ƠN GỌI
JB. Trần Hữu Hạnh, fsf
MỤC LỤC
1. Ơn gọi là ǵ?
2. Những ơn
gọi chung và chính yếu
a.
Ơn gọi làm người
b.
Ơn gọi làm Kitô hữu
c.
Ơn gọi sống đời hôn nhân hay tu tŕ
3. T́m hiểu ơn gọi tu tŕ
4. Sự đáp trả của con người
5. Đức Maria và ơn gọi
Tài liệu tham khảo
1. ƠN GỌI LÀ G̀?
Mỗi
người đều được Thiên Chúa kêu gọi.
Ơn gọi là tiếng gọi yêu thương của Chúa
cho con người và Chúa mời gọi ta đáp lại t́nh
yêu đó. Chính Thiên Chúa gọi ta và Người mong một
ngày nào đó ta nghe được tiếng Người.
Đây là tiếng gọi từ muôn thuở, từ lúc
chưa có loài người sống trên mặt đất,
chưa có đất trời, núi đồi, biển cả...
Ngài yêu từng người, như thể chỉ có ḿnh họ
trên đời; do đó, Ngài cũng gọi từng người
và đặt họ vào những con đường khác nhau
từ lúc họ chưa được tạo thành:
“Trước
khi cho ngươi thành h́nh trong dạ mẹ, Ta đă biết
ngươi; trước khi ngươi lọt ḷng mẹ,
Ta đă thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm
ngôn sứ cho chư dân.” (Gr 1, 5)
“Thiên
Chúa đă dành riêng tôi ngay từ khi tôi c̣n trong ḷng mẹ, và
đă gọi tôi nhờ ân sủng của Người.” (Gl
1, 15)
“Mỗi
đời sống là một ơn gọi.”[1]
Việc ư thức đời sống như một ơn gọi
sẽ khơi dậy trong con người niềm khát vọng
trước tương lai, đồng thời loại bỏ
quan niệm về một đời sống thụ động,
buồn nản và tầm thường. Như thế, đời
sống luôn mang giá trị của “ân ban đă lănh nhận mà
theo bản tính nhằm trở nên điều thiện hảo
được ban lại cho kẻ khác.”[2]
Thiên
Chúa c̣n mời gọi con người vào một bậc sống
nào đó và trao cho họ một sứ mệnh. Chúa có thể
kêu gọi những người hèn mọn, bất tài, cả
những người đang chống lại Chúa, để
làm những công việc vĩ đại cho Ngài.
Mỗi
đời sống là một ơn gọi, nên có nhiều
ơn gọi khác nhau. Ở đây chỉ bàn đến những
ơn gọi chung và chính yếu.
2. NHỮNG ƠN GỌI CHUNG VÀ CHÍNH YẾU
a. Ơn gọi làm người
Ơn gọi
làm người là ơn gọi đầu tiên và là nền tảng
của mọi ơn gọi tự nhiên. Ơn gọi làm
người đă được các triết thuyết, các
hệ tư tưởng, các nền văn hóa nói tới.
Làm người là một con đường dẫn tới
sự hoàn thiện. Con người luôn phải chiến
đấu với thói hư tật xấu của ḿnh để
trở thành người hơn. Nhưng làm người,
theo nghĩa tích cực nhất, là làm người trong mối
tương quan với Thiên Chúa. Con người phải tôn
kính Trời và tuân theo sự sắp đặt quan pḥng của
Thiên mệnh (Ư Trời), v́ Thiên mệnh là nguồn gốc của
mọi luật lệ đạo đức. Bởi đó,
Khổng Tử nói: “Kẻ nào không nhận biết Thiên mệnh,
sẽ không bao giờ là một hiền nhân.”[3]
Sống theo thiên nhiên, tuân giữ luật của thiên nhiên là
sống theo Thiên mệnh.
Thế
nhưng, Kinh thánh nói ǵ về mối tương quan này?
Từ
hư vô con người trở thành hiện hữu do ư muốn
của Thiên Chúa. Thiên Chúa đă tạo dựng con người
“theo h́nh ảnh ḿnh và giống ḿnh.” (St 1, 26) Ngài đă trao vũ
trụ cho con người làm chủ và mời gọi con
người bước vào một mối tương quan
yêu thương mật thiết với Ngài. Thiên Chúa nghĩ
đến ta trước cả khi Ngài tạo thành vũ trụ.
Thực ra đó là lư do Ngài đă tạo dựng thế giới.
Thiên Chúa đă h́nh thành hành tinh này cho chúng ta để chúng ta
sống và hưởng dùng. “Đặc tính cao cả nhất của
phẩm giá con người nằm trong ơn gọi con
người được hiệp thông với Thiên chúa.
Thiên Chúa khởi sự mời gọi con người đối
thoại với Ngài, cùng với sự xuất hiện của
họ trên đời. Bởi v́, nếu con người hiện
hữu, là v́ yêu thương mà Thiên Chúa đă tạo dựng
họ, và cũng v́ yêu thương mà ngài luôn cho họ
được sống. Và con người chỉ sống
hoàn toàn theo chân lư, nếu tự do nh́n nhận t́nh yêu đó
và phó thác cho Đấng tạo dựng nên ḿnh.” (GS 9).
Chúng ta
sẽ sống một cuộc sống thanh thản hơn,
có ư nghĩa và tốt đẹp hơn, nếu chúng ta biết
rằng Thiên Chúa đang điều khiển và quan pḥng mọi
sự. Ngài hài ḷng với việc chúng ta tôn thờ Ngài, coi
Ngài là trung tâm của cuộc sống. Và như vậy chúng
ta phải luôn tiếp xúc với Ngài bằng cầu nguyện,
lắng nghe tiếng Ngài, hiệp thông với Ngài. Chúng ta
được tạo dựng để làm đẹp ḷng
Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta được tạo
dựng một cách độc đáo, không ai giống ai, cả
về thể xác, tâm hồn, tính t́nh và năng khiếu. Bởi
đó, không có ơn gọi nào giống ơn gọi nào. Mỗi
người là tác phẩm nghệ thuật độc
đáo và độc nhất vô nhị của Thiên Chúa.
Thiên
Chúa quan tâm đến từng chi tiết của thân thể
chúng ta:
“Tạng
phủ con, chính Ngài đă cấu tạo, dệt tấm h́nh
hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đă dựng
nên con cách lạ lùng, công tŕnh Ngài xiết bao kỳ diệu!”
(TV 139, 13-14) “Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm
ǵ, khi con được thành h́nh trong nơi bí ẩn,
được thêu dệt trong ḷng đất thẳm sâu.”
(Tv 139, 15)
Không những
Chúa tạo h́nh ta, Ngài c̣n tiếp tục tiến tŕnh định
h́nh ta. Ngài đă lên kế hoạch trước những
ngày sống của đời ta khi ấn định chính
xác ngày ta sinh ra và ngày ta chết:
“Con mới
là bào thai, mắt Ngài đă thấy; mọi ngày đời
được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong
sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời
con khởi sự.” (Tv 139, 16).
Ngài thấu
suốt những công việc ta làm, ngay cả tư tưởng
của ta Ngài cũng am tường hết:
“Lạy
Chúa, Người đă ḍ xét con và Người biết rơ, biết
cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng
ǵ, Người thấu suốt từ xa, đi lại hay
nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo
đường con đi, Người quen thuộc cả...Người
bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của
Người, Người đặt trên con.” (Tv 138, 1-5).
Ngài luôn
nâng đỡ và hướng dẫn ta trên mọi nẻo
đường đời:
“Ta
đă nâng các ngươi từ trong ḷng mẹ, đă hứng
các ngươi từ lúc chưa chào đời. Cho đến
khi các ngươi già nua tuổi tác, trước sau ǵ Ta vẫn
là Ta; cho đến khi các ngươi da mồi tóc bạc,
Ta vẫn c̣n gánh vác các ngươi. Như xưa nay Ta vẫn
từng đối xử: Ta sẽ nâng niu, gánh vác các
ngươi, và ban ơn cứu thoát.” (Is 46, 3-4)
Qua
đó nói lên rằng không ǵ xẩy ra trong đời ta mà lại
không mang một ư nghĩa ǵ. Chúa uốn nắn ta theo mục
đích tạo dựng của Ngài. Làm một công việc
ǵ, chúng ta đều nhắm tới mục đích nào
đó. Người không có mục đích cũng giống
như con thuyền không bánh lái, như lục b́nh trôi sông.
Khi tạo nên chúng ta, Thiên Chúa cũng có mục đích của
Ngài và Ngài muốn chúng ta hoàn thành. Nếu chúng ta không hoàn
thành, th́ ai sẽ thay thế chúng ta, v́ mỗi người
đều có công việc của riêng ḿnh.
V́
thế, chúng ta phải luôn tự hỏi ḿnh: Tôi sống ở
trên đời này để làm ǵ? Đâu là ư nghĩa của
sự hiện hữu của tôi? Nếu ta muốn biết
lư do tại sao ta được đặt trên hành tinh này,
ta phải bắt đầu từ Thiên Chúa. Ta không tạo
dựng được chính ta; do đó, ta không thể bảo
rằng tôi được tạo dựng để làm ǵ?
Tôi muốn trở nên thế nào? Đâu là những mục
tiêu, những tham vọng, những kế hoạch, những
ước mơ của tôi? Tập trung vào ḿnh như vậy
ta sẽ không bao giờ biết được mục
đích chính của đời sống ta. Chính Thiên Chúa tạo
dựng nên ta và Ngài có mục đích của Ngài. Ta không thể
biết được mục đích của một phát
minh mới, nếu người phát minh không nói cho ta biết.
Ta không thể đạt tới mục đích đời
ta bằng cách bắt đầu tập trung vào chính ḿnh. Ta
phải bắt đầu với Thiên Chúa, Đấng tạo
h́nh nên ta. Ta chỉ hiện hữu v́ Thiên Chúa muốn ta hiện
hữu. Chỉ trong Thiên Chúa ta mới khám phá ra được
nguồn gốc, căn tính, ư nghĩa, mục đích, cách
thể hiện và số phận của ta. Tất cả
các con đường khác đều dẫn đến bế
tắc. Ta được tạo dựng cho Thiên Chúa; và v́
thế, cuộc sống của ta là để Ngài sử dụng
cho các mục đích của Ngài, chứ không phải ta sử
dụng Ngài cho mục đích riêng của ta. Nếu ta chỉ
tập trung vào chính ḿnh, kiên tŕ và quyết tâm theo đuổi
những mục tiêu ta đề ra, ta có thể đạt
được thành công rực rỡ, nhưng vẫn c̣n
thiếu những mục đích Thiên Chúa mong muốn khi tạo
dựng nên ta.
Con
người được tạo dựng cho vĩnh cửu.
Chính Thiên Chúa đă tạo dựng ta theo h́nh ảnh Ngài,
để sống trong cơi vĩnh hằng. Cuộc đời
này không phải là tất cả. Nó là một sự chuẩn
bị cho đời sống mai hậu. Mạnh giỏi lắm
ta có thể sống một trăm năm trên trái đất
này, nhưng ta sẽ sống muôn đời trong cơi đời
đời. Đời sống chúng ta trên dương thế
này chỉ là tạm bợ nơi đất khách quê người.
Quê hương chúng ta là ở trên trời; do đó, đừng
quá dính bén vào những của phù vân, đừng lo chiếm
đoạt mọi thứ trên đời. Tất cả rồi
sẽ qua đi… Mối giây liên hệ của ta với Thiên
Chúa trên trần thế này sẽ xác định mối giây
liên hệ với Ngài trong cơi đời đời. Nếu
đo bằng cây thước vĩnh cửu, thời gian của
chúng ta trên cơi đời này tựa như một chớp mắt,
nhưng hậu quả của nó sẽ kéo dài vô tận.
Nhiều
người để cho tiền bạc, danh vọng, lạc
thú, tội lỗi, sự sợ hăi,… điều khiển
đời sống của họ. Và kết quả là họ
luôn sống trong bất an, tầm thường và vô nghĩa.
Nếu ta tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, các mục
đích của Ngài sẽ dẫn dắt đời sống
chúng ta: “Thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng
của nó. C̣n ai thi hành ư muốn của Thiên Chúa th́ tồn tại
măi măi.” (1Ga 2, 17)
Nếu
không có Thiên Chúa, hẳn tất cả sự hiện hữu
của chúng ta đều là do “ngẫu nhiên.” Đó là kết
quả của may rủi do thiên nhiên vận hành bừa băi
trong vũ trụ. Và như thế, đời sống chẳng
có ư nghĩa ǵ, chẳng có tốt xấu, đúng sai, chẳng
có hy vọng… Nhưng có Thiên Chúa, Đấng đă tạo
h́nh ta; và v́ thế, đời sống của ta có một ư
nghĩa sâu xa.
Việc
t́m hiểu ư định của Thiên Chúa kéo dài suốt đời
ta. Chúng ta chỉ biết được ư nghĩa và mục
đích của đời sống chúng ta khi chúng ta biết
được Thiên Chúa là ai và Ngài làm ǵ cho chúng ta: “Khởi
đầu mỗi bước đường ơn gọi,
đều có Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở-cùng-chúng-ta.
Chính Ngài mặc khải cho chúng ta biết, chúng ta không
đơn độc khi xây dựng đời sống ḿnh,
bởi v́ Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta giữa
những biến cố liên tiếp, và nếu ta muốn,
Ngài sẽ xây dựng với mỗi người chúng ta một
cuộc t́nh kỳ diệu, độc nhất và không giống
nhau, nhưng đồng thời lại phù hợp với
con người và vũ trụ. Khám phá ra sự hiện diện
của Thiên Chúa trong lịch sử đời ḿnh, sẽ
không cảm thấy ḿnh mồ côi nữa, nhưng biết rằng
ḿnh có một Người Cha mà ta có thể hoàn toàn tin cậy
nơi Ngài: đó là khúc rẽ quan trọng có thể biến
đổi triển vọng con người, và như Hiến
chế Gaudium et Spes quả quyết, con người ‘chỉ
nhận ra ḿnh cách trọn vẹn, nhờ việc hiến
thân chân thành’ (Số 24)”[4]
Định hướng này sẽ chiếu sáng cho cách sống
của ta, cách ta thi hành công việc hằng ngày, cách đối
xử với người khác, cách đánh giá sự việc,…
Ta sẽ sử dụng thời giờ và tiền bạc một
cách khôn ngoan hơn. Nhiều công việc, kế hoạch, mục
tiêu và ngay cả nhiều vấn đề xem ra quan trọng,
sẽ trở thành tầm thường, nhỏ nhặt và
không đáng quan tâm nữa. Ta càng sống gần Thiên Chúa,
các sự vật càng trở nên tầm thường, nhỏ
bé.
b. Ơn gọi làm Kitô hữu
Ơn gọi
thứ hai và cũng là nền tảng cho mọi ơn gọi
siêu nhiên là ơn gọi làm Kitô hữu. Thiên Chúa không chỉ
là điểm khởi đầu của cuộc sống
chúng ta, Ngài c̣n là nguồn mạch và đích điểm của
đời sống chúng ta. Để khám phá ra mục
đích đời ta, ta phải qui chiếu về Lời của
Ngài, chứ không phải về những lẽ khôn ngoan của
con người. Lời của Ngài đă chỉ cho chúng ta
thấy: “Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết
định và ư muốn của Người, đă tiền
định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế
hoạch của Người, để chúng tôi là những
người đầu tiên đặt hy vọng vào Chúa
Ki-tô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.” (Eph 1, 11- 12).
Bản văn Kinh thánh này đă chỉ cho chúng ta thấy rằng
chúng ta khám phá ra căn tính và mục đích của chúng ta nhờ
liên kết với Chúa Giêsu Kitô. Khi ta liên kết với Chúa
Kitô, đời sống của ta sẽ thay đổi, mọi
giá trị sẽ đảo lộn như thánh Phaolô nói: “Những
ǵ xưa kia tôi cho là có lợi, th́ nay, v́ Chúa Ki-tô, tôi cho là thiệt
tḥi.” (Pl 3, 7).
Từ
sự hiện hữu đơn thuần nhân loại, con
người được mời gọi bước vào một
sự hiện hữu thần linh, do công tŕnh tái tạo của
Thiên Chúa trong Chúa Kitô: “V́ được d́m vào trong cái chết
của Người, chúng ta đă cùng được mai táng
với Người. Bởi thế, cũng như Người
đă được sống lại từ cơi chết nhờ
quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, th́ chúng ta cũng
được sống một đời sống mới.”
(Rm 6, 4) Thật vậy, qua phép Rửa, chúng ta được
tái sinh trong Chúa Kitô, từ bỏ con người cũ để
mặc lấy con người mới, cùng vác thập giá với
Người để rồi cùng được hưởng
vinh quang với Người. Ư định cứu chuộc
này đă được Thiên Chúa hoạch định từ
trước cho chúng ta: “Ân sủng đó, Người đă
ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Chúa Ki-tô Giê-su, nhưng
giờ đây mới được biểu lộ, v́
Đấng cứu độ chúng ta là Chúa Ki-tô Giê-su đă
xuất hiện.” (2Tm 1, 9-10) “Chúng ta là tác phẩm của
Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Chúa Ki-tô
Giê-su, để sống mà thực hiện công tŕnh tốt
đẹp Thiên Chúa đă chuẩn bị cho chúng ta.” (Ep 2:10)
“Chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của
Thiên Chúa đă được giữ bí mật, lẽ khôn
ngoan mà Thiên Chúa đă tiền định từ trước
muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển. Không một
ai trong các thủ lănh thế gian này đă được biết
lẽ khôn ngoan ấy, v́ nếu biết, họ đă chẳng
đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá.
Nhưng, như đă chép: Điều mắt chẳng hề
thấy, tai chẳng hề nghe, ḷng người không hề
nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đă dọn
sẵn cho những ai mến yêu Người.” (1Cr 2, 7-9)
Đây
là ơn gọi căn bản và phổ quát, v́ là ơn gọi
đầu tiên và là ơn gọi chung cho mọi Kitô hữu.
Ơn gọi này là ơn Chúa ban cho chúng ta cách nhưng không,
là một món quà vô giá mà không phải ai cũng nhận
được.
Chúng ta
được tạo h́nh cho gia đ́nh của Thiên Chúa.
Thiên Chúa tạo dựng con người để trở
nên các phần tử trong gia đ́nh của Ngài và Ngài sai Con
Một của Ngài, Chúa Giêsu, đến trần gian để
hướng dẫn chúng ta nhận biết Ngài là Người
Cha nhân hậu và chúng ta là con cái của Ngài, là anh em với
nhau. Chúng ta được tạo dựng trở nên giống
Chúa Giêsu. Như vậy, mục tiêu tối hậu của cuộc
sống không phải là xây dựng cho ḿnh một cuộc sống
đầy đủ tiện nghi về vật chất,
nhưng quan trọng hơn chính là việc phát triển
đời sống tâm linh. Làm sao để cuộc sống
ḿnh biến đổi theo h́nh ảnh Chúa Giêsu và những lời
giảng dậy của Ngài. Giáo hội chính là gia đ́nh
thiêng liêng của Ngài. Mục đích của đời sống
chúng ta là học hỏi ḷng yêu thương của Ngài. Sống
đạo không chỉ là tin, nhưng quan trọng hơn cả
là thuộc về Ngài, thuộc về Giáo hội của
Ngài. Sống đạo là sống t́nh thân hữu với
Thiên Chúa và với mọi người. Do đó, chúng ta
được tạo h́nh là để phục vụ Thiên
Chúa. Sống được như vậy, mỗi Kitô hữu
cần loại bỏ năo trạng lo vun xới cho chính ḿnh
để hiến thân phục vụ người khác. Lời
thánh Phaolô luôn nhắc nhở chúng ta: “Anh em đừng có rập
theo đời này, nhưng hăy cải biến con người
anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể
nhận ra đâu là ư Thiên Chúa: cái ǵ là tốt, cái ǵ đẹp
ḷng Chúa, cái ǵ hoàn hảo.” (Rm 12, 2)
Ơn gọi
luôn gắn liền với sứ vụ. Chúng ta được
Chúa kêu gọi là để sống với Ngài và để
được Ngài sai đi (x. Mc 3, 13- 15). “Sống chứng
nhân là cách thế biểu thị sống động nhất
về sức mạnh yêu thương cứu độ của
Thiên Chúa. Cũng như Chúa Giêsu đă đến trần
gian không để t́m vinh quang cho chính ḿnh, nhưng là để
làm vinh danh Thiên Chúa và cứu độ con người, Kitô
hữu bước theo Chúa Giêsu để được
Tin Mừng của Người biến đổi, và qua
đó họ trở nên những người đem Tin Mừng
cho thế giới này.” (HĐGMVN, Thư Mục vụ 2006,
số 4) Bậc sống giáo dân cũng có nhiều “ơn gọi”
khác nhau: đó là những cách sống và việc tông đồ
khác nhau tùy theo môi trường sống của mỗi
người: “Mỗi người tùy theo ơn Chúa ban mà phục
vụ kẻ khác, như những người quản lư
trung tín giữ mọi ân sủng của Thiên Chúa.” (1 Pt. 4:10)
Mọi
ơn gọi khác đều phát xuất từ ơn gọi
làm người và một cách rơ nét trong ơn gọi làm Kitô
hữu.
Có nhiều
loại ơn gọi: có loại ơn gọi dành cho hết
mọi người, có loại chỉ dành cho một số
ít người; có loại ơn gọi cho cả đời
người, có loại ngắn hạn… Loại ơn gọi
cho cả đời người chính là ơn gọi bậc
sống của mỗi người: sống độc
thân, lập gia đ́nh, hoặc tu tŕ. Với cuốn sách mỏng
này, người viết chỉ nói sơ qua về ơn gọi
sống đời hôn nhân và bàn sâu hơn về ơn gọi
tu tŕ
c. Ơn gọi sống đời hôn nhân hay tu tŕ
Sau
ơn gọi nền tảng tự nhiên và siêu nhiên, chúng ta
có bổn phận đi t́m thánh ư Chúa cho ơn gọi riêng của
ḿnh. Đối với những người lập gia
đ́nh, họ có thêm ơn gọi sống đời
đôi bạn hay làm cha mẹ. Ngoài ra, một số người
c̣n có ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ. Ơn gọi
đời sống hôn nhân hay tu tŕ, không mâu thuẫn với
ơn gọi làm Kitô hữu; trái lại, nó củng cố,
làm thăng tiến và phong phú hơn. Hai ơn gọi này dẫn
đến hai bậc sống khác nhau: bậc sống tu tŕ
và bậc sống hôn nhân. Nhưng tất cả đều
được kêu gọi trở nên trọn lành (x. Mt 5, 48).
Công đồng Vatican II cũng đă khẳng định mọi
Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh
trong bậc sống của ḿnh và có nhiều con đường
để nên trọn lành (x. LG 11, 42), chứ không chỉ qua
con đường tu tŕ. Ở đây, chúng ta cần phân biệt
“nên thánh” trong bậc giáo dân và “nên thánh” trong bậc tu tŕ: sự
thánh hiến phổ quát và sự thánh hiến riêng biệt,
ơn gọi phổ quát nên thánh và ơn gọi cụ thể
nên thánh theo từng bậc sống. Trong Cựu ước,
có sự thánh hiến của toàn thể dân Chúa và cũng có
sự thánh hiến của riêng các ngôn sứ. Cũng vậy,
trong Tân ước, ngoài sự thánh hiến phổ quát dựa
trên bí tích Rửa tội, c̣n có sự thánh hiến đặc
biệt của bí tích Truyền chức (x. CCC[5]
1535, 1556-1559), của bí tích Hôn nhân (x. GS 48; CCC 1535), của
các h́nh thức tu tŕ (x. CCC 916, 931; LG 44; PC 5). Mỗi người
phải sống theo đặc sủng đă nhận
được (x. 1Cr 7, 7- 20). Chính Chúa Thánh Thần làm cho
Giáo hội trở thành một mối hiệp thông hữu
cơ, trong sự đa dạng về các ơn gọi, các
đặc sủng và các thừa tác vụ (x. AG 4; LG 4, 12,
13; GS 32, CL 30-31). Nói chung, nên thánh là con đường của
đức ái. Càng yêu nhiều, càng thánh thiện. Ơn gọi
là một lời mời gọi để sống trong t́nh
yêu với Thiên Chúa và để minh chứng t́nh yêu đó. Dù
sống trong bậc sống nào, chúng ta cần phải hiểu
rằng T̀NH YÊU là sức sống nền tảng của mọi
ơn gọi: “Một cách đơn giản, ơn gọi
là một tiếng gọi để tôi hoàn toàn lệ thuộc
vào Đức Kitô, với ư thức rằng, không ǵ có thể
tách tôi ra khỏi T́nh yêu của Người. Ơn gọi
là một lời mời gọi để sống trong t́nh
yêu với Thiên Chúa và để minh chứng t́nh yêu đó.
Tôi yêu mến Chúa thế nào? Tôi minh chứng t́nh yêu của
tôi cho Thiên Chúa thế nào? Thưa, bằng cách làm thật tốt
đẹp công việc được trao phó, bằng cách
thực hiện một cách đơn sơ những ǵ Chúa ủy
thác cho tôi dưới bất kỳ dạng thức nào.
Như thế, dù bạn được trao phó cho bất kỳ
công việc ǵ, với tư cách một tu sĩ, hay một
giáo dân - đó là phương tiện cho bạn để bạn
dành t́nh yêu của bạn cho Thiên Chúa trong một hành vi sinh
động, trong một hành vi của t́nh yêu... Bất kỳ
khi nào bạn mỉm cười với một người
nào đó, nụ cười đó là một hành vi của
t́nh yêu, là một món quà cho người đó, một cái ǵ
thật đẹp... Do đó, nếu tôi biết làm thế
nào để yêu mến Đức Kitô, nếu tôi muốn biết
tôi có thực sự ở trong t́nh yêu với Thiên Chúa không,
tôi chỉ cần nh́n xem tôi đă làm công việc Ngài đă
trao phó cho tôi như thế nào - Có bao nhiêu t́nh yêu tôi đă
đặt vào trong công việc của tôi. Bạn thấy
đó, vấn đề của ơn gọi không hệ tại
ở chính công việc - ơn gọi của chúng ta là
thuộc trọn về Đức Giêsu với ư thức rằng,
không ǵ có thể tách ĺa chúng ta ra khỏi t́nh yêu của
Người. Ơn gọi không phải là những ǵ chúng ta
đang làm, hay chúng ta làm được bao nhiêu việc, mà
là bao nhiêu t́nh yêu tôi đă đặt vào công việc tôi
đă được trao phó. Những ǵ bạn đang làm,
có thể tôi không làm được... Những ǵ tôi đang
làm, có thể bạn không làm được, nhưng tất
cả chúng ta đều có thể làm cái ǵ đó thật
đẹp cho Thiên Chúa.” (Mẹ Têrêxa Calcutta)
Cha mẹ
của thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu, ông
Martin và bà Guerine, đă đi t́m hiểu ơn gọi
tu tŕ, nhưng Chúa không muốn cho họ đi con đường
ấy và họ đă bước vào cuộc sống hôn nhân
và nên thánh. Chúng ta phải nhấn mạnh rằng hôn nhân
Kitô giáo là một ơn gọi nên thánh và gương của
những cha mẹ thánh thiện là điều kiện thuận
lợi đầu tiên cho việc nở hoa những ơn gọi
linh mục và tu sĩ.
Từ
khởi nguyên, Chúa đă muốn con người sống có
đôi: “Đàn ông ở một ḿnh không tốt.” (St 2, 18)
Nhưng Chúa, nhất là trong Tân ước, cũng mời gọi
chúng ta bước đi trên con đường hẹp của
Tin Mừng, sống hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa
bằng một t́nh yêu không chia sẻ (x. Mt 19, 12; VC 88). Cũng
như ơn gọi làm Kitô hữu, ơn gọi làm linh mục
hay tu sĩ là ơn Chúa ban nhưng không. Chúa là người
đi bước trước, là người đưa ra
sáng kiến kêu gọi chúng ta theo Ngài: “Không phải các con
đă chọn Thầy, nhưng chính Thầy đă chọn
các con.” (Ga 15, 16)
Bởi
đó, mỗi người đều được đặt
trước một sự chọn lựa. Hạnh phúc cả
cuộc đời tùy thuộc vào sự lựa chọn
này. Sự chọn lựa luôn bao gồm trách nhiệm. Chọn
lựa cũng bao gồm sự hy sinh và dấn thân. Hy sinh
và dấn thân để theo đuổi điều ḿnh chọn
lựa. Chúng ta chọn lựa một cách dứt khoát,
nhưng hy sinh và dấn thân th́ kiên tŕ, bền bỉ và kéo
dài suốt cuộc đời. Nếu chọn lựa sống
đời Kitô hữu hoàn hảo đă phải chiến
đấu nhiều với chính bản thân, th́ chọn lựa
sống đời tu tŕ c̣n phải chiến đấu nhiều
hơn nữa. V́ chọn lựa ấy đ̣i buộc sống
giữa đời nhưng không để bị
vương vấn mùi đời.
Trước
khi lựa chọn, ta cần suy nghĩ, t́m hiểu về từng
ơn gọi, rồi tự xét xem ḿnh tự nhiên hướng
chiều mạnh mẽ về đời sống nào? Đối
với việc t́m hiểu về đời sống hôn
nhân, thiết tưởng chúng ta đă biết nhiều rồi,
ở đây chỉ xin bàn về ơn gọi tu tŕ.
3. T̀M HIỂU ƠN GỌI TU TR̀
Thật khó khăn để biết chính
xác rằng ta có ơn gọi tu tŕ hay không; bởi v́ ơn gọi,
trước hết, là một mầu nhiệm. Thiên Chúa
không nắm lấy chúng ta và lôi chúng ta đi, nhưng Ngài
dùng những phương tiện thông thường để
cho chúng ta biết Ngài đang gọi chúng ta. Đây luôn là việc
nhiệm mầu và có tính cách riêng tư đối với mỗi
người chúng ta. Thiên Chúa luôn tôn trọng chúng ta và đối
xử với chúng ta như những con người tự
do. Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người và
Ngài muốn chúng ta sử dụng lư trí của ḿnh để
nhận thức về ơn gọi của chúng ta.
Trong lịch sử Giáo hội, nhiều nhà
thần học cũng như nhiều tác giả viết về
đời sống thiêng liêng, đă nhận định rằng
Thiên Chúa sử dụng những dấu hiệu tự nhiên
để hướng chúng ta hoặc để thu hút chúng
ta đến một ơn gọi nào đó. Bạn sẽ
không bao giờ biết một cách chắc chắn, nhưng
bạn nên tự hỏi xem bạn có nhận được
những dấu hiệu mà giúp bạn phán đoán bạn có
ơn gọi tu tŕ hay không?
Ba dấu hiệu căn bản của
một ơn gọi tu tŕ:
Có ba dấu hiệu căn bản, nhưng
cũng rất là đơn giản, của một ơn gọi
tu tŕ. Đó là: ao ước sống đời sống
đó, động cơ đúng đắn cho đời sống
đó và sự thích hợp cho đời sống đó.
a. Trước tiên, để t́m hiểu
xem bạn có ao ước sống ơn gọi đó không,
bạn cần tự hỏi xem bạn có ư thích, có hướng
chiều vể ơn gọi đó không? Tôi có cảm thấy
say mê, thỏa măn, vui mừng hay có những t́nh cảm tích cực
tương tự như thế khi nghĩ về ơn gọi
đó không? Bạn cần nghiêm túc xét ḿnh như thế, bởi
v́ Chúa không muốn thu hút bạn về một ơn gọi
mà nó lại đi ngược với ư muốn của bạn.
Nhiều người nghĩ rằng họ muốn đi
tu, bởi v́ Thiên Chúa muốn như vậy. Nếu họ
không làm theo ư Chúa, họ sẽ bị phạt hoặc sẽ
gặp bất hạnh. Thiên Chúa không hành động theo cách
đó. Ngài lôi kéo chúng ta theo chiều hướng tự nhiên
của chúng ta. Nếu chúng ta có chiều hướng về
một ơn gọi nào đó, đó là một dấu hiệu
tốt. Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta và Ngài muốn
lôi cuốn chúng ta.
b. Ao ước không thôi chưa đủ,
bạn cần có thêm những dấu hiệu khác nữa. Dấu
hiệu thứ hai là muốn sống đời sống
đó v́ những lư do chính đáng. Đây là vấn đề
“động cơ thúc đẩy.” Động cơ nào nằm
sau sự thích thú và quan tâm của tôi? Có những lư do tinh thần
tích cực như: muốn phục vụ Chúa cách trực tiếp,
muốn biết và yêu Chúa nhiều hơn, muốn mở rộng
nước Chúa, muốn hoàn toàn sống cho Chúa và tha nhân,…
Đây thực sự là những động cơ tốt
đẹp. Chúng dựa trên đức tin, động lực
tinh thần, chứ không phải là những ao ước tự
nhiên. Có những lư do vụ lợi hoặc ích kỷ
như: được người ta kính trọng, có nhiều
cơ hội để thăng tiến, cuộc sống
được bảo đảm,… Không ai có thể nói là
ḿnh có động cơ trong sáng trong tất cả những
công việc ḿnh làm. Thường có sự pha trộn giữa
những động cơ tốt và những động
cơ không tốt trong cuộc sống chúng ta. Cũng có những
động cơ pha trộn như thế trong việc ao
ước sống đời tu tŕ, nhưng động lực
hướng dẫn ban đầu phải thật sự
trong sáng và vô vị lợi. Thật không luôn luôn dễ dàng
để nhận thức về những động
cơ của chúng ta. Bởi đó, chúng ta cần cầu
nguyện để biết được thánh ư Chúa và cần
có những vị linh hướng để giúp chúng ta nhận
định rơ hơn.
c. Dấu hiệu thứ ba là sự
thích hợp. Đó là khả năng để sống đời
tu, sống một cách thoải mái, vui vẻ, rộng lượng.
Bạn phải thích hợp với đời sống
đó và đời sống đó phải thích hợp với
bạn. Đây là những đức tính tự nhiên và siêu
nhiên giúp bạn t́m thấy niềm vui và hạnh phúc trong
đời dâng hiến. Đi tu là tu cả con người.
Ơn thánh không cản trở hay thay thế bản chất
tự nhiên của ta, nhưng chỉ thăng hoa và thánh hóa
nó. Bản chất tự nhiên của ta không chết đi
và với thời gian có thể bùng lên. Bởi đó, việc
nhận định ơn gọi cần căn cứ vào những
khả năng đạo đức, tâm lư và thể lư. Giáo
luật điều 642 nhấn mạnh đến yếu tố
sức khoẻ, tính t́nh thích đáng và có đủ các đức
tính của sự trưởng thành. Nhiều người
thích đời tu nhưng lại không thể sống thích hợp
với nó được. Cũng vậy có nhiều người
thích hợp với đời sống tu tŕ, nhưng họ
lại không muốn bước vào con đường
đó. Họ không bị nó thu hút. Thiên Chúa tôn trọng tự
do của mỗi người và tôn trọng cái cách mà họ
là.
Tóm lại, để xác định ơn
gọi tu tŕ, bạn phải có cùng lúc ba dấu hiệu
căn bản trên. Tuy nhiên, bạn vẫn phải t́m hiểu
và suy xét kỹ, v́ nhiều khi “thấy vậy mà không phải
vậy.” Chẳng hạn, việc thích sống đời sống
độc thân có thể là dấu hiệu của ơn gọi
tu tŕ, nhưng chúng ta phải t́m hiểu xem động lực
của việc thích sống độc thân là ǵ? Đó có phải
là v́ thích sống khép kín và lập dị? Hay là không thích những
người chung quanh? Tu là dâng hiến, là cho đi, là phục
vụ nên không thể chấp nhận lối sống đó
được. Thích cầu nguyện cũng có thể là dấu
hiệu của ơn gọi, nhưng phải t́m hiểu
xem nguyên nhân nào thúc đẩy ta đến việc cầu
nguyện. Có phải v́ ta sống cô đơn, không bạn
bè, không có người tâm sự, không biết chia sẻ cùng
ai nên ta cầu nguyện để t́m nguồn an ủi?
Đời tu là tận hiến cho Thiên Chúa, sống thân t́nh
với Ngài, chứ không phải là nơi t́m an ủi cho bản
thân. Có những người nhút nhát, sợ trách nhiệm, sống
dựa vào người khác, nên muốn t́m đến đời
sống tu như một nơi nương tựa, bảo
đảm cho cuộc sống. Đó không phải là dấu
hiệu của một ơn gọi.
Ơn gọi là một ân huệ đặc
biệt Thiên Chúa ban cho một số người nào đó.
Chúa có nhiều cách để gọi chúng ta mà chúng ta không thể
ngờ tới được. Điều quan trọng là
chúng ta cần phải ư thức và sống theo ư Chúa. Ơn gọi
tu tŕ là một ân huệ, nên chúng ta cần t́m hiểu, khám
phá ra và nuôi dưỡng ơn gọi đó.
Ngoài ra, chúng ta c̣n cần dựa trên
nhưng yếu tố chính của một ơn gọi tu
tŕ:
- Một niềm tin tưởng mạnh mẽ
vào Giáo hội và giáo huấn của Giáo hội.
- Yêu thích đời sống cầu nguyện.
- Sẵn sàng từ bỏ và hy sinh theo
bước Chúa Kitô.
- Sống vị tha và có khả năng hiến
thân phục vụ tha nhân, nhạy cảm trước những
nhu cầu của thời đại.
- Có ư chí vươn lên, khắc phục mọi
khó khăn hiện tại trước những đ̣i hỏi
của Tin mừng.
- Có tinh thần đối thoại, cởi
mở và biết lắng nghe tha nhân.
4. SỰ ĐÁP TRẢ CỦA CON
NGƯỜI
Tất cả chúng ta đều phải
nghiêm chỉnh t́m ra ơn gọi cho cuộc đời của
ḿnh, như phần quan trọng nhất của thánh ư.
Ơn gọi chính là một mầu nhiệm,
v́ đó là sự gặp gỡ giữa tự do của
ơn Chúa và sự tự do đáp trả của con người.
Con người có toàn quyền tự do để đáp lại
lời mời gọi của Chúa. Khi dựng nên ta, Chúa không
hỏi ư kiến ta. Ngài dựng nên ta v́ Ngài yêu ta, Ngài muốn
điều tốt đẹp cho ta. Ngài ban cho ta điều
qúi giá nhất, đó là sự tự do. Nhưng khi muốn
cứu chuộc ta, Ngài cần sự cộng tác của ta,
Ngài tôn trọng sự tự do của ta. V́ tự do, chúng
ta có thể phản bội Ngài, chống lại Ngài. Sự
tự do lựa chọn này luôn tạo ra những giằng
co, những thử thách, những hy sinh, đắng cay và
đôi khi cả tủi nhục nữa.
Ơn gọi là một mầu nhiệm. Nếu
Chúa mời gọi mà ta không đáp trả, Chúa cũng phải
chịu, v́ Ngài tôn trọng tự do của ta. Nhưng, nếu
ta muốn mà Ngài lại không gọi, ta cũng phải hiểu
rằng, Ngài có lư do của Ngài. Bởi đó, ta luôn phải
t́m hiểu thánh ư Ngài: “Anh em đừng hoá ra ngu xuẩn,
nhưng hăy t́m hiểu đâu là ư Chúa.” (Eph 5, 17) Để biết
được thánh ư Chúa, ta luôn phải tỉnh thức
và sẵn sàng, cầu nguyện và lắng nghe.
a. Tỉnh thức và sẵn sàng
Chúng ta không thể biết trước
được khi nào Chúa mời gọi chúng ta và mời gọi
như thế nào. Chúa có thể gọi ta bước theo
Ngài vào bất cứ lúc nào trong đời và bằng nhiều
cách khác nhau, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người.
Tỉnh thức và sẵn sàng sẽ giúp ta đọc ra
được những dấu chỉ, những tiếng gọi
thầm kín và nhẹ nhàng của Chúa ngay trong cuộc sống
hằng ngày.
Trong Cựu ước, Chúa gọi Maisen
nơi bụi gai bốc cháy (x. Xh 3, 1-6), Chúa gọi Isaia
trong đền thờ (x. Is 6, 1-8), Chúa gọi Samuen vào giữa
đêm khuya (x. Sm 3, 1-20),… Có khi Chúa gọi trực tiếp và
rơ ràng như Chúa gọi Abraham (x. St 12, 1). Trong Tân ước,
Chúa gọi các tông đồ Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan và Matthêu
(x. Mc 1:14-20; 9, 9-13) đều đột ngột và bất
ngờ. Không ai trong các ông biết trước rằng vào một
lúc nào đó ḿnh sẽ được gặp Chúa và Ngài sẽ
gọi ḿnh. Nhưng các ông đă đáp lại tiếng gọi
không một chút do dự. Không ai trong các ông biết Chúa là ai?
Họ đă bỏ tất cả và lập tức theo Ngài.
Thánh Antôn, khi vào nhà thờ nghe đoạn Tin mừng: “Nếu
con muốn nên trọn lành, hăy về bán hết…” (Mt 19, 21; Mt
6, 34), đă cảm nhận được tiếng Chúa gọi
ngài, và ngài đă bán hết của cải, bố thí cho kẻ
nghèo để bước theo Chúa.
Tỉnh thức và sẵn sàng nghĩa là khi
Chúa đến, ta gặp được Ngài; khi Ngài gọi
ta: “Hăy theo Ta”, ta nghe được tiếng gọi đó
cách huyền nhiệm và ta “lập tức” đáp lại. Thật
vậy, không thiếu những dấu chỉ, những lời
gọi trong đời sống của mỗi người.
Tỉnh thức để có thể nghe và hiểu
được tiếng Chúa gọi, sẵn sàng để
đáp lại một cách quảng đại, không do dự.
Muốn tỉnh thức và sẵn sàng, ta cần
phải biết cầu nguyện và lắng nghe tiếng
Chúa.
b. Cầu nguyện và lắng nghe
Cầu nguyện là yếu tố then chốt
để biết được thánh ư Chúa. Ơn gọi phát xuất
từ Thiên Chúa. Do đó, cầu nguyện để có thể
nghe được tiếng gọi của Ngài. Đây
là điều kiện không thể thiếu cho một
người luôn tỉnh thức và sẵn sàng trước
tiếng gọi của Chúa. Dụ ngôn “10 cô trinh nữ” (x.
Mt 25, 1-13) cho thấy nếu muốn luôn tỉnh thức và
sẵn sàng, th́ phải luôn dự trữ dầu đầy
b́nh. Dầu ở đây chính là lời cầu nguyện:
khi không c̣n dầu, đèn sẽ tắt; khi không cầu nguyện,
con tim sẽ khô héo. Khi cầu nguyện, chúng ta lắng nghe
được tiếng Chúa nói. Cầu nguyện thực sự
là t́m kiếm thánh ư Thiên Chúa và t́m kiếm Thiên Chúa trong mọi
sự. Bởi đó, để gặp được Chúa
và nghe được tiếng Người, ta cần phải
liên lỉ cầu nguyện. Khi cầu nguyện liên lỉ,
chúng ta sẽ sống kết hợp mật thiết với
Chúa. Và nhờ đó, ta càng nghe rơ tiếng Người gọi
ta, cũng như biết rơ được ư định của
Người cho ta. Khiêm tốn lắng nghe tiếng Chúa, ta sẽ
nghe được tiếng của Người.
Chúng ta cần cầu xin Chúa Thánh Thần,
Ngài là nguồn gốc mọi ơn gọi và đặc sủng,
để xin Ngài mở ḷng trí chúng ta, giúp chúng ta luôn tỉnh
thức và sẵn sàng.
Lời cầu nguyện liên lỉ sau
đây sẽ giúp ta t́m hiểu về ơn gọi của
ta và lắng nghe ư Chúa:
Lạy Chúa, con đây, Chúa muốn con làm ǵ?
Này con xin đến để thực thi ư Chúa. Xin cho con biết
được ư Chúa và vâng theo ư Ngài. Chúa muốn con sống
đời tu tŕ hay sống đời hôn nhân? Nếu Chúa muốn,
con xin hiến thân để phụng sự Chúa. Xin cho con
luôn can đảm và quảng đại để dấn
thân phụng sự Chúa….
Không có một ơn gọi hay một bậc
sống nào là dễ dàng cả. Ơn gọi nào cũng
đ̣i hỏi phải bỏ ḿnh, hy sinh và dấn thân. Khi biết
được Chúa gọi ta, dù ta cảm thấy bất xứng
và yếu hèn, ta cần can đảm, tin tưởng và phó
thác vào Chúa, v́ “ơn Chúa luôn đủ cho chúng ta” (2Cr 12, 9).
Các tông đồ ngày xưa là những con người quê
mùa chất phát, nhưng Thiên Chúa đă tuyển chọn họ
để trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng.
Thiên Chúa đă tuyển chọn những con người tầm
thường để làm nên những công tŕnh tuyệt tác
của Ngài. Như vậy, ta mới nhận thức
được rằng đó chính là công tŕnh của Thiên
Chúa chứ không phải do người phàm, v́ đối
với Thiên chúa không có ǵ là không có thể.
Đức Giáo hoàng Phaolô VI, nhân ngày cầu
nguyện cho ơn thiên triệu 13/5/1973, đă kêu gọi
ḷng quảng đại dấn thân của các bạn trẻ:
“Chúng tôi kêu gọi cách riêng các bạn trẻ mà chúng tôi rất
ưu ái. Các bạn chưa có một quyết định tối
hậu nào để các bạn tỏ ra hào hiệp hy sinh.
Có rất nhiều tiếng gọi. Có rất nhiều ngả
đường đang mở ra trước mắt các bạn,
kêu mời các bạn tiến lên để phục vụ
dân Chúa và Giáo hội. Phải chăng tiếng gọi này sẽ
không có đáp ứng? Phải chăng con đường ấy
sẽ không có người đi? Các bạn đầy rộng
lượng hy sinh. Hăy hy sinh cho lư tưởng ấy. V́ sao
bạn dừng chân và chờ đợi? Trong khi đó thế
giới này đang thay đổi mau chóng. Từng đoàn
người mới xuất hiện trên trái đất. Tin
mừng phải được rao giảng cho mọi
người, cho người nghèo khó hôm qua cũng như hôm
nay và ngày mai. Luôn luôn có những người đói khát, lao
tù, những người bệnh tật trong thể xác và
tâm hồn. Họ đang chờ đợi bạn. Trong họ,
Chúa Giêsu đang chờ đợi bạn. Có việc cho mọi
người. Có chỗ đang đón bạn.”
5. ĐỨC MARIA VÀ ƠN GỌI
“Đức Maria hoàn toàn thực hiện ư
Chúa trong thực trạng của đời sống. Đức
Maria đă đón nhận Lời và đem ra thực hành.
Toàn bộ hành động của Mẹ thấm nhuần
t́nh yêu và tinh thần phục vụ. Tắt một lời,
Đức Maria là người môn đệ đầu tiên
và tuyệt hảo nhất của Chúa Kitô. Tất cả
điều đó có giá trị nêu gương măi măi cho thế
giới.”[6] Mẹ đă hiệp thông với sức mạnh
và ân sủng của Chúa Thánh Thần trong mầu nhiệm nhập
thể của Chúa Giêsu và trong biến cố hiện xuống,
để xây dựng và phát triển Hội Thánh, là Thân Thể
và Hiền Thê của Chúa Kitô. Mẹ khiêm tốn nh́n nhận
thân phận nghèo hèn của ḿnh, nhưng lại được
Thiên Chúa đoái thương và thực hiện những
điều kỳ diệu (x. Lc 1, 49). Mẹ là nhà truyền
giáo đầu tiên khi vội vă đem Chúa đến cho bà
Elizabeth (x. Lc 1, 56), là nhà chiêm niệm trong biến cố dâng
Con tại Đền thờ (x. Lc 2, 21-38), người phụ
nữ có một tâm hồn rất tế nhị, nhạy
bén trước nhu cầu của đôi tân hôn tại tiệc
cưới Cana (x. Ga 2, 1-12) và nhất là người Phụ
nữ can trường trước thử thách khi đứng
gần thập giá Chúa Giêsu (x. Ga 19, 25-27).
Mẹ đă kết hợp giữa
chiêm niệm và hành động khi đi thăm viếng bà
Elizabeth, đă trở nên khí cụ trong kế hoạch của
Thiên Chúa. Sự can thiệp của Mẹ tại Cana đă
mang lại kết quả bất ngờ. Lời Mẹ dặn
những người giúp việc cũng chính là lời Mẹ
muốn nhắn gởi mỗi người chúng ta: “Người
bảo ǵ, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ là Mẹ của
Giáo hội và cũng là Mẹ của mỗi người
chúng ta. Mẹ đă Lắng Nghe và tuân giữ Lời Chúa
trong suốt cuộc đời của ḿnh (x. Lc 8, 21; 11,
27-28). Vâng lời Mẹ, chúng ta sống theo lời Chúa Giêsu
dạy như Mẹ đă hoàn toàn vâng nghe thánh ư Thiên Chúa. Hăy
để Mẹ lo cho tương lai ơn gọi của bạn.
Hăy thưa với Mẹ như Đức Gioan Phaolô II: “Toàn thân
con thuộc về Mẹ. Xin Mẹ
hướng dẫn con trong mọi sự!”
Qui chiếu
vào Mẹ, để mở ḷng đón nhận và thấm nhuần
Chúa Thánh Thần (x. Lc 1, 35), trước sự chọn lựa
và quyết định cho cả cuộc đời của
ta. Khi đă nghe được tiếng gọi của Chúa,
ước ǵ chúng ta sẽ đáp trả lời mời gọi
đó bằng lời “Xin Vâng” như Mẹ Maria xưa.
Ngoài ra,
Mẹ c̣n là mẫu gương tuyệt vời của việc
thánh hiến hoàn hảo, v́ Mẹ hoàn toàn thuộc về
Thiên Chúa và hiến thân trọn vẹn cho Ngài (x. VC 28). Mẹ
c̣n là Mẹ của các người tận hiến, cầu
bầu cho họ trung thành với ơn gọi và trợ
giúp họ rất hữu hiệu để tiến tới
trong việc đáp trả và sống sung măn ơn gọi của
ḿnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hoành
Sơn. Thần học Thiêng liêng- Nền tảng lư thuyết
phương pháp thực hành Tu đức, Tập 1. Ṭa
Tông Giám mục tp. HCM, 1997.
Marie Theresa
Coombs, Hermit and Francis Kelly Nemeck, O.M.I. Called By God- A Theology of
Vocation and Lifelong Commitment. Minnesota, USA: The liturgical Press.
M. Ngọc
Đính (Chuyển ngữ). Đời tu dưới ánh
sáng công đồng Vatican II & Giáo luật, Quyển I.
The Daughters of St. Paul, 1986.
Rick
Warren. Hoàng Qúi dịch. The Purpose Driven Life. Manila,
Philippines: OMF Literature Inc., 2003.
http://www.dunglac.net.
http://www.tinvui.net.
http://www.maranatha-vietnam.net
http://www.tiengnoigiaodan.net
[1] Đức Phaolô VI, Populorum Progressio -Thông
điệp phát triển các dân tộc, số 15.
[2] Những ơn gọi mới cho một
Châu Âu mới, 1998, số 16b.
[3] Luận ngữ 20, 3.
[4] Sứ điệp của Đức
Gioan Phaolô II gởi các tín hữu nhân ngày cầu cho ơn
thiên triệu 6/5/2001, số 2.
[5] Sách Giáo Lư Giáo hội Công giáo.
[6] Đức Phaolô VI, Marialis Cultus, số
35.