các mục đích của Ngài sẽ dẫn dắt đời sống chúng ta: “Thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. C̣n ai thi hành ư muốn của Thiên Chúa th́ tồn tại măi măi.” (1Ga 2, 17)

Nếu không có Thiên Chúa, hẳn tất cả sự hiện hữu của chúng ta đều là do “ngẫu nhiên.” Đó là kết quả của may rủi do thiên nhiên vận hành bừa băi trong vũ trụ. Và như thế, đời sống chẳng có ư nghĩa ǵ, chẳng có tốt xấu, đúng sai, chẳng có hy vọng…  Nhưng có Thiên Chúa, Đấng đă tạo h́nh ta; và v́ thế, đời sống của ta có một ư nghĩa sâu xa.

Việc t́m hiểu ư định của Thiên Chúa kéo dài suốt đời ta. Chúng ta chỉ biết được ư nghĩa và mục đích của đời sống chúng ta khi chúng ta biết được Thiên Chúa là ai và Ngài làm ǵ cho chúng ta: “Khởi đầu mỗi bước đường ơn gọi, đều có Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở-cùng-chúng-ta. Chính Ngài mặc khải cho chúng ta biết, chúng ta không đơn độc khi xây dựng đời sống ḿnh, bởi v́ Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta giữa những biến cố liên tiếp, và nếu ta muốn, Ngài sẽ xây dựng với mỗi người chúng ta một cuộc t́nh kỳ diệu, độc nhất và không giống nhau, nhưng đồng thời lại phù hợp với con người và vũ trụ. Khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử đời ḿnh, sẽ không cảm thấy ḿnh mồ côi nữa, nhưng biết rằng ḿnh có một Người Cha mà ta có thể hoàn toàn tin cậy nơi Ngài: đó là khúc rẽ quan trọng có thể biến đổi triển vọng con người, và như Hiến chế Gaudium et Spes quả quyết, con người ‘chỉ nhận ra ḿnh cách trọn vẹn, nhờ việc hiến thân chân thành’ (Số 24)”[4]  Định hướng này sẽ chiếu sáng cho cách sống của ta, cách ta thi hành công việc hằng ngày, cách đối xử với người khác, cách đánh giá sự việc,… Ta sẽ sử dụng thời giờ và tiền bạc một cách khôn ngoan hơn. Nhiều công việc, kế hoạch, mục tiêu và ngay cả nhiều vấn đề xem ra quan trọng, sẽ trở thành tầm thường, nhỏ nhặt và không đáng quan tâm nữa. Ta càng sống gần Thiên Chúa, các sự vật càng trở nên tầm thường, nhỏ bé.

 

b. Ơn gọi làm Kitô hữu

Ơn gọi thứ hai và cũng là nền tảng cho mọi ơn gọi siêu nhiên là ơn gọi làm Kitô hữu. Thiên Chúa không chỉ là điểm khởi đầu của cuộc sống chúng ta, Ngài c̣n là nguồn mạch và đích điểm của đời sống chúng ta. Để khám phá ra mục đích đời ta, ta phải qui chiếu về Lời của Ngài, chứ không phải về những lẽ khôn ngoan của con người. Lời của Ngài đă chỉ cho chúng ta thấy: “Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ư muốn của Người, đă tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào Chúa Ki-tô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.” (Eph 1, 11- 12). Bản văn Kinh thánh này đă chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta khám phá ra căn tính và mục đích của chúng ta nhờ liên kết với Chúa Giêsu Kitô. Khi ta liên kết với Chúa Kitô, đời sống của ta sẽ thay đổi, mọi giá trị sẽ đảo lộn như thánh Phaolô nói: “Những ǵ xưa kia tôi cho là có lợi, th́ nay, v́ Chúa Ki-tô, tôi cho là thiệt tḥi.” (Pl 3, 7).

Từ sự hiện hữu đơn thuần nhân loại, con người được mời gọi bước vào một sự hiện hữu thần linh, do công tŕnh tái tạo của Thiên Chúa trong Chúa Kitô: “V́ được d́m vào trong cái chết của Người, chúng ta đă cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đă được sống lại từ cơi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, th́ chúng ta cũng được sống một đời sống mới.” (Rm 6, 4) Thật vậy, qua phép Rửa, chúng ta được tái sinh trong Chúa Kitô, từ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới, cùng vác thập giá với Người để rồi cùng được hưởng vinh quang với Người. Ư định cứu chuộc này đă được Thiên Chúa hoạch định từ trước cho chúng ta: “Ân sủng đó, Người đă ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Chúa Ki-tô Giê-su, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, v́ Đấng cứu độ chúng ta là Chúa Ki-tô Giê-su đă xuất hiện.” (2Tm 1, 9-10) “Chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Chúa Ki-tô Giê-su, để sống mà thực hiện công tŕnh tốt đẹp Thiên Chúa đă chuẩn bị cho chúng ta.” (Ep 2:10) “Chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đă được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đă tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển. Không một ai trong các thủ lănh thế gian này đă được biết lẽ khôn ngoan ấy, v́ nếu biết, họ đă chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá. Nhưng, như đă chép: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, ḷng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đă dọn sẵn cho những ai mến yêu Người.” (1Cr 2, 7-9)  

Đây là ơn gọi căn bản và phổ quát, v́ là ơn gọi đầu tiên và là ơn gọi chung cho mọi Kitô hữu. Ơn gọi này là ơn Chúa ban cho chúng ta cách nhưng không, là một món quà vô giá mà không phải ai cũng nhận được.

Chúng ta được tạo h́nh cho gia đ́nh của Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người để trở nên các phần tử trong gia đ́nh của Ngài và Ngài sai Con Một của Ngài, Chúa Giêsu, đến trần gian để hướng dẫn chúng ta nhận biết Ngài là Người Cha nhân hậu và chúng ta là con cái của Ngài, là anh em với nhau. Chúng ta được tạo dựng trở nên giống Chúa Giêsu. Như vậy, mục tiêu tối hậu của cuộc sống không phải là xây dựng cho ḿnh một cuộc sống đầy đủ tiện nghi về vật chất, nhưng quan trọng hơn chính là việc phát triển đời sống tâm linh. Làm sao để cuộc sống ḿnh biến đổi theo h́nh ảnh Chúa Giêsu và những lời giảng dậy của Ngài. Giáo hội chính là gia đ́nh thiêng liêng của Ngài. Mục đích của đời sống chúng ta là học hỏi ḷng yêu thương của Ngài. Sống đạo không chỉ là tin, nhưng quan trọng hơn cả là thuộc về Ngài, thuộc về Giáo hội của Ngài. Sống đạo là sống t́nh thân hữu với Thiên Chúa và với mọi người. Do đó, chúng ta được tạo h́nh là để phục vụ Thiên Chúa. Sống được như vậy, mỗi Kitô hữu cần loại bỏ năo trạng lo vun xới cho chính ḿnh để hiến thân phục vụ người khác. Lời thánh Phaolô luôn nhắc nhở chúng ta: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hăy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ư Thiên Chúa: cái ǵ là tốt, cái ǵ đẹp ḷng Chúa, cái ǵ hoàn hảo.” (Rm 12, 2)

Ơn gọi luôn gắn liền với sứ vụ. Chúng ta được Chúa kêu gọi là để sống với Ngài và để được Ngài sai đi (x. Mc 3, 13- 15). “Sống chứng nhân là cách thế biểu thị sống động nhất về sức mạnh yêu thương cứu độ của Thiên Chúa. Cũng như Chúa Giêsu đă đến trần gian không để t́m vinh quang cho chính ḿnh, nhưng là để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu độ con người, Kitô hữu bước theo Chúa Giêsu để được Tin Mừng của Người biến đổi, và qua đó họ trở nên những người đem Tin Mừng cho thế giới này.” (HĐGMVN, Thư Mục vụ 2006, số 4) Bậc sống giáo dân cũng có nhiều “ơn gọi” khác nhau: đó là những cách sống và việc tông đồ khác nhau tùy theo môi trường sống của mỗi người: “Mỗi người tùy theo ơn Chúa ban mà phục vụ kẻ khác, như những người quản lư trung tín giữ mọi ân sủng của Thiên Chúa.” (1 Pt. 4:10)

Mọi ơn gọi khác đều phát xuất từ ơn gọi làm người và một cách rơ nét trong ơn gọi làm Kitô hữu.

Có nhiều loại ơn gọi: có loại ơn gọi dành cho hết mọi người, có loại chỉ dành cho một số ít người; có loại ơn gọi cho cả đời người, có loại ngắn hạn… Loại ơn gọi cho cả đời người chính là ơn gọi bậc sống của mỗi người: sống độc thân, lập gia đ́nh, hoặc tu tŕ. Với cuốn sách mỏng này, người viết chỉ nói sơ qua về ơn gọi sống đời hôn nhân và bàn sâu hơn về ơn gọi tu tŕ

 

c. Ơn gọi sống đời hôn nhân hay tu tŕ

Sau ơn gọi nền tảng tự nhiên và siêu nhiên, chúng ta có bổn phận đi t́m thánh ư Chúa cho ơn gọi riêng của ḿnh. Đối với những người lập gia đ́nh, họ có thêm ơn gọi sống đời đôi bạn hay làm cha mẹ. Ngoài ra, một số người c̣n có ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ. Ơn gọi đời sống hôn nhân hay tu tŕ, không mâu thuẫn với ơn gọi làm Kitô hữu; trái lại, nó củng cố, làm thăng tiến và phong phú hơn. Hai ơn gọi này dẫn đến hai bậc sống khác nhau: bậc sống tu tŕ và bậc sống hôn nhân. Nhưng tất cả đều được kêu gọi trở nên trọn lành (x. Mt 5, 48). Công đồng Vatican II cũng đă khẳng định mọi Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh trong bậc sống của ḿnh và có nhiều con đường để nên trọn lành (x. LG 11, 42), chứ không chỉ qua con đường tu tŕ. Ở đây, chúng ta cần phân biệt “nên thánh” trong bậc giáo dân và “nên thánh” trong bậc tu tŕ: sự thánh hiến phổ quát và sự thánh hiến riêng biệt, ơn gọi phổ quát nên thánh và ơn gọi cụ thể nên thánh theo từng bậc sống. Trong Cựu ước, có sự thánh hiến của toàn thể dân Chúa và cũng có sự thánh hiến của riêng các ngôn sứ. Cũng vậy, trong Tân ước, ngoài sự thánh hiến phổ quát dựa trên bí tích Rửa tội, c̣n có sự thánh hiến đặc biệt của bí tích Truyền chức (x.  CCC[5] 1535, 1556-1559), của bí tích Hôn nhân (x. GS 48; CCC 1535), của các h́nh thức tu tŕ (x. CCC 916, 931; LG 44; PC 5). Mỗi người phải sống theo đặc sủng đă nhận được (x. 1Cr 7, 7- 20). Chính Chúa Thánh Thần làm cho Giáo hội trở thành một mối hiệp thông hữu cơ, trong sự đa dạng về các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ (x. AG 4; LG 4, 12, 13; GS 32, CL 30-31). Nói chung, nên thánh là con đường của đức ái. Càng yêu nhiều, càng thánh thiện. Ơn gọi là một lời mời gọi để sống trong t́nh yêu với Thiên Chúa và để minh chứng t́nh yêu đó. Dù sống trong bậc sống nào, chúng ta cần phải hiểu rằng T̀NH YÊU là sức sống nền tảng của mọi ơn gọi: “Một cách đơn giản, ơn gọi là một tiếng gọi để tôi hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Kitô, với ư thức rằng, không ǵ có thể tách tôi ra khỏi T́nh yêu của Người. Ơn gọi là một lời mời gọi để sống trong t́nh yêu với Thiên Chúa và để minh chứng t́nh yêu đó. Tôi yêu mến Chúa thế nào? Tôi minh chứng t́nh yêu của tôi cho Thiên Chúa thế nào? Thưa, bằng cách làm thật tốt đẹp công việc được trao phó, bằng cách thực hiện một cách đơn sơ những ǵ Chúa ủy thác cho tôi dưới bất kỳ dạng thức nào. Như thế, dù bạn được trao phó cho bất kỳ công việc ǵ, với tư cách một tu sĩ, hay một giáo dân - đó là phương tiện cho bạn để bạn dành t́nh yêu của bạn cho Thiên Chúa trong một hành vi sinh động, trong một hành vi của t́nh yêu... Bất kỳ khi nào bạn mỉm cười với một người nào đó, nụ cười đó là một hành vi của t́nh yêu, là một món quà cho người đó, một cái ǵ thật đẹp... Do đó, nếu tôi biết làm thế nào để yêu mến Đức Kitô, nếu tôi muốn biết tôi có thực sự ở trong t́nh yêu với Thiên Chúa không, tôi chỉ cần nh́n xem tôi đă làm công việc Ngài đă trao phó cho tôi như thế nào - Có bao nhiêu t́nh yêu tôi đă đặt vào trong công việc của tôi. Bạn thấy đó, vấn đề của ơn gọi không hệ tại ở chính công việc - ơn gọi của chúng ta là  thuộc trọn về Đức Giêsu với ư thức rằng, không ǵ có thể tách ĺa chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Người. Ơn gọi không phải là những ǵ chúng ta đang làm, hay chúng ta làm được bao nhiêu việc, mà là bao nhiêu t́nh yêu tôi đă đặt vào công việc tôi đă được trao phó. Những ǵ bạn đang làm, có thể tôi không làm được... Những ǵ tôi đang làm, có thể bạn không làm được, nhưng tất cả chúng ta đều có thể làm cái ǵ đó thật đẹp cho Thiên Chúa.” (Mẹ Têrêxa Calcutta)

Cha mẹ của thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu, ông  Martin  và bà Guerine, đă đi t́m hiểu ơn gọi tu tŕ, nhưng Chúa không muốn cho họ đi con đường ấy và họ đă bước vào cuộc sống hôn nhân và nên thánh. Chúng ta phải nhấn mạnh rằng hôn nhân Kitô giáo là một ơn gọi nên thánh và gương của những cha mẹ thánh thiện là điều kiện thuận lợi đầu tiên cho việc nở hoa những ơn gọi linh mục và tu sĩ.

Từ khởi nguyên, Chúa đă muốn con người sống có đôi: “Đàn ông ở một ḿnh không tốt.” (St 2, 18) Nhưng Chúa, nhất là trong Tân ước, cũng mời gọi chúng ta bước đi trên con đường hẹp của Tin Mừng, sống hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa bằng một t́nh yêu không chia sẻ (x. Mt 19, 12; VC 88). Cũng như ơn gọi làm Kitô hữu, ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ là ơn Chúa ban nhưng không. Chúa là người đi bước trước, là người đưa ra sáng kiến kêu gọi chúng ta theo Ngài: “Không phải các con đă chọn Thầy, nhưng chính Thầy đă chọn các con.” (Ga 15, 16)           

Bởi đó, mỗi người đều được đặt trước một sự chọn lựa. Hạnh phúc cả cuộc đời tùy thuộc vào sự lựa chọn này. Sự chọn lựa luôn bao gồm trách nhiệm. Chọn lựa cũng bao gồm sự hy sinh và dấn thân. Hy sinh và dấn thân để theo đuổi điều ḿnh chọn lựa. Chúng ta chọn lựa một cách dứt khoát, nhưng hy sinh và dấn thân th́ kiên tŕ, bền bỉ và kéo dài suốt cuộc đời. Nếu chọn lựa sống đời Kitô hữu hoàn hảo đă phải chiến đấu nhiều với chính bản thân, th́ chọn lựa sống đời tu tŕ c̣n phải chiến đấu nhiều hơn nữa. V́ chọn lựa ấy đ̣i buộc sống giữa đời nhưng không để bị vương vấn mùi đời.

Trước khi lựa chọn, ta cần suy nghĩ, t́m hiểu về từng ơn gọi, rồi tự xét xem ḿnh tự nhiên hướng chiều mạnh mẽ về đời sống nào? Đối với việc t́m hiểu về đời sống hôn nhân, thiết tưởng chúng ta đă biết nhiều rồi, ở đây chỉ xin bàn về ơn gọi tu tŕ.

 

3. T̀M HIỂU ƠN GỌI TU TR̀

Thật khó khăn để biết chính xác rằng ta có ơn gọi tu tŕ hay không; bởi v́ ơn gọi, trước hết, là một mầu nhiệm. Thiên Chúa không nắm lấy chúng ta và lôi chúng ta đi, nhưng Ngài dùng những phương tiện thông thường để cho chúng ta biết Ngài đang gọi chúng ta. Đây luôn là việc nhiệm mầu và có tính cách riêng tư đối với mỗi người chúng ta. Thiên Chúa luôn tôn trọng chúng ta và đối xử với chúng ta như những con người tự do. Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người và Ngài muốn chúng ta sử dụng lư trí của ḿnh để nhận thức về ơn gọi của chúng ta.

Trong lịch sử Giáo hội, nhiều nhà thần học cũng như nhiều tác giả viết về đời sống thiêng liêng, đă nhận định rằng Thiên Chúa sử dụng những dấu hiệu tự nhiên để hướng chúng ta hoặc để thu hút chúng ta đến một ơn gọi nào đó. Bạn sẽ không bao giờ biết một cách chắc chắn, nhưng bạn nên tự hỏi xem bạn có nhận được những dấu hiệu mà giúp bạn phán đoán bạn có ơn gọi tu tŕ hay không?

Ba dấu hiệu căn bản của một ơn gọi tu tŕ:

Có ba dấu hiệu căn bản, nhưng cũng rất là đơn giản, của một ơn gọi tu tŕ. Đó là: ao ước sống đời sống đó, động cơ đúng đắn cho đời sống đó và sự thích hợp cho đời sống đó.

a. Trước tiên, để t́m hiểu xem bạn có ao ước sống ơn gọi đó không, bạn cần tự hỏi xem bạn có ư thích, có hướng chiều vể ơn gọi đó không? Tôi có cảm thấy say mê, thỏa măn, vui mừng hay có những t́nh cảm tích cực tương tự như thế khi nghĩ về ơn gọi đó không? Bạn cần nghiêm túc xét ḿnh như thế, bởi v́ Chúa không muốn thu hút bạn về một ơn gọi mà nó lại đi ngược với ư muốn của bạn. Nhiều người nghĩ rằng họ muốn đi tu, bởi v́ Thiên Chúa muốn như vậy. Nếu họ không làm theo ư Chúa, họ sẽ bị phạt hoặc sẽ gặp bất hạnh. Thiên Chúa không hành động theo cách đó. Ngài lôi kéo chúng ta theo chiều hướng tự nhiên của chúng ta. Nếu chúng ta có chiều hướng về một ơn gọi nào đó, đó là một dấu hiệu tốt. Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta và Ngài muốn lôi cuốn chúng ta.

b. Ao ước không thôi chưa đủ, bạn cần có thêm những dấu hiệu khác nữa. Dấu hiệu thứ hai là muốn sống đời sống đó v́ những lư do chính đáng. Đây là vấn đề “động cơ thúc đẩy.” Động cơ nào nằm sau sự thích thú và quan tâm của tôi? Có những lư do tinh thần tích cực như: muốn phục vụ Chúa cách trực tiếp, muốn biết và yêu Chúa nhiều hơn, muốn mở rộng nước Chúa, muốn hoàn toàn sống cho Chúa và tha nhân,… Đây thực sự là những động cơ tốt đẹp. Chúng dựa trên đức tin, động lực tinh thần, chứ không phải là những ao ước tự nhiên. Có những lư do vụ lợi hoặc ích kỷ như: được người ta kính trọng, có nhiều cơ hội để thăng tiến, cuộc sống được bảo đảm,… Không ai có thể nói là ḿnh có động cơ trong sáng trong tất cả những công việc ḿnh làm. Thường có sự pha trộn giữa những động cơ tốt và những động cơ không tốt trong cuộc sống chúng ta. Cũng có những động cơ pha trộn như thế trong việc ao ước sống đời tu tŕ, nhưng động lực hướng dẫn ban đầu phải thật sự trong sáng và vô vị lợi. Thật không luôn luôn dễ dàng để nhận thức về những động cơ của chúng ta. Bởi đó, chúng ta cần cầu nguyện để biết được thánh ư Chúa và cần có những vị linh hướng để giúp chúng ta nhận định rơ hơn.

c. Dấu hiệu thứ ba là sự thích hợp. Đó là khả năng để sống đời tu, sống một cách thoải mái, vui vẻ, rộng lượng. Bạn phải thích hợp với đời sống đó và đời sống đó phải thích hợp với bạn. Đây là những đức tính tự nhiên và siêu nhiên giúp bạn t́m thấy niềm vui và hạnh phúc trong đời dâng hiến. Đi tu là tu cả con người. Ơn thánh không cản trở hay thay thế bản chất tự nhiên của ta, nhưng chỉ thăng hoa và thánh hóa nó. Bản chất tự nhiên của ta không chết đi và với thời gian có thể bùng lên. Bởi đó, việc nhận định ơn gọi cần căn cứ vào những khả năng đạo đức, tâm lư và thể lư. Giáo luật điều 642 nhấn mạnh đến yếu tố sức khoẻ, tính t́nh thích đáng và có đủ các đức tính của sự trưởng thành. Nhiều người thích đời tu nhưng lại không thể sống thích hợp với nó được. Cũng vậy có nhiều người thích hợp với đời sống tu tŕ, nhưng họ lại không muốn bước vào con đường đó. Họ không bị nó thu hút. Thiên Chúa tôn trọng tự do của mỗi người và tôn trọng cái cách mà họ là.

Tóm lại, để xác định ơn gọi tu tŕ, bạn phải có cùng lúc ba dấu hiệu căn bản trên. Tuy nhiên, bạn vẫn phải t́m hiểu và suy xét kỹ, v́ nhiều khi “thấy vậy mà không phải vậy.” Chẳng hạn, việc thích sống đời sống độc thân có thể là dấu hiệu của ơn gọi tu tŕ, nhưng chúng ta phải t́m hiểu xem động lực của việc thích sống độc thân là ǵ? Đó có phải là v́ thích sống khép kín và lập dị? Hay là không thích những người chung quanh? Tu là dâng hiến, là cho đi, là phục vụ nên không thể chấp nhận lối sống đó được. Thích cầu nguyện cũng có thể là dấu hiệu của ơn gọi, nhưng phải t́m hiểu xem nguyên nhân nào thúc đẩy ta đến việc cầu nguyện. Có phải v́ ta sống cô đơn, không bạn bè, không có người tâm sự, không biết chia sẻ cùng ai nên ta cầu nguyện để t́m nguồn an ủi? Đời tu là tận hiến cho Thiên Chúa, sống thân t́nh với Ngài, chứ không phải là nơi t́m an ủi cho bản thân. Có những người nhút nhát, sợ trách nhiệm, sống dựa vào người khác, nên muốn t́m đến đời sống tu như một nơi nương tựa, bảo đảm cho cuộc sống. Đó không phải là dấu hiệu của một ơn gọi.

Ơn gọi là một ân huệ đặc biệt Thiên Chúa ban cho một số người nào đó. Chúa có nhiều cách để gọi chúng ta mà chúng ta không thể ngờ tới được. Điều quan trọng là chúng ta cần phải ư thức và sống theo ư Chúa. Ơn gọi tu tŕ là một ân huệ, nên chúng ta cần t́m hiểu, khám phá ra và nuôi dưỡng ơn gọi đó.

Ngoài ra, chúng ta c̣n cần dựa trên nhưng yếu tố chính của một ơn gọi tu tŕ:

- Một niềm tin tưởng mạnh mẽ vào Giáo hội và giáo huấn của Giáo hội.

- Yêu thích đời sống cầu nguyện.

- Sẵn sàng từ bỏ và hy sinh theo bước Chúa Kitô.

- Sống vị tha và có khả năng hiến thân phục vụ tha nhân, nhạy cảm trước những nhu cầu của thời đại.

- Có ư chí vươn lên, khắc phục mọi khó khăn hiện tại trước những đ̣i hỏi của Tin mừng.

- Có tinh thần đối thoại, cởi mở và biết lắng nghe tha nhân.

 

4. SỰ ĐÁP TRẢ CỦA CON NGƯỜI

Tất cả chúng ta đều phải nghiêm chỉnh t́m ra ơn gọi cho cuộc đời của ḿnh, như phần quan trọng nhất của thánh ư.

Ơn gọi chính là một mầu nhiệm, v́ đó là sự gặp gỡ giữa tự do của ơn Chúa và sự tự do đáp trả của con người. Con người có toàn quyền tự do để đáp lại lời mời gọi của Chúa. Khi dựng nên ta, Chúa không hỏi ư kiến ta. Ngài dựng nên ta v́ Ngài yêu ta, Ngài muốn điều tốt đẹp cho ta. Ngài ban cho ta điều qúi giá nhất, đó là sự tự do. Nhưng khi muốn cứu chuộc ta, Ngài cần sự cộng tác của ta, Ngài tôn trọng sự tự do của ta. V́ tự do, chúng ta có thể phản bội Ngài, chống lại Ngài. Sự tự do lựa chọn này luôn tạo ra những giằng co, những thử thách, những hy sinh, đắng cay và đôi khi cả  tủi nhục nữa.

Ơn gọi là một mầu nhiệm. Nếu Chúa mời gọi mà ta không đáp trả, Chúa cũng phải chịu, v́ Ngài tôn trọng tự do của ta. Nhưng, nếu ta muốn mà Ngài lại không gọi, ta cũng phải hiểu rằng, Ngài có lư do của Ngài. Bởi đó, ta luôn phải t́m hiểu thánh ư Ngài: “Anh em đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hăy t́m hiểu đâu là ư Chúa.” (Eph 5, 17) Để biết được thánh ư Chúa, ta luôn phải tỉnh thức và sẵn sàng, cầu nguyện và lắng nghe.

 

a. Tỉnh thức và sẵn sàng

Chúng ta không thể biết trước được khi nào Chúa mời gọi chúng ta và mời gọi như thế nào. Chúa có thể gọi ta bước theo Ngài vào bất cứ lúc nào trong đời và bằng nhiều cách khác nhau, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Tỉnh thức và sẵn sàng sẽ giúp ta đọc ra được những dấu chỉ, những tiếng gọi thầm kín và nhẹ nhàng của Chúa ngay trong cuộc sống hằng ngày.

Trong Cựu ước, Chúa gọi Maisen nơi bụi gai bốc cháy (x. Xh 3, 1-6), Chúa gọi Isaia trong đền thờ (x. Is 6, 1-8), Chúa gọi Samuen vào giữa đêm khuya (x. Sm 3, 1-20),… Có khi Chúa gọi trực tiếp và rơ ràng như Chúa gọi Abraham (x. St 12, 1). Trong Tân ước, Chúa gọi các tông đồ Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan và Matthêu (x. Mc 1:14-20; 9, 9-13) đều đột ngột và bất ngờ. Không ai trong các ông biết trước rằng vào một lúc nào đó ḿnh sẽ được gặp Chúa và Ngài sẽ gọi ḿnh. Nhưng các ông đă đáp lại tiếng gọi không một chút do dự. Không ai trong các ông biết Chúa là ai? Họ đă bỏ tất cả và lập tức theo Ngài. Thánh Antôn, khi vào nhà thờ nghe đoạn Tin mừng: “Nếu con muốn nên trọn lành, hăy về bán hết…” (Mt 19, 21; Mt 6, 34), đă cảm nhận được tiếng Chúa gọi ngài, và ngài đă bán hết của cải, bố thí cho kẻ nghèo để bước theo Chúa.

Tỉnh thức và sẵn sàng nghĩa là khi Chúa đến, ta gặp được Ngài; khi Ngài gọi ta: “Hăy theo Ta”, ta nghe được tiếng gọi đó cách huyền nhiệm và ta “lập tức” đáp lại. Thật vậy, không thiếu những dấu chỉ, những lời gọi trong đời sống của mỗi người. Tỉnh thức để có thể nghe và hiểu được tiếng Chúa gọi, sẵn sàng để đáp lại một cách quảng đại, không do dự.

Muốn tỉnh thức và sẵn sàng, ta cần phải biết cầu nguyện và lắng nghe tiếng Chúa.

b. Cầu nguyện và lắng nghe

Cầu nguyện là yếu tố then chốt để biết được thánh ư Chúa. Ơn gọi phát xuất từ Thiên Chúa. Do đó, cầu nguyện để có thể nghe được tiếng gọi của Ngài. Đây là điều kiện không thể thiếu cho một người luôn tỉnh thức và sẵn sàng trước tiếng gọi của Chúa. Dụ ngôn “10 cô trinh nữ” (x. Mt 25, 1-13) cho thấy nếu muốn luôn tỉnh thức và sẵn sàng, th́ phải luôn dự trữ dầu đầy b́nh. Dầu ở đây chính là lời cầu nguyện: khi không c̣n dầu, đèn sẽ tắt; khi không cầu nguyện, con tim sẽ khô héo. Khi cầu nguyện, chúng ta lắng nghe được tiếng Chúa nói. Cầu nguyện thực sự là t́m kiếm thánh ư Thiên Chúa và t́m kiếm Thiên Chúa trong mọi sự. Bởi đó, để gặp được Chúa và nghe được tiếng Người, ta cần phải liên lỉ cầu nguyện. Khi cầu nguyện liên lỉ, chúng ta sẽ sống kết hợp mật thiết với Chúa. Và nhờ đó, ta càng nghe rơ tiếng Người gọi ta, cũng như biết rơ được ư định của Người cho ta. Khiêm tốn lắng nghe tiếng Chúa, ta sẽ nghe được tiếng của Người.

Chúng ta cần cầu xin Chúa Thánh Thần, Ngài là nguồn gốc mọi ơn gọi và đặc sủng, để xin Ngài mở ḷng trí chúng ta, giúp chúng ta luôn tỉnh thức và sẵn sàng.

Lời cầu nguyện liên lỉ sau đây sẽ giúp ta t́m hiểu về ơn gọi của ta và lắng nghe ư Chúa:

Lạy Chúa, con đây, Chúa muốn con làm ǵ? Này con xin đến để thực thi ư Chúa. Xin cho con biết được ư Chúa và vâng theo ư Ngài. Chúa muốn con sống đời tu tŕ hay sống đời hôn nhân? Nếu Chúa muốn, con xin hiến thân để phụng sự Chúa. Xin cho con luôn can đảm và quảng đại để dấn thân phụng sự Chúa….

Không có một ơn gọi hay một bậc sống nào là dễ dàng cả. Ơn gọi nào cũng đ̣i hỏi phải bỏ ḿnh, hy sinh và dấn thân. Khi biết được Chúa gọi ta, dù ta cảm thấy bất xứng và yếu hèn, ta cần can đảm, tin tưởng và phó thác vào Chúa, v́ “ơn Chúa luôn đủ cho chúng ta” (2Cr 12, 9). Các tông đồ ngày xưa là những con người quê mùa chất phát, nhưng Thiên Chúa đă tuyển chọn họ để trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng. Thiên Chúa đă tuyển chọn những con người tầm thường để làm nên những công tŕnh tuyệt tác của Ngài. Như vậy, ta mới nhận thức được rằng đó chính là công tŕnh của Thiên Chúa chứ không phải do  người phàm, v́ đối với Thiên chúa không có ǵ là không có thể.

Đức Giáo hoàng Phaolô VI, nhân ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu 13/5/1973, đă kêu gọi ḷng quảng đại dấn thân của các bạn trẻ: “Chúng tôi kêu gọi cách riêng các bạn trẻ mà chúng tôi rất ưu ái. Các bạn chưa có một quyết định tối hậu nào để các bạn tỏ ra hào hiệp hy sinh. Có rất nhiều tiếng gọi. Có rất nhiều ngả đường đang mở ra trước mắt các bạn, kêu mời các bạn tiến lên để phục vụ dân Chúa và Giáo hội. Phải chăng tiếng gọi này sẽ không có đáp ứng? Phải chăng con đường ấy sẽ không có người đi? Các bạn đầy rộng lượng hy sinh. Hăy hy sinh cho lư tưởng ấy. V́ sao bạn dừng chân và chờ đợi? Trong khi đó thế giới này đang thay đổi mau chóng. Từng đoàn người mới xuất hiện trên trái đất. Tin mừng phải được rao giảng cho mọi người, cho người nghèo khó hôm qua cũng như hôm nay và ngày mai. Luôn luôn có những người đói khát, lao tù, những người bệnh tật trong thể xác và tâm hồn. Họ đang chờ đợi bạn. Trong họ, Chúa Giêsu đang chờ đợi bạn. Có việc cho mọi người. Có chỗ đang đón bạn.”

 

5.  ĐỨC MARIA VÀ ƠN GỌI

“Đức Maria hoàn toàn thực hiện ư Chúa trong thực trạng của đời sống. Đức Maria đă đón nhận Lời và đem ra thực hành. Toàn bộ hành động của Mẹ thấm nhuần t́nh yêu và tinh thần phục vụ. Tắt một lời,  Đức Maria là người môn đệ đầu tiên và tuyệt hảo nhất của Chúa Kitô. Tất cả điều đó có giá trị nêu gương măi măi cho thế giới.”[6] Mẹ đă hiệp thông với sức mạnh và ân sủng của Chúa Thánh Thần trong mầu nhiệm nhập thể của Chúa Giêsu và trong biến cố hiện xuống, để xây dựng và phát triển Hội Thánh, là Thân Thể và Hiền Thê của Chúa Kitô. Mẹ khiêm tốn nh́n nhận thân phận nghèo hèn của ḿnh, nhưng lại được Thiên Chúa đoái thương và thực hiện những điều kỳ diệu (x. Lc 1, 49). Mẹ là nhà truyền giáo đầu tiên khi vội vă đem Chúa đến cho bà Elizabeth (x. Lc 1, 56), là nhà chiêm niệm trong biến cố dâng Con tại Đền thờ (x. Lc 2, 21-38), người phụ nữ có một tâm hồn rất tế nhị, nhạy bén trước nhu cầu của đôi tân hôn tại tiệc cưới Cana (x. Ga 2, 1-12) và nhất là người Phụ nữ can trường trước thử thách khi đứng gần thập giá Chúa Giêsu (x. Ga 19, 25-27).

 Mẹ đă kết hợp giữa chiêm niệm và hành động khi đi thăm viếng bà Elizabeth, đă trở nên khí cụ trong kế hoạch của Thiên Chúa. Sự can thiệp của Mẹ tại Cana đă mang lại kết quả bất ngờ. Lời Mẹ dặn những người giúp việc cũng chính là lời Mẹ muốn nhắn gởi mỗi người chúng ta: “Người bảo ǵ, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ là Mẹ của Giáo hội và cũng là Mẹ của mỗi người chúng ta. Mẹ đă Lắng Nghe và tuân giữ Lời Chúa trong suốt cuộc đời của ḿnh (x. Lc 8, 21; 11, 27-28). Vâng lời Mẹ, chúng ta sống theo lời Chúa Giêsu dạy như Mẹ đă hoàn toàn vâng nghe thánh ư Thiên Chúa. Hăy để Mẹ lo cho tương lai ơn gọi của bạn. Hăy thưa với Mẹ như Đức Gioan Phaolô II: “Toàn thân con thuộc về Mẹ. Xin Mẹ hướng dẫn con trong mọi sự!”

Qui chiếu vào Mẹ, để mở ḷng đón nhận và thấm nhuần Chúa Thánh Thần (x. Lc 1, 35), trước sự chọn lựa và quyết định cho cả cuộc đời của ta. Khi đă nghe được tiếng gọi của Chúa, ước ǵ chúng ta sẽ đáp trả lời mời gọi đó bằng lời “Xin Vâng” như Mẹ Maria xưa.

Ngoài ra, Mẹ c̣n là mẫu gương tuyệt vời của việc thánh hiến hoàn hảo, v́ Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và  hiến thân trọn vẹn cho Ngài (x. VC 28). Mẹ c̣n là Mẹ của các người tận hiến, cầu bầu cho họ trung thành với ơn gọi và trợ giúp họ rất hữu hiệu để tiến tới trong việc đáp trả và sống sung măn ơn gọi của ḿnh.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hoành Sơn. Thần học Thiêng liêng- Nền tảng lư thuyết phương pháp thực hành Tu đức, Tập 1. Ṭa Tông Giám mục tp. HCM, 1997.

Marie Theresa Coombs, Hermit and Francis Kelly Nemeck, O.M.I. Called By God- A Theology of Vocation and Lifelong Commitment. Minnesota, USA: The liturgical Press.

M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ). Đời tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II & Giáo luật, Quyển I. The Daughters of St. Paul, 1986.

Rick Warren. Hoàng Qúi dịch. The Purpose Driven Life. Manila, Philippines: OMF Literature Inc., 2003.

http://www.dongcong.net.

http://www.dunglac.net.

http://www.thanhlinh.net.

http://www.tinvui.net.

http://www.vietcatholic.com.

http://www.maranatha-vietnam.net

http://www.tiengnoigiaodan.net

http://www.lavang.co.uk/ 


[1] Đức Phaolô VI, Populorum Progressio -Thông điệp phát triển các dân tộc, số 15.

[2] Những ơn gọi mới cho một Châu Âu mới, 1998, số 16b.

[3] Luận ngữ 20, 3.

[4] Sứ điệp của Đức Gioan Phaolô II gởi các tín hữu nhân ngày cầu cho ơn thiên triệu 6/5/2001, số 2.

[5] Sách Giáo Lư Giáo hội Công giáo.

[6] Đức Phaolô VI, Marialis Cultus, số 35.