CÁC VĂN KIỆN CỦA GIÁO HỘI
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỜI SỐNG
THÁNH HIẾN
JB. Trần Hữu
Hạnh, tổng hợp
I. Công
đồng Vatican II
1. Perfectae
Caritatis (PC): The Decree on the Renewal of Religious Life
(Sắc lệnh “Đức ái trọn hảo”, nói về việc
canh tân và thích nghi đời tu). PC đưa ra những nguyến
tắc hướng dẫn công cuộc canh tân. PC nhắm tới
2 mục tiêu chính sau đây:
- Thúc đẩy sự canh tân tinh thần
của tất cả các tu sĩ.
- Thích nghi đời tu vào bối cảnh
hiện tại. Sự canh tân này cần dựa trên những
nguyên tắc thần học nền tảng của chính
đời tu. V́ vậy, trong văn kiện này, công đồng
muốn tŕnh bày các chiều kích của toàn thể đời
tu, cũng như của các lời khuyên Phúc âm như: chiều
kích Kitô, Thần khí, Giáo hội, nước trời mai hậu.
Văn kiện gồm 25 số, không có
phân chương mục. Ngoài lời mở và kết luận,
sắc lệnh bàn đến việc canh tân dưới 5
khía cạnh: những nguyên tắc canh tân, canh tân nội tâm,
canh tân tùy theo mỗi h́nh thức tu tŕ, canh tân các yếu tố
cốt yếu, canh tân một số điểm cụ thể.
Mở đầu (số 1): ư nghĩa và
giá trị của đời tu trong Giáo hội.
1. Những nguyên tắc hướng dẫn
việc canh tân:
a. Năm nguyên tắc lư thuyết (số
2): đi theo Đức Kitô như tiêu chuẩn tối hậu
của đời tu; trung thành với tinh thần, ư định
của đấng sáng lập; tham dự vào đời sống
Giáo hội hôm nay; t́m hiểu và thích nghi vào hoàn cảnh thế
giới hiện đại; canh tân đời sống thiêng
liêng của mỗi người.
b. Ba lănh vực cần phải canh tân
thích nghi (số 3): lối sinh sống, cầu nguyện, hoạt
động; cách thức quản trị; hiến pháp và qui
luật.
c. Những người có trách nhiệm
canh tân thích nghi (số 4): tất cả mọi phần tử,
các bề trên và Tu nghị.
2. Việc canh tân cá nhân
a. Những yếu tố chung cho hết
mọi h́nh thức tu tŕ (số 5): Tận hiến cho Thiên
Chúa, phục vụ Giáo hội, thông dự vào mầu nhiệm
Vượt qua, lấy Đức Kitô làm trung tâm cuộc
đời, vừa chiêm niệm vừa hoạt động.
b. Những nguồn mạch của đời
sống thiêng liêng (số 6): vun trồng ḷng mến; cầu
nguyện, suy niệm Lời Chúa, cử hành phụng vụ.
3. Việc canh tân tùy theo mỗi h́nh thức
tu tŕ
a. Các ḍng thuần túy chiêm niệm (số
7)
b. Các ḍng hoạt động tông đồ
(số 8)[1]
c. Các ḍng đan tu, kinh sĩ, hành khất
(số 9)
d. Các ḍng không làm giáo sĩ (số 10)
e. Các tu hội đời (số 11)
4. Canh tân những yếu tố cốt yếu
a. Khiết tịnh (số 12)
b. Khó nghèo (số 13)
c. Vâng lời (số 14)
d. Đời sống chung (số 15)
5. Chín điểm cụ thể
a. Nội vi ḍng kín (số 16)
b. Tu phục (số 17)
c. Huấn luyện các phần tử (số
18)
d. Việc thành lập ḍng mới (số
19)
e. Việc duy tŕ, đổi mới và từ
bỏ một số công tác (số 20)
f. Các ḍng và đan viện đang kiệt
quệ (số 21)
g. Liên hiệp giữa các ḍng và đan viện
(số 22)
h. Hiệp hội các bề trên cao cấp
(số 23)
i. Cổ động ơn gọi (số
24)
Việc dung ḥa giữa trung thành với sự
thích nghi và canh tân không dễ dàng. Những năm sau công
đồng Vatican II đă cho thấy những khó khăn
đó: nhiều ḍng đan tu muốn lấy lại ơn gọi
nguyên thủy không có chức linh mục của ḿnh; trái lại,
một số ḍng giáo dân (nam) lại muốn chuyển
hướng sang ḍng giáo sĩ. Bên Âu Mỹ, nhiều ḍng
đă bỏ các cơ sở giáo dục và y tế, v́ không c̣n
thích hợp, để t́m những cách thức mới phục
vụ người nghèo.[2]
2. Lumen Gentium: Dogmatic Constitution on the Church (Hiến
chế tín lư về Hội thánh), chương VI: Công đồng
cho thấy vị trí của đời tu trong mầu nhiệm
Giáo hội. Sau khi nói tới Hội thánh như là một mầu
nhiệm, xuất phát từ kế hoạch t́nh
thương của Ba Ngôi Thiên Chúa (chương I), công đồng
tŕnh bày Hội thánh như dân Thiên Chúa trong gịng lịch sử
(chương 2). Các tu sĩ không thuộc về cơ chế
phẩm trật của Giáo hội (chương III) hoặc
hàng ngũ giáo dân (chương IV), nhưng được xếp
vào bản chất thánh thiện (chương V) và cánh chung
(chương VI) của Giáo hội.
Sau khi tŕnh bày mầu nhiệm và cơ chế
phẩm trật của Giáo hội trong 4 chương đầu,
ở chương V, công đồng bàn đến ơn gọi
nên thánh của mọi Kitô hữu. Mọi Kitô hữu đều
được kêu gọi nên thánh tùy theo địa vị,
bậc sống của ḿnh (số 41). Việc nên thánh bao hàm
sự thực hành đức ái, và cách riêng là thực hành
các lời khuyên Phúc âm dưới một h́nh thức nào
đó (số 42). Chính trong bối cảnh đó, nghĩa là
bổn phận nên thánh, mà công đồng bàn về các tu sĩ
(chương VI). Sự nên thánh hệ tại việc kết
hợp với Thiên Chúa qua đức ái, mục tiêu này đạt
tới mức độ viên măn nơi các thánh trên trời
(chương VII), mà đức Maria là một tiêu biểu rạng
rỡ nhất (chương VIII). Các tu sĩ không thuộc về
cơ cấu phẩm trật của Giáo hội, nhưng gắn
liền với sự thánh thiện của Giáo hội. Các
tu sĩ ở đây bao gồm tất cả những ai
tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm với lời khấn hay
“dây ràng buộc thánh khác” (số 44). Bố cục
chương VI như sau:
- Số 43: Hàng ngũ những người
tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm trong Giáo hội.
- Số 44: Bản chất thần học
của đời tu: dâng ḿnh cho Chúa để phụng sự
Ngài và đồng thời phục vụ sứ mệnh của
Giáo hội. Các tu sĩ đóng vai tṛ “dấu chỉ và chứng
tá” trong Giáo hội: họ làm sống lại lối sống
tại thế của Đức Kitô, họ nêu cao giá trị
siêu việt của nước Chúa, họ bày tỏ quyền
năng của Thánh Thần tác động trong Giáo hội,
họ thúc đẩy mọi người tiến về
đường trọn lành, cũng như nhắc nhở
toàn thể dân Chúa hướng về cứu cánh mai hậu
của ḿnh.
- Số 45: Mối liên hệ giữa hàng
giáo phẩm và hàng ngũ tu tŕ. Giáo hội nh́n nhận và phê
chuẩn các bản Lề luật của các hội ḍng.
Giáo hội đứng ra chấp nhận lời khấn của
các tu sĩ và dâng hiến họ cho Thiên Chúa.
- Số 46: Giá trị cao qúi của bậc
tu tŕ. Họ kéo dài sự hiện diện của Đức
Kitô giữa ḷng nhân loại: họ thăng tiến các giá trị
nhân bản và góp phần vào việc kiến thiết một
xă hội nhân đạo hơn.
- Số 47: khuyến khích các tu sĩ hăy bền
đỗ trong ơn gọi.
Tóm lại, LG tŕnh bày đời sống
thánh hiến dưới khía cạnh thần học, lồng
trong mầu nhiệm của Hội thánh.
Trong hai văn kiện trên, công đồng
cố gắng tŕnh bày nội dung thần học phong phú của
đời tu, vượt lên trên quan niệm nặng về
pháp lư đă có trước đó. Cách chung, công đồng
muốn nêu bật 2 khía cạnh sau:
- Đời tu nằm trong bản chất
của Hội thánh. Tuy rằng các h́nh thức tu tŕ dần
dần xuất hiện trong gịng lịch sử của Hội
thánh, nhưng không thể coi nó như cái ǵ phụ thuộc,
bên ngoài. Nền tảng của đời tu chính là Phúc âm sống,
nghĩa là việc bắt chước gương sống
của Đức Kitô, họa lại cuộc sống của
Ngài và mang ra thực hành những ǵ Ngài đă giảng dạy,
cách riêng trong bài giảng trên núi. Đời tu là một ân huệ
của Chúa Thánh Thần ban “cho” Hội thánh, “v́” Hội
thánh.
- Đời tu gắn chặt với
ơn gọi của người Kitô hữu, là một lối
thực thi những yêu sách của bí tích Rửa tội một
cách triệt để hơn. Những người dấn
thân vào nếp sống ấy lănh nhận một hồng ân
đặc biệt của Chúa, và nói được là họ
được thánh hiến một lần nữa.
Công đồng Vatican II đă đánh dấu
một mốc quan trọng trong việc canh tân Giáo hội,
một cuộc canh tân bằng cách vừa trở về nguồn,
vừa lưu ư tới những yêu sách của thời đại.
Đời tu cũng nằm trong luồng canh tân của toàn
thể Giáo hội: canh tân bằng việc trở về nguồn
gốc của đời tu (bước theo Đức Kitô)
và của mỗi hội ḍng (ư định của đấng
sáng lập), đồng thời thích nghi với hoàn cảnh
hiện tại. Thực ra công đồng chỉ vạch
ra những hướng đi, chứ chưa thể nào
đạt tới đích điểm. Việc canh tân c̣n phải
được tiếp tục không ngừng, bởi v́ không
những các hoàn cảnh xă hội không ngừng biến chuyển,
nhưng nhất là v́ cuộc canh tân nội tại (nhằm
đạt tới đức ái trọn hảo) không bao giờ
chấm dứt. Đó là lư do ra đời những văn
kiện hậu công đồng. Chúng có thể được
coi như những chỉ dẫn cho việc canh tân đời
tu dưới nhiều phương diện: tinh thần,
pháp chế, chiều kích chiêm niệm, hiệp thông huynh
đệ, truyền giáo,… Bên cạnh những qui định
thực tiễn có tính cách tạm thời, các văn kiện
của công đồng Vatican II c̣n chứa đựng những
đạo lư, nội dung thần học phong phú vượt
thời gian, và luôn được các văn kiện hậu
công đồng trích dẫn. Từ công đồng Vatican II,
các văn kiện đều mang nặng tính chất thần
học, tu đức, mục vụ, kể cả trong các
văn bản pháp lư như bộ giáo luật (BGL). Các tu sĩ
có thể t́m thấy nơi đây chất lượng cho
những bài suy niệm, những khóa tĩnh tâm bồi
dưỡng.
Ngoài ra, Vatican II cũng nói tới tu sĩ
trong
- Hiến chế về Phụng vụ
(SC), số 15- 18, 55, 57, 80, 95, 98, 99, 101, 111, 115
- Hiến chế mục vụ về
Giáo hội trong thế giới hôm nay (GS), số 38, 43
- Hiến chế Tín lư về Mạc khải
(DV), số 25
- Sắc lệnh về Tác vụ Linh mục
(
- Sắc lệnh về Đào tạo
Linh mục (OT), số 2, 19
- Sắc lệnh về Tông đồ
Giáo dân (AA), số 21, 23, 25- 26
- Sắc lệnh về các Giáo hội
Công giáo Đông phương (OE), số 6, 22
- Sắc lệnh về Hiệp nhất
(
- Sắc lệnh về các Phương
tiện Truyền thông Xă hội (IM), số 15, 20
- Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo (GE), số
10
- Sắc lệnh về Chức vụ
Giám mục, Christus Dominus (CD): số 32-35: Nói về việc
hoạt động mục vụ của các tu sĩ trong
giáo phận. Công đồng đặt ra những qui tắc
cho mối liên hệ giữa Giám mục và tu sĩ. Những
qui tắc này sẽ được khai triển trong văn
kiện Mutuae Relationes, 1978, làm nền tảng cho các
điều 678- 683 của BGL 1983.
- Sắc lệnh về truyền giáo, Ad
Gentes (AG): số 15 (vai tṛ bất khả thay thế), số
18- 19 (phát huy đời tu ở các xứ truyền giáo), số
20 (ḷng nhiệt thành của các tu sĩ), số 27 (các tu hội
truyền giáo), số 32- 33 (hợp tác với Giáo hội
địa phương trong hoạt động truyền
giáo), số 40 (nhiệm vụ truyền giáo của các tu sĩ)
Như vậy, chỉ có 2/16 văn kiện
của công đồng không nói về các tu sĩ , đó là:
Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các Tôn
giáo ngoài Kitô giáo (NA) và Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo (DH).
II. Đức Phaolô VI (1963- 1978)
Ngay sau khi bế mạc công đồng,
mối quan tâm được đặt vào việc canh tân
sửa đổi hiến pháp, trở về nguồn gốc
của mỗi hội ḍng. Công tŕnh của Đức Phaolô
VI là thực thi các quyết định của Công đồng.
Nhiều Tự sắc được ban hành với giá trị
nhất thời, nghĩa là cho đến khi có BGL mới.
Chúng liên can đến nhiều vấn đề như duyệt
lại hiến pháp, quyền hạn của các bề trên,
tương quan với Giám mục, v. v. Tự sắc
thường được nhắc đến là Ecclesiae
Sanctae, 6/8/1966, quan tâm đến việc canh tân sửa
đổi hiến pháp, việc đọc kinh thần vụ,
tâm nguyện, việc khổ chế, khó nghèo, đời sống
nội bộ, nội vi, huấn luyện, liên hiệp và
băi bỏ các ḍng, hiệp hội các bề trên cao cấp, trở
về nguồn gốc của mỗi hội ḍng,... Từ
khi BGL được ban hành (1983), những văn kiện
này không c̣n giá trị nữa. Cũng vậy, huấn thị
của Bộ tu sĩ về việc huấn luyện “Renovationis
Causam” (1969) đă được thay thế bởi huấn
thị “Potissimum Institutioni” (1990)
1. Evangelica Testificatio (ET), 29/6/1971: The Apostolic Exhortation on the Renewal
of Religious Life (Tông huấn Chứng tá Tin Mừng): đáp
lại những thách đố của thời đại.
Khi bắt tay vào công cuộc canh tân, nhiều tu sĩ và hội
ḍng đă đâm ra hoang mang do dự, không rơ đâu là những
giá trị nền tảng của đời tu và đâu là
những yếu tố lỗi thời cần thay đổi.
ET, với giọng văn đối thoại thân mật, muốn
giải đáp cho vấn nạn đó.
Đức Phaolô VI ôn lại những giáo
huấn của công đồng về đời tu và quảng
diễn vài khía cạnh mà thời thế đặt lên,
như trong việc sống khó nghèo, đời sống cộng
đoàn,… Tông huấn tŕnh bày những giá trị thần học
của đời tận hiến nh́n dưới ánh sáng của
Tin mừng, những qui tắc pháp lư hầu như hoàn toàn
vắng bóng. Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến
việc củng cố con người nội tâm, nguyên lư hợp
nhất toàn thể cuộc sống (số 31- 34; 43- 45).
Ngoài nhập đề và kết luận,
bố cục gồm có 4 phần:
Nhập đề: chứng tá Tin mừng
giữa dân Chúa (số 1- 6)
1. Những h́nh thức tu tŕ: chiêm niệm,
hoạt động tông đồ. Tất cả đều
đ̣i hỏi phải kết hợp với Chúa (số 7-
12).
2. Những cam kết chính yếu: ba lời
khấn khiết tịnh (số 13- 15), khó nghèo (số 16-
22) và vâng phục (số 23- 29).
3. Lối sống: chứng tá về
đời sống nội tâm (số 30- 38) và huynh đệ
(số 39- 41)
4. Việc canh tân và tăng trưởng
thiêng liêng: cầu nguyện, thinh lặng, thông dự bí tích
và tham gia vào sứ mạng của Giáo hội (số 42- 50).
Lời nhắn nhủ cuối cùng (số
51- 56)
2. Evangelii Nuntiandi, EN, 1975 (Tông huấn Loan Báo Tin Mừng):
số 79
III. Đức Gioan Phaolô II (1978- 2005)
1. Vita Consecrata (VC), 25/3/1996: Post-Synodal Apostolic Exhortation
(Tông huấn về Đời sống thánh hiến), là kết
quả của THĐGM thế giới về chủ đề
“Đời sống thánh hiến và sứ mệnh của
đời sống này trong Giáo hội và trong thế giới”.
VC đă đúc kết các văn kiện của Giáo hội,
cũng như những suy tư thần học về đời
sống thánh hiến từ công đồng Vatican II. Đặc
biệt, tông huấn khai triển hai chiều kích thánh hiến
và sứ mệnh của đời sống thánh hiến.
Tông huấn đă nối kết và dung ḥa hai ư niệm này.
Hai ư niệm này bổ sung cho nhau, tạo nên căn tính của
đời sống thánh hiến.
2. Tông huấn Redemptionis Donum (RD-Hồng ân cứu độ),
25/3/1984: đào sâu chiều hướng thần bí của sự
tận hiến như là đời sống mới, đời
sống giao ước.
Nhân dịp năm thánh mừng ơn cứu
độ (1983- 1984, kỷ niệm 1950 năm biến cố
Thập giá và Phục sinh), đức Gioan Phaolô II viết một
tông thư cho các tu sĩ, tŕnh bày mối liên hệ giữa
sự tận hiến tu tŕ và mầu nhiệm Cứu chuộc.
Với giọng văn của một bài suy niệm, Đức
Giáo hoàng mời gọi các tu sĩ hăy khám phá những chiều
kích thần bí sâu xa của việc tận hiến. Đó là
một “giao ước t́nh yêu” với Chúa Cha, trong Đức
Kitô, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần (số
8). Qua giao ước đó, người tu sĩ chia sẻ
với Chúa Cha và Đức Kitô mối ưu tư về việc
cứu rỗi nhân loại và tham gia vào sứ mệnh tông
đồ của Giáo hội. Việc tuyên giữ ba lời
khuyên Phúc âm biểu lộ việc thông dự vào mầu nhiệm
thập giá của Đức Kitô (số 10)
Bố cục văn kiện khá
đơn giản. Có 7 chương (gồm cả nhập
đề và kết luận), 17 số. Đức Giáo hoàng
cho thấy ư nghĩa sâu xa của những yếu tố làm
nên đời tận hiến: Ơn gọi (số 3- 6), tận
hiến (số 7- 8), các lời khuyên Phúc âm (số 9- 13), ḷng
yêu mến Giáo hội qua việc làm chứng tá và hoạt
động tông đồ (số 14- 15).
3. Novo Millennio Ineunte: Apostolic Letter to the Bishops, Clergy and Lay
Faithful at the Close of the great Jubilee of the Year 2000 (Tông thư Bước vào Ngàn
năm mới).
4. Redemptoris Missio, RM, 1990 (thông điệp Sứ
vụ Đấng Cứu Chuộc): số 69- 70.
5. Ecclesia in Asia, EA, số 44
6. Redemptor Hominis: Thông điệp Đấng Cứu
độ con người
7. Thư gởi các người tận hiến nhân dịp Năm Thánh Mẫu (22/5/1988):
mang h́nh thức một bài suy niệm (chứ không phải
là một văn kiện đạo lư) với Đức
Maria về ư nghĩa đời sống thánh hiến, dựa
theo ba ư niệm: ơn gọi, thánh hiến và hoạt động
tông đồ. Ba điểm này được liên kết
với ba mầu nhiệm: Truyền tin, Vượt qua, Hiện
xuống. Đức Giáo hoàng mời gọi những người
tận hiến nh́n lên đức Maria như mẫu
gương của việc đáp lại tiếng Chúa gọi
để tham gia vào sứ mệnh cứu độ của
Đức Kitô. Nói đúng ra, phần lớn bức thư
lặp lại tư tưởng của tông huấn “Hồng
ân cứu độ”, nhấn mạnh đến việc
thông dự vào mầu nhiệm Vượt qua của Đức
Kitô qua việc “tiềm tàng”[3] với Ngài. Về vai tṛ của
đức Maria đối với đời tận hiến,
thiết tưởng thông điệp “Thân mẫu Đấng
cứu chuộc” (Redemptoris Mater), 1987, nói rộng
hơn. Ngoài ra, cũng nhân dịp năm Thánh mẫu, đức
Gioan Phaolô II c̣n viết tông thư “Phẩm giá người
phụ nữ” (Mulieris Dignitatem), trong đó mối
tương quan giữa đức Maria với các nữ tu
được nhắc tới ở số 46. (Cf. Toàn bộ
bản văn trong “Thời sự Thần học”, số
8, 6/97, p. 64…)
IV. Bộ Phụng tự
Hai quyển Nghi thức khấn ḍng
(1970) và Nghi thức Thánh hiến Trinh nữ (Ordo
Consecrationis Virginum- OCV, 1970) nói đến thần học về
đời tu. Nghi thức này chỉ có tính cách kiểu mẫu
chung, mỗi hội ḍng sẽ dựa vào đó để soạn
nghi thức riêng cho ḿnh. Xem trích dẫn các lời nguyện
thánh hiến với nội dung thần học phong phú của
chúng trong Văn kiện đời tu- Theo Chúa Kitô, 2002, p.575.
V. Bộ Tu sĩ (Bộ các hội ḍng/tu hội tận hiến
và tu đoàn tông đồ- Congregation
for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life)
Những văn kiện của Bộ tu
sĩ thường mang tính cách chấp hành thực tiễn,
tức hướng dẫn thi hành một số sắc lệnh,
điều luật và chỉ thị của quyền giáo huấn
Hội thánh. Tuy nhiên, nhiều khi khía cạnh thần học,
đạo lư cũng được đào sâu dưới
nhiều góc độ.
1. Văn kiện Mutuae Relationes, 14/5/1978 (MR- Mối tương quan giữa
các Giám mục với các tu sĩ) do Bộ tu sĩ và Bộ
Giám mục ban hành: Những qui tắc cho mối liên hệ
giữa Giám mục và tu sĩ. Những qui tắc này làm nền
tảng cho các điều 678- 683 của BGL 1983. Văn kiện
này cũng nói về việc các hội ḍng phải cố gắng
khám phá ra đặc sủng của ḿnh, vị trí giữa
ḷng Giáo hội.
Văn kiện này không phải là một
“huấn thị” (instruction) theo nghĩa pháp lư, nhưng chỉ
đề ra những “chỉ dẫn” (directives) cho Giám mục
và tu sĩ trong các mối liên hệ hỗ tương. Từ
sau công đồng Vatican II, các tu sĩ ngày càng tham gia vào công
tác mục vụ tại giáo xứ hay giáo phận. Những
“đụng chạm” không thể nào tránh được. Một
đàng các Giám mục muốn các hội ḍng hoạt động
trong giáo phận phải tuân theo một kế hoạch mục
vụ chung cho toàn giáo phận, với nguy cơ là không đếm
xỉa tới những đặc sủng khác biệt của
các hội ḍng. Đối lại, các hội ḍng muốn bảo
vệ đặc sủng của ḿnh kể cả trong lănh
vực hoạt động tông đồ, với nguy cơ
không cần biết ǵ về những kế hoạch mục
vụ của Giáo hội địa phương. Làm sao dung
ḥa được cả hai yêu sách này?
Văn kiện muốn đưa ra những
hướng dẫn về lư thuyết (phần I) cũng
như về thực hành (phần II). Phần I gồm những
tư tưởng thần học quan trọng như Giáo hội
địa phương (số 18), sứ vụ của Giám
mục (số 6- 7), sự hiệp thông trong Giáo hội (số
2, 5), đặc sủng của các hội ḍng (số 11- 12,
51), sứ vụ của các bề trên (số 13). Phần II
đưa ra những hướng dẫn trong 3 phạm vi:
huấn luyện, hoạt động, phối hợp.
Nhập đề kể lại nguồn
gốc lai lịch của văn kiện, được
thành h́nh sau hơn 2 năm tham khảo, với sự
đóng góp của Bộ Giám mục và Bộ Tu sĩ, cũng
như các Hội đồng Giám mục và hiệp hội
các bề trên. Văn kiện nói trực tiếp đến
các ḍng tu và các tu đoàn tông đồ; các tu hội đời
không được nói đến cách minh nhiên, trừ khi có
liên hệ đến những nguyên tắc tổng quát về
đời sống thánh hiến (PC 11) và sự đóng góp của
các tu hội ấy trong các Giáo hội địa
phương (CD 33).
Phần I: Vài yếu tố đạo lư
Chương 1: Giáo hội với tư
cách là dân “mới” (số 1- 4)
Chương 2: Thừa tác vụ của
các Giám mục trong sự hiệp thông hữu cơ của
Giáo hội (số 5- 9)
Chương 3: Đời tu trong sự
hiệp thông Giáo hội (số 10- 14)
Chương 4: Các Giám mục và các tu sĩ
quan tâm tới sứ mệnh duy nhất của dân Thiên Chúa
(số 15- 23)
Phần II: Những chỉ dẫn và qui
tắc (số 24- 67)
Chương 5: Một vài thỉnh nguyện
liên quan đến khía cạnh huấn luyện (số 24-
35)
Chương 6: Dấn thân và trách nhiệm
trong môi trường hoạt động (số 36- 51)
Chương 7: Tầm quan trọng của
một sự phối hợp thích đáng (số 52- 67)
Kết luận
2. Văn kiện Chiều kích
chiêm niệm của đời tu (The Contemplative Dimension of Religious Life-
CDRL), 1980: đời sống nội tâm là căn bản của
đời tận hiến (Đức Gioan Phaolô II c̣n
đào sâu chiều hướng thần bí của sự tận
hiến như là đời sống mới, đời sống
giao ước trong tông thư Redemptionis Donum-Hồng ân cứu
độ).
Trước đây, sự chiêm niệm
được coi như chỉ dành cho những người
ưu tuyển (theo thánh Teresa Avila, sự cầu nguyện
chiêm niệm là một cấp cao của đường trọn
lành) hoặc là ơn gọi riêng của các nữ tu kín (ḍng
chiêm niệm, đối lại với ḍng hoạt động).
Văn kiện này muốn sửa lại quan niệm ấy
khi nhắc nhở rằng tất cả các tu sĩ đều
phải gắng sống đời chiêm niệm. Văn kiện
mô tả sự chiêm niệm như là cố gắng gắn
chặt cặp mắt và con tim vào Thiên Chúa. Nó là thái độ
thờ lạy cách khiêm tốn và liên lỉ Thiên Chúa hiện
diện trong mọi người, trong các biến cố và
trong các sự vật. Đời sống chiêm niệm chính
là đời sống của đức tin, cậy, mến,
đáp lại Thiên Chúa thông ban ḿnh cho con người bằng
việc thông hiệp với Chúa Cha nhờ Đức Kitô
trong Thánh linh (số 1).
Nhập đề: văn kiện cho biết
lư do và hoàn cảnh soạn thảo
Bố cục gồm 3 phần (30 số)
Phần I: phác họa chiều kích chiêm niệm
(số 1- 3); trong đó, số 1 định nghĩa về
chiêm niệm.
Phần II: chiều kích chiêm niệm dành
cho các ḍng hoạt động tông đồ (số 4- 23). Sau
khi tŕnh bày mối liên hệ chặt chẽ giữa chiêm niệm
và hoạt động, văn kiện điểm qua những
phương thế nuôi dưỡng việc chiêm niệm: Lời
Chúa, Thánh Thể, bí tích sám hối, việc linh hướng,
phụng vụ giờ kinh, việc tôn kính đức Maria,
khổ chế. Hơn nữa, chiều kích chiêm niệm cần
được vun trồng trong đời sống cộng
đoàn và việc huấn luyện.
Phần III: dành cho các ḍng chuyên về
chiêm niệm (số 24- 29)
Hai Văn kiện Tu sĩ với
sự thăng tiến con người và Chiều kích
chiêm niệm của đời tu được
ban hành cùng ngày 12/8/1980, tuy thời gian soạn thảo cách
nhau 2 năm. Văn kiện Tu sĩ với sự
thăng tiến con người là kết quả của
phiên họp khoáng đại của Bộ Tu sĩ ngày 25-
28/4/1978; c̣n Văn kiện Chiều kích chiêm niệm
của đời tu là đề tài của
phiên họp năm 1980 (4- 7/4). Đức Gioan Phaolô II đă
muốn ban hành cả hai văn kiện cùng một ngày để
nêu bật sự bổ sung hỗ tương của chúng:
hoạt động và chiêm niệm phải gắn bó với
nhau, thúc đẩy lẫn nhau.
3. Văn kiện Tu sĩ với sự thăng
tiến con người (Religious
and Human Promotion- RHP), 1980, nói về việc tu sĩ tham
gia vào sứ mệnh của Giáo hội đối với
con người và xă hội.
Văn kiện này dựa trên quan điểm
của công đồng Vatican II về sứ mệnh của
Giáo hội đối với con người (GS), cũng
như của THĐGM 1971 về công bằng xă hội và những
thông điệp “Populorum Progressio” (1967), “Redemptor
Homonis” (1979). Các tu sĩ là những người tiên phong
tham gia vào sứ mệnh đó. Văn kiện muốn khuyến
khích họ trong việc dấn thân phục vụ và đồng
thời đề ra những tiêu chuẩn để phân
định, ngơ hầu họ ư thức rơ rệt hơn về
ư nghĩa của việc dấn thân: họ là những
người loan Tin mừng của Đức Kitô, chứ
không phải là những nhà cách mạng chính trị. Công cuộc
đấu tranh cho công bằng xă hội đ̣i hỏi phải
sử dụng những phương tiện hợp pháp
như qua các nghiệp đoàn, các đảng phái chính trị.
Các tu sĩ có thể tham gia vào các nghiệp đoàn để
liên đới với các công nhân trong việc tranh đấu
cho các quyền lợi chính đáng. Tuy nhiên, họ cần cảnh
giác để khỏi rơi vào sự chi phối của một
đảng phái chính trị nào đó. Đối với việc
tham gia vào chính trị:
- Hiểu theo nghĩa rộng: chính trị
có nghĩa là sự tổ chức năng động các guồng
máy xă hội; theo nghĩa này, các tu sĩ có nghĩa vụ và
quyền lợi tham gia như các công dân khác, vào những
cơ quan có thể thăng tiến nếp sống văn
hóa và xă hội của đồng bào.
- Hiểu theo nghĩa hẹp: nghĩa là
đảng phái chính trị, th́ các tu sĩ cần phải
thận trọng. Họ có thể rơi vào ảo tưởng
cho rằng tham gia vào đảng phái sẽ đóng góp cho sự
cải tiến xă hội. Các tu sĩ có ơn gọi và có những
phương tiện khác để thăng tiến con người,
xă hội. Thí dụ qua giáo dục, cải tiến điều
kiện phụ nữ,…
Tóm lại, trong việc lựa chọn
các h́nh thức dấn thân tranh đấu cho công bằng xă
hội, các tu sĩ phải thận trọng và cảnh giác.
Họ cần trung thành với Phúc âm, với ơn gọi
đời tu nói chung và ơn gọi của hội ḍng nói
riêng, cũng như duy tŕ sự hiệp thông với Giáo hội
và với những hàng ngũ khác nhau trong Giáo hội.
Bố cục gồm có 3 phần (35 số)
Phần I (số 1- 12): Tŕnh bày 4 vấn
đề đă được nêu lên tại phiên họp
khoáng đại:
1. Việc lựa chọn đứng về
phía người nghèo và công lư
2. Những hoạt động xă hội
của các tu sĩ
3. Hội nhập vào thế giới lao
động
4. Dấn thân vào các cơ cấu chính tri
Phần II (số 13- 31): Bốn tiêu chuẩn
phân định trung thành với
1. Con người và thời đại
2. Đức Kitô và Tin mừng
3. Giáo hội
4. Đời tu và hội ḍng
(Bốn tiêu chuẩn này được lặp
lại ở PI 18; VC 110)
Phần III (số 32- 35): rút ra những hệ
luận cho việc huấn luyện
4. Văn kiện Những yếu tố cốt
yếu của đời tu (EE), 1983,
ra đời 4 tháng sau khi ban hành BGL. Tóm lại giáo huấn của
Hội thánh về đời sống thánh hiến.
Lai lịch của nó lúc đầu rất
hạn chế: vào năm 1983, Đức Giáo hoàng cử một
Ủy ban Giám mục Hoa kỳ để thanh tra về t́nh
h́nh các ḍng tu tại quốc gia này. Nhằm cung cấp tài liệu
cho Ủy ban, ngài đă yêu cầu Bộ tu sĩ soạn thảo
một văn bản tóm tắt những giáo huấn của
Giáo hội về các hội ḍng chuyên hoạt động
tông đồ. Tuy ra đời trong hoàn cảnh lịch sử
riêng biệt như vậy, nhưng văn kiện này chứa
đựng nội dung áp dụng được cho tất
cả các tu sĩ trên thế giới nữa. Lần đầu
tiên, một văn kiện nêu rơ những yếu tố làm
nên căn tính của đời tu. Sau công đồng, các hội
ḍng bắt đầu thử nghiệm lối sống mới
và nhiều khi đă đi quá xa. Trong phần nhập đề,
văn kiện khẳng định: “Hiện nay, thời kỳ
thử nghiệm mà tự sắc Ecclesiae Sanctae đ̣i
hỏi đă chấm dứt, nhiều hội ḍng chuyên lo việc
tông đồ bắt đầu kiểm lại việc thử
nghiệm của ḿnh.” (số 2). Chính v́ thế, Thánh bộ
thấy cần phải xác định rơ đâu là những
yếu tố bất biến, khác biệt với những
yếu tố phụ tùy vốn có thể thay đổi
theo thời gian và nơi chốn: “Hội thánh coi một số
thành tố thiết yếu với đời tu: tiếng
Chúa mời gọi, sự thánh hiến qua việc công khai
tuyên khấn giữ các lời khuyên Phúc âm, một h́nh thức
đời sống cộng đoàn ổn định.
Đối với các hội ḍng chuyên lo việc tông đồ,
văn kiện c̣n thêm: việc tham dự vào sứ vụ
của Đức Kitô bằng hoạt động tông đồ
có tính cách cộng đoàn, và trung thành với đặc sủng
của hội ḍng cũng như của các truyền thống
lành mạnh. Ngoài ra, những yếu tố sau đây cũng
là cốt yếu: cầu nguyện cá nhân và cộng
đoàn, khổ chế, chứng tá công khai, mối quan hệ
đặc biệt với Hội thánh, huấn luyện
trường kỳ và h́nh thức quản trị đ̣i hỏi
một quyền bính dựa trên đức tin. Đây là
những yếu tố cốt yếu, cần phải để
ư khi canh tân đời tu. Không có những yếu tố này,
đời tu sẽ mất đi cả căn tính của
ḿnh.” (số 4).
Sau nhập đề giới thiệu nội
dung, văn kiện được chia làm 3 phần
Phần I: tŕnh bày bản chất thần
học của đời tu (số 5- 12). Đây là lần
đầu tiên, trong các văn kiện của Ṭa thánh, khái niệm
về “thánh hiến” được phân tích tỉ mỉ
dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Sự thánh hiến
bắt nguồn từ sáng kiến của Thiên Chúa và
được con người đón nhận với giao
ước t́nh yêu. Qua bí tích Thánh tẩy, người tín hữu
thông dự vào sự thánh hiến của Đức Kitô. Các
tu sĩ nhận được ơn thánh hiến đặc
biệt nữa để đi theo sát Đức Kitô. Công
đồng muốn xác định căn tính riêng biệt của
đời tu bằng cách nêu lên lư tưởng “bước
theo Đức Kitô”. Tuy nhiên, việc bước theo Đức
Kitô chưa nói hết căn tính của đời tu, v́ mọi
Kitô hữu đều được mời gọi noi
gương Đức Kitô. Do đó, ta có thể xác định
thêm, tu sĩ là người theo Đức Kitô cách tận
căn, cách gần kề. Nhưng Đức Kitô đă hiến
trọn cuộc đời để yêu mến Thiên Chúa bằng
việc phụng sự Thiên Chúa và cứu độ nhân loại.
Như vậy, lư tưởng của đời tu là bắt
chước Đức Kitô trong sự tận hiến (x. số
6). Chính v́ vậy mà các văn kiện của Ṭa thánh cũng
như thần học dần dần tiến đến việc
tŕnh bày yếu tính của đời tu qua tiếng thánh hiến/tận
hiến (consecration). Ngoài ra, sự thánh hiến của các tu
sĩ mang tính cách công khai trong Giáo hội, qua việc tuyên khấn
trong một hội ḍng. Tựa đề phần I này tŕnh
bày đời tu như một h́nh thức đặc biệt
để tận hiến cho Thiên Chúa. Bởi lẽ, sự
thánh hiến là nền tảng của đời tu (x. số
5). BGL 1983 đă tiếp nhận đường hướng
đó và tŕnh bày các chiều kích của sự thánh hiến ở
điều 573 §1 (qui tắc chung cho tất cả các hội
ḍng tận hiến). Trong điều khoản này, chúng ta thấy
mối tương quan giữa Ba Ngôi và đời sống
tận hiến.
Phần II: Liệt kê 10 yếu tố cốt
yếu của đời tu (số 13- 53):
1. Thánh hiến bằng những lời
khấn công
2. Hiệp thông trong cộng đoàn
3. Sứ vụ làm tông đồ
4. Cầu nguyện
5. Khổ chế
6. Chứng tá công khai
7. Tương quan với Hội thánh
8. Việc huấn luyện
9. Việc quản trị
10. Đức Maria
Phần III: tóm tắt vài qui tắc giáo
luật về các ḍng tu, theo thứ tự đánh số mới
(1- 49), chung quanh 11 điểm:
1. Ơn gọi và thánh hiến
2. Cộng đoàn
3. Chân tính
4. Khiết tịnh
5. Khó nghèo
6. vâng lời
7. Cầu nguyện và khổ chế
8. Việc tông đồ
9. Chứng tá
10. Huấn luyện
11. quản trị
5. Về việc đào tạo
tu sĩ: Potissimum
Institutioni (PI), 1990: huấn thị nhằm hướng dẫn
việc áp dụng những qui định của giáo luật
về việc đào tạo trong các ḍng tu.
Các văn kiện của công đồng
Vatican II và sau công đồng đă nhiều lần nói đến
việc đào tạo các tu sĩ. Những chỉ dẫn
qúi báu đó nay được tŕnh bày một cách có hệ
thống dưới h́nh thức của một “Huấn thị”
theo nghĩa của điều 34 BGL. Thực ra, Bộ tu sĩ
đă bắt tay vào việc soạn thảo văn kiện
này từ năm 1969 qua những cuộc tham khảo sâu rộng,
nhưng phải chờ cho đến khi ban hành BGL th́ mới
thành h́nh rơ rệt hơn. Huấn thị nhắm trực tiếp
tới các ḍng tu (chứ không phải các tu hội đời
và tu đoàn tông đồ).
Văn kiện gồm 110 số,
được chia thành 6 chương, có thể gom lại
trong 2 phần chính:
Phần I: bàn về những yếu tố
căn bản tổng quát
Chương 1: Thánh hiến và huấn luyện
(số 6- 18). Nhắc lại đạo lư về sự
thánh hiến qua việc tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm.
Văn kiện lưu ư tới tính cách sư phạm giáo dục
trong thực hành các lời khấn, cũng như mối
tương quan giữa thánh hiến và sứ mạng.
Chương 2: Những khía cạnh chung
cho tất cả các giai đoạn đào tạo (số
19- 41). Sau khi đă tŕnh bày các tác nhân và môi trường
đào tạo (Chúa Thánh Thần, đức Maria, Giáo hội,
cộng đoàn, chính người tu sĩ và các người
huấn luyện), văn kiện nói tới 3 yêu sách hiện
đại:
1. Nền tảng nhân bản và Kitô hữu
(số 33- 35)
2. Khổ chế (số 36- 38)
3. Giáo dục giới tính (số 39- 41)
Chương 3: Những giai đoạn
đào tạo (số 42- 71). Gồm 4 giai đoạn:
1. Tiền tập (số 42- 44)
2. Tập viện (số 45- 57)
3. Khấn tạm (số 58- 65)
4. Khấn trọn đời và thường
huấn (số 66- 71)
Phần II: Xét đến vài khía cạnh
đặc biệt
Chương 4: Việc đào tạo
trong các ḍng kín (số 72- 85)
Chương 5: Một số vấn
đề riêng được nêu lên cho việc đào tạo:
1. Các thanh niên thời nay đứng
trước ơn gọi đời tu (số 86- 89)
2. Đào tạo và văn hóa (số 90-
91)
3. Những người vừa là thành
viên của một phong trào, vừa là phần tử của
ḍng tu (số 92- 93)
4. Tác vụ Giám mục và đời tu (số
94- 97)
5. Sự hợp tác liên ḍng trong việc
đào tạo (số 98- 100)
Chương 6: Việc đào tạo các ứng
sinh tiến lên chức linh mục và phó tế (số 101-
109).
6. Đời sống huynh
đệ trong cộng đoàn: Vita Fraterna in Communitate (FLC), 2/2/1994
Văn kiện này được giới
thiệu như là một huấn thị, ra đời vài
tháng trước khi khai mạc THĐGM về đời sống
thánh hiến. Có lẽ nó được soạn thảo
trước khi Đức Giáo hoàng chỉ định đề
tài cho THĐ. Phiên họp khoáng đại của Bộ tu sĩ
năm 1992 đă được dành để thảo luận
đề tài này và đúc kết thành văn kiện. Thực
ra, chiều kích cộng đoàn của đời tu đă
được nói tới ở nhiều văn kiện từ
công đồng Vatican II như PC 15; ET 39- 41; EE 18- 22; PI 26-
28. Huấn thị này tŕnh bày vấn đề có hệ thống
mạch lạc hơn, với những khó khăn được
đặt ra do t́nh thế mới. Những hoàn cảnh
đó được nhắc tới trong nhập đề
(số 1- 7): sự tiến triển thần học, sự
tiến triển trong giáo luật, phát triển trong xă hội,
biến chuyển trong đời tu tŕ.
Bố cục của văn kiện
được chia thành 3 chương (71 số), dựa
theo mô h́nh về Giáo hội nh́n từ ba khía cạnh mầu
nhiệm, hiệp thông và sứ vụ.
Chương I (số 8- 10): tŕnh bày cộng
đoàn như là một “hồng ân” của Chúa, bắt nguồn
từ mầu nhiệm Ba Ngôi chí thánh.
Chương II (số 11- 57): nh́n cộng
đoàn dưới khía cạnh “hiệp thông”. Những yếu
tố xây dựng cộng đoàn là linh đạo và cầu
nguyện chung, t́nh yêu, các nhân đức, sự từ bỏ
ḿnh, gặp gỡ chia sẻ. Mặt khác, cộng đoàn cũng
là trường xây dựng đào tạo t́nh cảm, huấn
luyện ba lời khuyên Phúc âm. Dù sao, vai tṛ của quyền
bính không thể nào thiếu trong việc kiến tạo cộng
đoàn.
Chương III (số 58- 70): bàn đến
cộng đoàn như là địa điểm và chủ thể
thi hành “sứ mệnh”, cách riêng xét tới vài khó khăn cho
đời sống cộng đoàn, gây ra bởi việc
tham gia các công tác tông đồ bên ngoài.
Những tư tưởng thường
được nhắc tới hơn cả trong văn kiện
là hiệp thông, t́nh huynh đệ.
Các văn kiện sau công đồng nói tới
thần học về đời sống thánh hiến, cách
riêng hai văn kiện Tông huấn Chứng tá Tin Mừng
và Hồng ân cứu độ đă đào sâu thêm những
chiều kích thần học về đời tu, như: về
chiều kích đối thần, đức Gioan Phaolô II
đă ví sự tận hiến như “giao ước hôn nhân
với Chúa” (RD 8); về chiều kích Kitô, các văn kiện
không chỉ nhắc lại những tư tưởng công
đồng về việc theo chân Đức Kitô khiết tịnh,
khó nghèo, vâng phục, mà c̣n đào sâu thêm những tâm t́nh nội
tại của Ngài (sự suy phục Thiên Chúa, sự hy sinh
tự hủy, …), cũng như sự đóng góp vào
chương tŕnh cứu rỗi nhân loại; về chiều
kích Thánh linh, các văn kiện sau công đồng khai triển
ư niệm “đặc sủng” của đời sống
thánh hiến trong Hội thánh, cũng như đặc sủng
của các đấng sáng lập; ngoài ra c̣n có chiều kích
Thánh mẫu học nữa: đức Maria vừa là khuôn mẫu
của sự tận hiến cho Thiên Chúa, vừa là người
bầu cử cho những tâm hồn tận hiến (cf. P.T.
Thành, tập 3, p. 426- 427); sau cùng là các chiều kích Giáo hội
và truyền giáo.
7. Huấn thị Xuất Phát
Lại Từ Đức Kitô (Starting Afresh From Christ: A Renewed Commitment to Consecrated
Life in the Third Millennium- SAFC), 19/5/2002, về việc canh
tân cam kết dấn thân của đời sống thánh hiến
vào thiên niên kỷ thứ ba. Đây là thành quả của Hội
nghị nhóm họp từ ngày 25 đến 28 tháng 9 năm
2001 của Thánh bộ.
Hội nghị nhắm 2 mục đích:
- kỷ niệm 5 năm ban hành Tông huấn
Hậu Thượng Hội Đồng Đời sống
Thánh hiến và duyệt xét hiệu quả do việc đón
nhận và thực thi tông huấn của các cộng
đoàn, tu hội và Giáo hội địa phương;
- giúp biện phân nhằm bảo vệ
ơn gọi đời sống thánh hiến và nâng đỡ
sự chọn lựa dũng cảm làm chứng cho Tin Mừng
trong Ngàn năm mới.
Mục tiêu của Huấn thị là giúp
Đời sống thánh hiến canh tân cam kết sống
thánh thiện và tập trung vào linh đạo, theo đường
hướng mục vụ của Đức Thánh cha
được diễn tả trong Tông thư Bước
vào Ngàn năm mới.
Đường hướng mục vụ
được vạch ra trong Tông thư là “Chèo ra chỗ
sâu mà thả lưới” “Duc in altum!” (Lc 5,4), bằng cách:
* Chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức
Ki-tô,
* xuất phát lại từ Người,
* làm chứng cho T́nh yêu của Người.
Người tu sĩ được Chúa
Thánh Thần mời gọi hoán cải không ngừng để
chiều kích ngôn sứ của ơn gọi mang lấy một
sinh lực mới. Thật vậy, khi họ “được
mời gọi dâng hiến cuộc đời để phụng
sự Nước Thiên Chúa, bằng cách từ bỏ mọi
sự và noi gương nếp sống của Chúa Giê-su
Ki-tô sát hơn, họ đảm nhận vai tṛ cao cả là
giáo dục toàn thể Dân Thiên Chúa”.
“Giáo hội đặt kỳ vọng
nơi sự dâng hiến liên tục của đoàn con cái
nam nữ được tuyển chọn, niềm khao khát
nên thánh và ḷng nhiệt thành phục vụ nhằm cổ vơ
và nâng đỡ nỗ lực sống thánh thiện nơi
mọi ki-tô hữu, và nhằm gia tăng việc tiếp
đón người thân cận, nhất là những người
túng thiếu. Làm như thế, t́nh yêu Chúa Ki-tô sẽ
được chứng thực giữa mọi người”.
Thế giới hôm nay đang chờ mong
các người thánh hiến phản ánh cụ thể cách thức
hành động của Đức Giê-su, t́nh yêu Người
dành cho mỗi người không phân biệt và hạn chế.
Huấn thị giới thiệu một
vài chủ đề căn bản đă được
đề cập trong Tông Huấn Đời Sống Thánh
Hiến:
• Đức Ki-tô, trung tâm đời sống
mọi Ki-tô hữu;
• thực hành mục vụ và giáo huấn
về sự thánh thiện,
• nhu cầu phổ biến về linh
đạo và cầu nguyện thể hiện chính yếu
qua việc chiêm ngưỡng và lắng nghe Lời Thiên Chúa,
tác dụng không thể thay thế của đời sống
bí tích,
• linh đạo hiệp thông
• và chứng tá T́nh yêu được diễn
tả qua các h́nh thức bác ái mới đối với những
ai đau khổ, đối với một thế giới
bị thương tổn và nô lệ cho hận thù, và qua
tinh thần đại kết và đối thoại liên
tôn.
Huấn thị được phân chia
thành 4 phần:
Phần I: căn tính và hoạt đông của
đời sống thánh hiến.
Phần II: những khó khăn, thử
thách và thách đố mà những người tận hiến
hôm nay đang trải qua. Đó là một thời cơ mới
để khám phá lại một cách sâu xa hơn ư nghĩa và
phẩm chất của đời sống thánh hiến.
Phần III: Thách đố lớn nhất
là một sự dấn thân mới trong đời sống
thiêng liêng, bằng cách xuất phát lại từ Đức
Ki-tô qua việc gắn bó với Tin Mừng và sống linh
đạo hiệp thông theo một cách thức duy nhất.
Phần IV: Người thánh hiến
đi trên các nẻo đường của thế giới,
nơi Đức Ki-tô đă đi qua và hôm nay vẫn c̣n hiện
diện, nơi Giáo hội công bố Người như là
Đấng Cứu tinh của thế giới, nơi sự
sống Ba Ngôi toả lan sự hiệp thông trong một sứ
mạng mới.
VI. Các văn kiện khác
1. Sách GLGHCG (CCC), số
914- 933
2. Hai Bộ Giáo luật
+ của Giáo hội Latinh (CIC), 1983: đ.
573- 746
+ của Giáo hội Đông phương,
1990: đ. 410- 572
Một điểm khác biệt nổi bật
giữa hai bộ luật là bên Đông phương h́nh thức
tu tŕ cố cựu và phổ thông hơn cả là nếp sống
đan tu (x. Tông thư”Orientale Lume”- Ánh sáng phương
Đông, số 9- 16)
Bộ giáo luật 1983 (CIC, đ. 573- 746): sau gần 20
năm soạn thảo, BGL dành cho Giáo hội latinh được
ban hành ngày 25/1/1983. Tuy là một văn bản nặng về
pháp lư, nhưng nó chứa đựng khá nhiều điều
khoản mang tính cách đạo lư và tu đức, như nói
về bản chất của đời sống thánh hiến
trong Giáo hội (đ. 573- 576), bản chất của ba lời
khuyên Phúc âm (đ. 599- 601), ư nghĩa của quyền bính
(đ. 618- 619).
Điều 573§1 chứa đựng nội
dung thần học súc tích: “Đời sống thánh hiến
qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm là một lối
sống bền vững, nhờ đó, dước tác động
của Chúa Thánh Thần, các tín hữu bước theo sát
Đức Kitô hơn, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa mà họ
yêu mến trên hết mọi sự, ngơ hầu, một khi
đă hiến thân với một danh hiệu mới và đặc
biệt, để tôn vinh Thiên Chúa và xây dựng Giáo hội
cùng mưu cầu phần rỗi cho thế giới, họ
theo đuổi đức ái hoàn hảo trong việc phục
vụ nước Chúa và một khi đă trở thành dấu
chỉ rực rỡ trong Giáo hội, họ tiên báo vinh quang
trên trời.”
Bản chất của đời sống
thánh hiến “qua việc tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm”
được mô tả qua những mối tương quan
với Thiên Chúa và với Hội thánh:
1. Trong tương quan với Thiên Chúa Ba
Ngôi, đời sống thánh hiến được coi
như là:
a. Sự trao hiến trót đời
cho Chúa, đối tượng của t́nh yêu tuyệt đối.
Dĩ nhiên, điều này giả thiết là người tín
hữu đă ư thức và cảm nghiệm t́nh yêu của
Chúa đối với ḿnh, và ḿnh muốn đáp lại bằng
t́nh yêu trao phó, nhắm tới đức ái toàn thiện.
b. Theo sát Đức Kitô, không những bắt
chước đời sống của Ngài (vâng phục, khó
nghèo và thanh khiết), mà c̣n muốn tham gia vào sứ mệnh
của Ngài nữa, tức là công cuộc cứu rỗi thế
giới, phục vụ nước Chúa.
c. Dưới tác động của Chúa
Thánh Thần, tác giả của mọi sinh động, t́nh
yêu và thánh thiện trong Hội thánh.
2. Trong tương quan với Hội
thánh, sự tận hiến được coi như là dấu
hiệu rực rỡ bày tỏ 4 sứ mệnh sau đây của
Hội thánh:
a. Hội thánh cần phải luôn luôn t́m
đến sự tăng trưởng trong đức ái
b. Hội thánh phải luôn qui chiếu hết
mọi hành động của ḿnh về vinh quang cho Thiên
Chúa
c. Hội thánh được thiết lập
để mang ơn cứu rỗi của Đức Kitô
cho nhân loại
d. Hội thánh lữ hành mong mỏi
hướng về hạnh phúc vĩnh cửu
Như vậy, cốt yếu của
đời tu hệ tại ở sự tận hiến cho
Thiên Chúa. T́nh yêu thánh hiến không phải là cái ǵ mơ hồ
hoặc thoáng qua. Đó là một giao ước t́nh yêu. V́
yêu thương, Thiên Chúa đă tuyển chọn một
người, dành riêng người đó ra để thi hành
một sứ mệnh; một khi nhận thức ra t́nh yêu
đặc biệt ấy, con người đáp lại tiếng
gọi với một t́nh yêu tuyệt đối không chia sẻ.
Thế nhưng, t́nh yêu Thiên Chúa được mạc khải
cho ta qua Đức Kitô, nơi Ngài không những ta biết
được t́nh yêu Chúa dành cho ta, nhưng ta c̣n t́m thấy
mẫu gương để đáp lại t́nh yêu ấy:
Đức Kitô là người tận hiến nguyên khởi.
Bởi đó, t́nh yêu thánh hiến được diễn tả
qua một ư chí dâng trót ḿnh, một cách vĩnh viễn, qua việc
tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm. Việc tuyên giữ ấy
biểu lộ ư chí muốn theo gương Đức Kitô
trong việc vâng phục Chúa Cha và dâng ḿnh làm hy lễ để
thánh hóa nhân loại. Đây là lối sống diễn tả
t́nh yêu trao hiến toàn thân cho Thiên Chúa và nhân loại. Giá trị
của đời tu cần được đo lường
ở mức độ yêu mến ấy, chứ không qua
công tác hay tài đức nào khác. Ngay cả việc tông đồ
của họ, trước tất cả, đó là chứng
tá của chính sự tận hiến/thánh hiến, chứng
tá t́nh yêu thánh hiến của họ. Ta có thể nói t́nh yêu
thánh hiến là nguồn gốc và tận điểm của
đời tu. Sự tăng trưởng của t́nh yêu này
phụ thuộc nhiều nhân tố, đứng hàng đầu
là đời sống cầu nguyện chiêm niệm, nơi
mà con người có dịp cảm nghiệm t́nh yêu của
Chúa và cố gắng đáp lại với ư thức trọn
vẹn.
BGL bàn tới các tu sĩ rải rác trong 7
quyển, nhưng dành trọn phần III ở quyển 2
(Dân Thiên Chúa) để nói về các hội ḍng tận hiến
và các tu đoàn tông đồ.
Dưới khía cạnh tổ chức,
BGL phân các ḍng tu thành 3 loại:
- Ḍng tu: đ. 607
- Tu hội đời: đ. 710
- Tu đoàn tông đồ: đ. 731
BGL c̣n khôi phục lại h́nh thức ẩn
sĩ cổ truyền (đ. 603) và trinh nữ tận hiến
(đ. 604).
(Cf. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật
Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3, Các Hội Ḍng Tận Hiến
và các Tu Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993), p. 382…; Văn kiện
đời tu- Theo Chúa Kitô, 2002, p. 259…; Thời sự Thần
học, số 8, 6/97, p. 60…)
[1] Bộ Giáo
luật điều 675 đă lấy lại những nguyên tắc
về linh đạo của đời tông đồ trong
số 8 này, tóm vào 3 mối liên hệ của hoạt động
tông đồ:
- Hoạt động tông đồ và
đời tận hiến: trót đời tu tŕ phải thấm
nhuần tinh thần tông đồ và trót hoạt động
tông đồ phải được sinh động nhờ
tinh thần tu tŕ.
- Hoạt động tông đồ và
đời sống nội tâm: Đời sống tông đồ
cần phải phát xuất từ sự kết hiệp mật
thiết với Thiên Chúa, đồng thời sự kết
hiệp với Chúa cần được củng cố và
hun đúc bằng hoạt động tông đồ.
- Hoạt động tông đồ với
Giáo hội: Hoạt động tông đồ được
thi hành nhân danh và với ủy nhiệm của Giáo hội;
do đó, cần được thực hiện trong sự
hiệp thông với Giáo hội.
Mỗi ḍng tham gia hoạt động
tông đồ với đặc tính của ḍng ḿnh. Bộ
Giáo luật điều 674 đưa ra một thí dụ
điển h́nh: Các tu sĩ sống đời chiêm niệm
thuần túy th́ tham gia vào hoạt động tông đồ
theo đường lối riêng của họ: “Họ dâng
lên Thiên Chúa hy lễ ngợi khen tuyệt vời, họ
trang điểm dân Chúa với những hoa trái dồi dào của
sự thánh thiện, họ thúc đẩy dân Chúa bằng
gương sáng và làm cho nó phát triển nhờ sự phong
nhiêu kín nhiệm của ḿnh.” BGL đ. 676- 677 cũng lặp
lại PC 10 và 20 khi nói rằng: “Những ḍng chuyên về các
công tác bác ái thiêng liêng hay thể xác một đàng hăy cố
gắng trung thành với ơn gọi riêng của ḿnh (trung
thành duy tŕ sứ mệnh và công tác riêng của ḍng); đàng
khác, họ hăy biết thích ứng chúng cách khôn ngoan với
nhu cầu thời đại, bằng việc áp dụng những
phương thế mới mẻ và thích hợp.”
[2] Trong bối
cảnh xét lại các h́nh thức hoạt động tông
đồ đó, văn kiện “Những yếu tố cốt
yếu của đời tu” (số 27) đă đưa ra
những khuyến cáo về ba cơn cám dỗ khi xây dựng
kế hoạch hoạt động tông đồ: (i) muốn
ôm đồm mọi h́nh thức hoạt động tông
đồ, (ii) bỏ đi những h́nh thức hoạt
động truyền thống theo đặc sủng của
ḍng, để chạy theo những hoạt động
đáp ứng nhu cầu xă hội tức thời, nhưng
lại không hợp với đặc sủng của ḍng,
(iii) phân tán nhân lực ḍng vào những hoạt động
ngắn hạn, chỉ liên hệ đến đặc sủng
một cách mơ hồ; do đó, với thời gian, tính
cách đồng nhất trong việc thực hiện đặc
sủng của ḍng sẽ bị tổn thương (x. Phan
Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên
Chúa, tập 4, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu
Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993), tr. 762- 763).
[3] “Sự sống
mới của anh chị em hiện đang tiềm tàng với
Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3, 3)