THẦN HỌC VỀ ĐỜI
SỐNG THÁNH HIẾN
Trần Hữu Hạnh, fsf
MỤC LỤC
Mục
lục
Chữ
viết tắt
I. TỪ
NGỮ: THÁNH HIẾN
1. Cựu
ước
2. Tân
ước
3. Sự
thánh hiến của đời tu
II. THẦN
HỌC VỀ ĐSTH TỪ
A. Công
đồng Vatican II
B. Sau
công đồng Vatican II
1. Tông
huấn Vita Consecrata
a. Chuẩn bị cho Tông huấn
b. Bố cục của Tông huấn
2. Căn tính của
ĐSTH theo VC: thánh hiến và sứ mệnh
a. Thánh hiến
- Kitô
- Ba Ngôi
- Đức Maria
- Giáo hội
b. Đặc sủng / Sứ mệnh
Tài liệu
tham khảo
CHỮ VIẾT TẮT
AG Sắc lệnh về
Truyền giáo
CCC Sách Giáo lư Giáo hội Công giáo
CL Tông huấn Christifideles
Laici
EE Văn kiện Những
Yếu tố Cốt yếu của Đời tu
FLC Đời sống huynh đệ trong cộng
đoàn
GS
Hiến chế mục
vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay
LG Hiến chế Tín lư
về Hội thánh
PC Sắc lệnh về
việc Canh tân Ḍng tu
RD Tông huấn Hồng ân cứu
độ
VC Tông huấn về Đời
sống Thánh hiến
I. TỪ NGỮ: THÁNH HIẾN
Theo
nguyên nghĩa, sự thánh hiến, cung hiến hay tác thánh, là
tách rời một người hay một vật ra khỏi
lănh vực phàm tục, để dành riêng cho công việc
thánh. Thí dụ như cung hiến thánh đường, bàn
thờ, … Sau khi đuợc thánh hiến, chúng được
dành riêng cho việc phụng tự.
Kinh
thánh cho thấy con người đă cung hiến cho Thiên
Chúa một nơi (bàn thờ, đền thờ: x. Xh 29,
37), một lễ vật (x. Xh 13, 2), một người (x.
Xh 28, 41). Nhưng Kinh thánh cũng nói nhiều đến việc
chính Thiên Chúa thánh hiến (thánh hóa) con người, thậm
chí cả một dân tộc như dân
1. Cựu ước
Thiên
Chúa đă chọn dân
Từ
trong dân tộc này, Thiên Chúa cũng chọn và thánh hiến một
số người để phục vụ kế hoạch
của Ngài: Abram (St 12), Moses (Xh 3), David (1Sm 16), các ngôn sứ
(Is 6; 42, 1-7; Gr 1,5), v.v.
2. Tân ước
Khởi
nguồn mọi sự hiến thánh là Chúa Kitô. Ngài được
Chúa Cha thánh hiến (được thông truyền chính sự
thánh thiện của Thiên Chúa, tức thiên tính) và sai đến
trong thế gian (x. Ga 10, 36; x. Ga 17, 18-19; Lc 4, 18-19). Bởi vậy,
Ngài được tuyên xưng là Đấng Thánh của
Thiên Chúa (x. Ga 6, 69; 1Ga 2, 20; Kh 3, 9).
Những
ǵ Cựu ước nói về
Chúa Kitô
cũng cầu xin cho các môn đệ của Ngài, để
họ cũng được thánh hiến và được
sai đi như Ngài: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến
họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đă sai con
đến thế gian, th́ con cũng sai họ đến thế
gian. V́ họ, con xin thánh hiến chính ḿnh con, để nhờ
sự thật, họ cũng được thánh hiến.”
(Ga 17, 17- 19) Ở đây, chúng ta thấy Chúa Kitô “xin thánh hiến
chính ḿnh con.” Ngài tự nguyện dâng trót cuộc đời
để thi hành sứ mệnh cứu độ nhân loại,
tức thánh hóa họ. Và Ngài cũng muốn các môn đệ
của Ngài tiếp tục sứ mệnh của Ngài: thánh
hiến và sứ vụ.
Thật
vậy, qua cái chết và sự Phục sinh, Chúa Kitô đă
đưa thế gian ra khỏi tội lỗi, cho thông dự
vào sự thánh thiện của Chúa. Qua bí tích Rửa tội,
những người Kitô hữu được thông dự
vào ơn hiến thánh của Chúa Kitô: được rửa
sạch tội lỗi (x. Ga 15, 3), được thanh tẩy
(x. Ep 5, 24), được thánh hóa trong sự thật (x. Ga
17, 17), là những người thánh (x. Rm 1, 7; 1Cr 1, 2; Ep 1, 1;
Pl 1, 1; Cl 1, 2; 1Tx 5, 26; 2Tx 1, 10; 1Tm 5, 10; Dt 3, 1). Họ phải
sống xứng đáng với ơn gọi nên thánh, v́
Đấng đă kêu gọi họ là Đấng Thánh (x. 1Pr
1, 16; 1Tx 4, 3). Họ phải cố gắng nên trọn lành
như Cha trên trời là Đấng trọn lành (x. Mt 5, 48).
Tóm lại,
theo Kinh thánh, chính Thiên Chúa thánh hiến con người. Do
t́nh yêu, Ngài chọn và tách biệt một người nào
đó và thông ban sự thánh thiện của Ngài cho họ. Sự
lựa chọn này không chỉ v́ ích lợi riêng của
người ấy, mà c̣n trao cho họ một sứ mệnh
để phục vụ kế hoạch cứu độ
của Ngài nữa. T́nh yêu của Thiên Chúa có sức biến
đổi con người, ban cho họ khả năng
để đáp trả lại cũng bằng t́nh yêu.
3. Sự thánh hiến của đời tu
Thần
học cận đại coi đời sống tu là “bậc
trọn lành.” Việc sử dụng cụm từ này có thể
gây hiểu lầm. Bởi v́, mọi Kitô hữu đều
được kêu gọi trở nên trọn lành (x. Mt 5, 48).
Công đồng Vatican II cũng đă khẳng định mọi
Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh
trong bậc sống của ḿnh và có nhiều con đường
để nên trọn lành (x. LG 11, 42), chứ không chỉ qua
việc giữ các lời khuyên Phúc âm. Thêm vào đó, việc
sử dụng cụm từ này sẽ làm cho người ta
lầm tưởng rằng chỉ có những người
sống trong bậc đó mới buộc phải nên trọn
lành, c̣n các bậc khác th́ không buộc. Ngày nay, cụm từ
“đời sống thánh hiến/tận hiến” (Vita
consecrata), bao gồm cả tu hội đời, đă
được sử dụng để chỉ đời
sống tu tŕ, mặc dù nó không được sự đồng
t́nh rộng răi v́ cũng gây ra ngộ nhận rằng chỉ
có các tu sĩ là được thánh hiến cho Chúa, c̣n những
người khác không được thánh hiến? Nhưng mọi
Kitô hữu đều được thánh hiến qua phép rửa
tội.
Ở
đây, chúng ta cần phân biệt “nên thánh” trong bậc giáo
dân và “nên thánh” trong bậc tu tŕ: sự thánh hiến phổ
quát và sự thánh hiến riêng biệt, ơn gọi phổ
quát nên thánh và ơn gọi cụ thể nên thánh theo từng
bậc sống. Như đă tŕnh bày, trong Cựu ước,
có sự thánh hiến của toàn thể dân Chúa và cũng có
sự thánh hiến của các ngôn sứ. Cũng vậy,
trong Tân ước, ngoài sự thánh hiến phổ quát dựa
trên bí tích Rửa tội, c̣n có sự thánh hiến đặc
biệt của bí tích Truyền chức (x. CCC 1535, 1556-1559),
của bí tích Hôn nhân (x. GS 48; CCC 1535), của các h́nh thức
tu tŕ (x. CCC 916, 931; LG 44; PC 5). Mỗi người phải sống
theo đặc sủng đă nhận được (x. 1Cr
7, 7- 20). Chính Chúa Thánh Thần làm cho Giáo hội trở thành một
mối hiệp thông hữu cơ, trong sự đa dạng
về các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa
tác vụ (x. AG 4; LG 4, 12, 13; GS 32, CL
30-31)
Đời
tu là một h́nh thức tận hiến đặc biệt
cho Thiên Chúa, v́ sự thánh hiến chính là nền tảng của
đời tu. Chính Thiên Chúa thánh hiến người tu sĩ.
Ngài kêu mọi một người, tách riêng người ấy
ra và trao cho người ấy một sứ mệnh trong kế
hoạch cứu độ của Ngài (x. EE 5). Sự thánh hiến
của các tu sĩ dựa trên việc tuyên giữ các lời
khuyên Phúc âm (x. Can 573 §1; EE 4, 7). Việc tuyên giữ các lời
khuyên Phúc âm tách biệt họ khỏi những sự vật
trần thế, để họ chỉ phụng sự một
ḿnh Chúa mà thôi (x. PC 5). Đời sống thánh hiến dựa
trên phép Thánh Tẩy, nhưng sống bí tích này một cách triệt
để hơn. Có thể nói là họ được thánh
hiến một lần nữa: “Nhờ phép Thánh Tẩy, họ
đă chết cho tội lỗi và được cung hiến
cho Thiên Chúa; nhưng để có thể thâu lượm dồi
dào ơn ích của bí tích ấy, người Kitô hữu muốn
nhờ việc khấn giữ ba lời khuyên Phúc âm trong Hội
thánh, thoát ly khỏi những ngăn trở có thể làm cho
họ không nhiệt tâm yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa cách
hoàn hảo; và họ tận hiến để phụng sự
Thiên Chúa cách thân t́nh hơn.” (LG 44) Đó là “một sự
thánh hiến đặc biệt cắm rễ sâu trên sự
thánh hiến của phép Rửa tội và bày tỏ sự
thánh hiến phép Rửa tội cách đầy tràn viên măn.”
(PC 5; x. LG 44; EE 6) Mẫu gương tuyệt đối của
họ là Chúa Kitô, Đấng đă hiến trọn đời
để sống cho t́nh yêu Thiên Chúa. Qua các lời khấn,
người tu sĩ bắt chước mẫu
gương ấy để dâng hiến chính ḿnh cho Thiên
Chúa. Sự thánh hiến nói lên t́nh trạng họ được
hoàn toàn dâng hiến cho Thiên Chúa, thuộc trọn về Chúa,
trở thành sở hữu của Thiên Chúa, chỉ phụng
sự một ḿnh Ngài. Đức Gioan Phaolô II gọi đó
là một sự thánh hiến mới, v́ nó đ̣i hỏi một
ư thức mới, một sự quyết tâm mới, t́nh yêu
và ơn gọi mới, một sự cải hoán mới (x.
RD 7) Đời sống thánh hiến được ví
như “giao ước hôn nhân với Chúa” (RD 8; x. LG 44, PC 1;
EE 5), Đấng đáng yêu trên hết mọi sự.
Chúng ta
cũng có thể hiểu là Giáo hội tận hiến tu sĩ
cho Thiên Chúa qua phụng vụ cung hiến. Trong phụng vụ,
Hội thánh thay mặt Chúa mà nhận lời khấn và qua
việc cử hành phụng vụ, Hội thánh tŕnh bày việc
tuyên khấn như một t́nh trạng thánh hiến cho Thiên
Chúa (x. LG 45; can 654).
Chúng ta
sẽ tiếp tục nói về sự thánh hiến trong
đời tu khi khai triển tông huấn Vita Consecrata
dưới đây.
II. THẦN
HỌC VỀ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN TỪ VATICAN
II
A. Công đồng Vatican II
Mặc
dầu đời tu đă h́nh thành từ thế kỷ III,
nhưng thần học về đời sống thánh hiến
mới phát triển từ công đồng Vatican II. Trước
đây, người ta quá chú trọng đến khía cạnh
luân lư và luật lệ. Từ đó dẫn đời tu
đến chỗ sống khắc kỷ và vụ luật:
cố gắng luyện tập các nhân đức và giữ
ḿnh để tránh phạm tội nghịch với các lời
khấn. Công đồng Vatican II muốn kéo đời tu ra
khỏi năo trạng hẹp ḥi đó (nhưng vẫn coi trọng
sự khổ chế, v́ ba lời khấn ḍng cũng đă
là những h́nh thức khổ chế rồi) và giúp họ
ư thức được lư tưởng của ḿnh là bước
theo Chúa Kitô. Đời tu không chỉ giới hạn vào
việc “tu thân” hay “giữ luật,” mà c̣n là một lư tưởng
sống: bước theo sát Chúa Kitô trinh khiết, khó nghèo và
vâng phục. Quy luật tối cao của đời tu là
Chúa Kitô và Tin mừng. Công đồng tŕnh bày nền tảng
đời tu dựa trên ba lời khuyên Phúc âm, chứ không
nói đến lời khấn; v́ các tu hội đời và
tu đoàn tông đồ chỉ có lời hứa hoặc một
h́nh thức nào đó, chứ không có lời khấn.
Nhưng khi tŕnh bày như vậy, công đồng cũng nhắm
mục đích là muốn những người tận hiến
xem các lời khuyên Phúc âm như là những lời mời gọi
của Chúa Kitô, chứ không phải là những ràng buộc
của luật lệ. Bộ Giáo luật, được
coi là văn kiện cuối cùng của công đồng, cũng
được viết theo cái nh́n mới này: chú trọng
đến khía cạnh thần học và tu đức. Luật
giúp con người thăng tiến, phát triển đời
sống thiêng liêng, chứ không uốn nắn theo những
qui tắc. Bộ giáo luật đă tŕnh bày thần học
phong phú về đời tu trong mối liên hệ giữa
ba lời khuyên Phúc âm với Thiên Chúa Cha, Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần
và Giáo hội. Thật vậy, bộ giáo luật đă viết:
“Đời sống thánh hiến qua việc tuyên giữ các
lời khuyên Phúc âm là một lối sống bền vững,
nhờ đó, dưới tác động của Chúa Thánh
Thần, các tín hữu bước theo sát Chúa Kitô
hơn, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa mà họ
yêu mến trên hết mọi sự, ngơ hầu, một khi
đă hiến thân với một danh hiệu mới và đặc
biệt, để tôn vinh Thiên Chúa và xây dựng Hội
thánh cùng mưu cầu phần rỗi cho thế giới,
họ theo đuổi đức ái hoàn hảo trong việc
phục vụ nước Chúa và một khi đă trở
thành dấu chỉ rực rỡ trong Hội thánh, họ
tiên báo vinh quang trên trời.” (Can 573 §1)
Tận
hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa:
Cốt yếu của đời tu là sự tận hiến
cho Thiên Chúa. Đó là một lối sống bền vững,
được h́nh thành do việc tận hiến toàn thân
cho chỉ một ḿnh Thiên Chúa (x. PC 5). V́ yêu thương,
Thiên Chúa đă tuyển chọn và thánh hiến họ để
họ trở thành sở hữu của Ngài. Nhận thức
được điều đó, họ hoàn toàn tận hiến
cho Thiên Chúa, hoàn toàn thuộc về Chúa với một trái
tim không chia sẻ. Họ được thánh hiến cho
Thiên Chúa, hoàn toàn trao hiến ḿnh cho Thiên Chúa bằng cách dâng
lên Ngài một t́nh yêu trọn vẹn nhất (x. LG 44) Giá trị
của đời tu được đo lường ở
mức độ t́nh yêu ấy. “Đời sống tu tŕ,
xét như là sự thánh hiến của cả con người,
biểu lộ trong Giáo hội cuộc kết hôn huyền
diệu do Thiên Chúa thiết lập, là dấu chỉ của
đời sống mai hậu. Như thế, tu sĩ hoàn tất
sự dâng hiến trọn vẹn như là một hy tế
dâng cho Thiên Chúa. Nhờ đó, tất cả cuộc sống
của ḿnh trở thành việc thờ phượng liên lỉ
trong đức ái.” (Can 607 §1) Công đồng nêu bật
ơn gọi nên thánh của đời sống tu tŕ và bản
chất của đời tu là bước theo Chúa Kitô, hiến
trọn đời để phục vụ Thiên Chúa và công
cuộc cứu độ của Ngài. Đây là lối sống
diễn tả t́nh yêu trao hiến toàn thân cho Thiên Chúa và nhân
loại.
Bắt
chước Chúa Kitô: Mẫu
gương tuyệt vời của sự tận hiến ấy
là chính Chúa Kitô. Thật vậy, bản chất của đời
tu là bước theo Chúa Kitô như công đồng nói: “Theo
Chúa Kitô như Phúc âm dạy là tiêu chuẩn tối hậu của
đời tu tŕ, nên tất cả các hội ḍng phải coi
tiêu chuẩn ấy như là qui luật tối thượng.”
(PC 2) Tuy nhiên, việc bước theo hay bắt chước
Chúa Kitô chưa xác định rơ căn tính của đời
tu, v́ mọi Kitô hữu đều được mời gọi
noi gương Chúa Kitô. Vậy, đối với tu sĩ,
việc bắt chước được cụ thể
hóa qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm. Công đồng
gọi đó là sự “bắt chước lối sống
của Chúa Kitô cách sát sao hơn” (LG 44), “ngày càng trở nên giống
hơn” (LG 46), “theo Chúa Kitô với một tinh thần tự
do thanh thoát hơn, bắt chước Người khắng
khít hơn” (PC 1). Nơi Chúa Kitô, Đấng đă hiến
trọn đời để sống cho t́nh yêu Thiên Chúa,
người tu sĩ t́m thấy được mẫu
gương tuyệt hảo để đáp lại t́nh yêu
của Thiên Chúa. Người tu sĩ c̣n phải tham gia vào sứ
vụ của Chúa Kitô, bước theo Ngài trên những con
đường mà Ngài đă đi: cầu nguyện trên núi,
rao giảng cho đám đông, chữa lành những người
bệnh, khuyên nhủ các tội nhân ăn năn sám hối,
chúc lành cho trẻ em và ban ơn lành cho mọi người,
trong tinh thần vâng phục thánh ư Chúa Cha (x. LG 46; Can 577).
Theo sát Chúa Kitô không chỉ là bắt chước đời
sống trinh khiết, khó nghèo và vâng phục của Ngài,
nhưng c̣n là tham gia vào sứ mệnh cứu độ nhân
loại của Ngài.
Dưới
tác động của Chúa Thánh Thần: Đời sống thánh hiến chính nó
là một đặc sủng. Đó là một ân huệ
đặc biệt của Chúa Thánh Thần được
ban cho toàn thể Hội thánh (x. LG 43, 45). Chúa Thánh Thần
khơi dậy nơi các tín hữu ḷng khao khát nên trọn
lành, bước theo Chúa Kitô qua việc sống các lời
khuyên Phúc âm cách triệt để (x. LG 43; PC 1). Có nhiều
hội ḍng khác nhau, tùy theo đặc tính riêng của chúng.
Tính đa dạng này là do công tŕnh của Chúa Thánh Thần
(x. PC 7, 8, 9, 10, 11). Mỗi ḍng, qua sự dấn thân của
đấng sáng lập, đă đem lại một ơn gọi
đặc biệt, như một ân huệ do Chúa Thánh Thần
khơi dậy (x. LG 45; PC 1, 2).
Xây dựng
Hội thánh: Chiều kích
Kitô và Hội thánh liên hệ mật thiết với nhau, v́
Hội thánh gồm những người đi theo Chúa Kitô
và tiếp tục sứ mệnh của Ngài. Đời sống
thánh hiến nằm trong bản chất của Hội
thánh, gắn liền với đời sống và sự
thánh thiện của Hội thánh (x. LG 44; Can 207 §2; 574 §1). Có
thể nói sự thánh thiện là lư do cho sự hiện hữu
của họ. Mặc dù đời sống thánh hiến
không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Hội
thánh, nhưng thuộc về cơ cấu đặc sủng
hay cơ cấu Thần khí. Trước đây, có nhiều
người cho rằng đời tu chỉ là món đồ
phụ thuộc, nằm bên ngoài Hội thánh; v́ nó không xuất
hiện cùng với Hội thánh, không nằm trong ư định
của Chúa Kitô khi thành lập Hội thánh. Mặc dù các h́nh
thức tu tŕ (ẩn tu, đan tu, viện tu,…) bắt đầu
xuất hiện từ thế kỷ thứ III và phát triển
theo gịng thời gian, nhưng công đồng quả quyết
đời tu thuộc về bản chất của Hội
thánh. Lư do là v́ cốt yếu của đời tu không hệ
tại h́nh thức tu tŕ, mà hệ tại các lời khuyên
Phúc âm. Như vậy đời sống thánh hiến diễn
tả chính bản chất của Hội thánh. V́ các lời
khuyên Phúc âm gắn chặt với bản chất của Hội
thánh: Hội thánh lănh nhận các lời khuyên Phúc âm từ
Chúa Kitô. Hội thánh có bổn phận duy tŕ và truyền lại
cho mọi thế hệ không những lời giảng của
Chúa Kitô, mà c̣n đời sống và hoạt động của
Ngài nữa. Như vậy, việc họa lại đời
sống Chúa Kitô qua các lời khuyên Phúc âm nằm trong chính bản
chất của Hội thánh (x. LG 43; Can 575). Sự thánh thiện
của Hội thánh được biểu lộ qua việc
thực hành các lời khuyên Phúc âm (LG 39). Các lời khuyên Phúc
âm dẫn những người tận hiến đến
đức ái, và nhờ đó, các lời khuyên này kết hợp
họ cách đặc biệt với Hội thánh và với
mầu nhiệm Hội thánh. Do đó, đời sống thiêng
liêng của họ phải mưu cầu ích lợi cho toàn
thể Hội thánh. Họ có bổn phận làm cho nước
Chúa được phát triển và hiển trị khắp
nơi (x. LG 44). V́ thuộc về bản chất của Hội
thánh, nên đời tu cũng gắn liền với sứ
mệnh của Hội thánh. Sự tận hiến của
tu sĩ được Hội thánh tiếp nhận, nên họ
biết rằng họ cũng dấn thân để phục
vụ Hội thánh (x. PC 5). Họ phải sống trong Hội
thánh và sống bằng sự sống của Hội thánh.
Đời sống thánh hiến nằm giữa trung tâm của
Hội thánh như một yếu tố quyết định
cho sứ mệnh của Hội thánh, bởi v́ nó “biểu
lộ bản tính sâu xa của ơn gọi Kitô giáo” (AG 18), và sự cố gắng
vươn lên của Hội thánh, Hiền Thê, tới sự
hiệp nhất với Đức Lang Quân duy nhất (x. LG 44). Qua họ, Hội thánh bộc lộ
t́nh yêu không chia sẻ dành cho Chúa Kitô. Nói cách khác, các tu sĩ
thay mặt cho Hội thánh để bày tỏ sự gắn
bó mật thiết với Chúa Kitô, đặt Ngài trên hết
mọi sự.
Lumen
Gentium đă đặt đời
sống thánh hiến trong ḷng Hội thánh, để nhắc
nhở họ rằng việc theo Chúa không chỉ là lợi
ích của riêng họ, mà c̣n liên hệ tới cả Hội
thánh nữa. Hoạt động của họ cần
được thực hiện trong sự hiệp thông với
Hội thánh. Họ cần duy tŕ mối tương quan với
Giám mục giáo phận trong tinh thần phục tùng và kính trọng.
Đời sống chứng tá của họ là một dấu
chỉ truyền giáo. Cốt yếu của đời sống
thánh hiến là việc bắt chước Chúa Kitô qua việc
thực hành các lời khuyên Phúc âm. Họ đem Phúc âm áp dụng
vào những nhu cầu cụ thể, trong những môi
trường và thời gian khác nhau. Qua cách sống của họ,
người ta có thể thấy được Chúa Kitô
đang hiện diện. V́ thế, đời tu thật sự
cần thiết cho Hội thánh (x. LG 42, 44).
Đời
tu c̣n hướng Hội thánh về cuộc sống mai hậu
(LG 44; PC 1; Can 607 §1). Thật vậy, đời thánh hiến
là dấu chỉ (chứng tá) đời sống mai hậu,
v́ họ thể hiện việc h́nh thành nước Thiên
Chúa ngay tại trần gian này qua đời sống cá nhân cũng
như cộng đoàn. Họ bắt chước Chúa Kitô
trong việc tận hiến cho Thiên Chúa và phục vụ
nước trời. Họ hướng Hội thánh về
tương lai, đích điểm của cuộc lữ
hành.
Mỗi
hội ḍng có một vị trí trong đời sống Giáo hội
và một sứ mệnh phải hoàn thành. Khi được
thiết lập, hội ḍng đương nhiên trở
thành pháp nhân công trong Hội thánh. Họ hoạt động
nhân danh Hội thánh để đạt được mục
đích nhằm tới lợi ích chung của Hội thánh.
Do đó, hoạt động của hội ḍng được
coi như là hoạt động của Hội thánh (x. Can
116 §1; 675 §3).
Tóm lại,
“những kẻ được Thiên Chúa mời gọi thực
hành và quyết tâm khấn giữ trung thành với các lời
khuyên Phúc âm đều hiến thân cho Thiên Chúa một cách
đặc biệt, noi gương Chúa Kitô khiết tịnh
và khó nghèo (x. Mt 8, 20; Lc 9, 58) và v́ vâng phục Chúa Cha cho đến
chết trên thập giá (x. Pl 2, 8) đă cứu chuộc và
thánh hóa nhân loại. Được sự thúc đẩy của
t́nh yêu mà Chúa Thánh Thần đă đổ tràn trong ḷng (x. Rm
5, 5), họ càng ngày càng sống cho Chúa Kitô và Thân Thể Ngài
là Giáo hội (x. Cl 1, 24). Bởi vậy, họ càng nồng
nàn kết hợp với Chúa Kitô bao nhiêu qua sự dâng ḿnh gồm
trọn cả cuộc sống, th́ đời sống Giáo hội
càng phong phú hơn và việc tông đồ của Giáo hội
càng dồi dào mănh liệt hơn bấy nhiêu.” (PC 1)
Công
đồng đă không đưa ra một định nghĩa
nào về đời sống thánh hiến, nhưng nói đến
bản chất và những yếu tố tạo nên đời
sống này. Nói cách khác, công đồng đă mở ra một
chân trời mới, một hướng mới cho nền
thần học về đời sống thánh hiến để
Hội thánh tiếp tục đào sâu.
B. Sau công đồng Vatican II
Sau công
đồng, thần học về đời tu chú trọng
tới ư niệm thánh hiến. Khuynh hướng này muốn
làm nổi bật chiều kích hướng thượng của
đời sống thánh hiến và định nghĩa đời
tu như là sự tận hiến cho Thiên Chúa. Ư niệm này
được giải thích rơ ràng trong văn kiện Những
yếu tố cốt yếu của đời tu (EE) của
Bộ Tu sĩ, từ số 5 đến số 12, năm
1983. Bên cạnh đó, thần học về đời tu cũng
đi theo một chiều hướng khác, dựa trên ư niệm
đặc sủng/sứ mệnh. Thần học về
đặc sủng làm nổi bật tính cách năng động
truyền giáo, tính chất đa dạng của các hội
ḍng và đề cao tác động của Chúa Thánh Thần.
Trong khi đó, thần học về thánh hiến khai triển
chiều kích thần bí (hướng thượng) của
đời tu, thích hợp với các hội ḍng chiêm niệm
hơn là với các hội ḍng hoạt động và nó có
khuynh hướng dẫn đến một mẫu số
chung cho tất cả các hội ḍng, có nguy cơ làm mất
đi tính cách đa dạng phong phú của đời tu. Thật
vậy, ư niệm thánh hiến đào sâu chiều kích thiêng
liêng, c̣n ư niệm đặc sủng nhấn mạnh đến
sứ vụ. Như vậy, thánh hiến hay đặc sủng/sứ
mệnh tạo nên căn tính của đời sống
thánh hiến?
Sau công
đồng, có nhiều văn kiện nói về thánh hiến
và đặc sủng/sứ mệnh như: tông huấn Hồng
ân cứu độ (RD) đào sâu về chiều kích thần
bí của đời tu; văn kiện Mối
tương quan giữa các Giám mục với các tu sĩ
(MR) đề cập chiều kích đặc sủng/sứ
mệnh; tông huấn Chứng tá Tin Mừng (ET), văn
kiện Những yếu tố cốt yếu của
đời tu (EE) và huấn thị Về việc
đào tạo tu sĩ (PI) khai triển chiều kích thánh
hiến và sứ mệnh; Tông thư gởi các
người tận hiến nhân dịp năm Thánh Mẫu
(22/5/1988) của Đức Gioan Phaolô II, mời gọi các
tu sĩ suy niệm với Đức Maria về ư nghĩa
của đời sống thánh hiến, dựa trên ba chủ
đề: ơn gọi, thánh hiến và hoạt động
tông đồ; văn kiện Tu sĩ với sự
thăng tiến con người nói về việc tu sĩ
tham gia vào sứ mệnh của Giáo hội đối với
con người và xă hội, v. v.
Tông huấn
về đời sống thánh hiến (Vita consecrata,
1996) của Đức Gioan Phaolô II đă đúc kết các
văn kiện của Giáo hội, cũng như những
suy tư thần học về đời sống thánh hiến
từ công đồng Vatican II. Đặc biệt, tông huấn
khai triển hai chiều kích thánh hiến và sứ mệnh của
đời sống thánh hiến. Đức Giáo hoàng có vẻ
nghiêng về ư niệm thánh hiến, v́ ngài đă dùng ư niệm
này để định nghĩa căn tính của đời
tu (Vita Consecrata). Nhưng tông huấn đă nối kết và
dung ḥa hai ư niệm này. Hai ư niệm này bổ sung cho nhau, tạo
nên căn tính của đời sống thánh hiến.
1. Tông huấn Vita Consecrata
a. Chuẩn bị cho Tông huấn
Tông huấn
Vita Consecrata của Đức Gioan Phaolô II được
ban hành ngày 25/3/1996, là kết quả của THĐGM thế
giới về chủ đề “Đời sống thánh hiến
và sứ mệnh của đời sống này trong Giáo hội
và trong thế giới” (khai mạc ngày 2/10 và kết thúc vào
ngày 29/10/1994). THĐGM thế giới bao gồm: ngoài 244 nghị
phụ được mời theo quy luật chung, c̣n có 75 dự
thính viên thuộc các ḍng tu (51 nữ và 24 nam thuộc về
các hội ḍng, tu hội đời và tu đoàn tông đồ),
20 chuyên viên (12 nam, 8 nữ) và 9 dự thính viên thuộc các
Giáo hội ngoài Công giáo.
Đức
Giáo hoàng đă tham dự các phiên họp của THĐ, ngài
không can thiệp nhưng ghi chép lại những ǵ được
đem ra thảo luận và trong suốt thời gian họp
THĐ, ngài đă mời mọi người, theo từng
nhóm, đến ăn tối với ngài.
Một
trong số những vấn đề chính nổi lên trong
các cuộc bàn luận của THĐ là thần học về
sự “thánh hiến”. Nó bị cho là có tính cách hàm hồ: sự
thánh hiến hay tận hiến là một hành vi của con
người hay của Thiên Chúa? Mọi Kitô hữu đều
được thánh hiến trong bí tích Rửa tội, vậy
sự thánh hiến của tu sĩ có thêm ǵ mới hay không?
Ngoài ra, ư niệm thánh hiến chỉ nhấn mạnh đến
chiều kích thiêng liêng của đời tu, mà không thúc đẩy
họ tham gia vào hoạt động tông đồ.
Một
vấn đề khác mà THĐ cũng không nhất trí
được và xin Đức Giáo hoàng t́m ra câu giải
đáp khi soạn tông huấn, đó là: sự thánh hiến
của các tu sĩ có nằm trong bản chất của Giáo
hội hay không hay chỉ là con đẻ của lịch sử?
V́ đời tu chỉ xuất hiện vào thế kỷ
III, như vậy nó không nằm trong ư định của
Chúa Giêsu khi thành lập Giáo hội.
Sau khi
thảo luận, THĐ đă đúc kết thành 55 đề
nghị (Propositiones) tŕnh lên Đức Giáo hoàng để
ngài soạn thảo tông huấn, theo dàn bài sau:
- Mở
đầu (số 1- 2)
- Phần
I: Đời sống thánh hiến (số 3- 27): phần này
chủ yếu đưa ra những vấn đề về
bản chất, các h́nh thức và những yếu tố
tinh thần căn bản của đời sống thánh hiến
- Phần
II: Sự hiệp thông (số 28- 34)
- Phần
III: Sứ mệnh (số 35- 55)
Trong ba
phần này, phần I (đề nghị số 3) được
coi là quan trọng, v́ nó yêu cầu Đức Giáo hoàng xác
định bản chất thần học của đời
tu.
Từ
tài liệu làm việc (Instrumentum Laboris) đến các
đề nghị (Propositiones) và tông huấn đều
theo một cấu trúc giống nhau: thánh hiến- hiệp
thông- sứ mệnh. Ba phần này ăn khớp và bổ
túc cho nhau, giống như khi tŕnh bày và hiểu về Giáo hội.
Đây là mô h́nh về Giáo hội đă trở thành quen thuộc.
Giáo hội được tŕnh bày như là Mầu nhiệm,
hiệp thông và sứ mệnh (x. LG, chương I; AG,
chương I; CCC 748-975): chỉ có thể hiểu
được Giáo hội trong mối tương quan với
Thiên Chúa Ba Ngôi (Mystery), nguồn gốc của Giáo hội;
qua đó, Giáo hội là bí tích của sự kết hợp mật
thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất
toàn thể nhân loại (Trinitarian Communion); và như một hệ
quả, Giáo hội tham gia vào sứ mệnh cứu độ
của Thiên Chúa (Mission).
Khi nh́n
đời sống thánh hiến dưới khía cạnh Giáo
hội học này, chúng ta mới hiểu được sự
thánh hiến của đời tu, các đặc sủng, sự
đa dạng, tính năng động và sáng tạo của
đời sống này.
b. Bố
cục của Tông huấn
Ngoài phần
mở đầu nói lên sự cần thiết của đời
sống thánh hiến trong Giáo hội (số 3) và sự
đa dạng, phong phú của đời sống thánh hiến
(số 5- 12; x. số 62), tông huấn được triển
khai theo 3 phần chính: Confessio Trinitatis (thánh hiến hay
hướng thượng): số 14- 40, Signum Fraternitatis (hiệp
thông hay hướng nội): số 41- 71 và Servitium
caritatis (sứ mệnh hay hướng ngoại): số
72- 103.
Phần
I: Confessio Trinitatis (Tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi- Nguồn
gốc Kitô và Ba Ngôi của đời sống thánh hiến).
Đây là phần có nội dung thần học rất phong
phú về đời sống thánh hiến, bao gồm các chiều
kích/khía cạnh sau:
1. Kitô
(số 14- 24)
2. Ba
Ngôi (số 17- 19)
a. Trong
tương quan với Chúa Cha (số 17)
b. Trong
tương quan với Chúa Kitô (số 18)
c. Trong
tương quan với Chúa Thánh Thần (số 19)
d.
Tương quan với Thiên Chúa Ba Ngôi qua các lời khuyên Phúc
âm (số 16- 21)
3. Đức
Maria (số 23, 28, 34, 112)
4. Giáo hội
(số 3, 25, 26, 29, 32- 34)
Phần
II: Signum Fraternitatis (Dấu chỉ huynh đệ- Dấu
chỉ hiệp thông trong Giáo hội).
Sự
hiệp thông huynh đệ bắt nguồn và dựa trên
khuôn mẫu hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa (số 41,
42). Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn
là dấu chỉ rơ ràng sự hiệp thông của Giáo hội
(số 42a). Những người tận hiến là những
chuyên gia về sự hiệp thông (số 46a), trở thành
men hiệp thông truyền giáo (số 47a) và mở rộng sự
hiệp thông tới toàn thể nhân loại (số 51). Thật
vậy, “Giáo hội kư thác cho các cộng đoàn sống
đời thánh hiến một nhiệm vụ đặc
biệt: phát triển linh đạo hiệp thông trước
tiên trong chính cộng đoàn của họ, sau đó trong cộng
đồng Giáo hội và ngoài Giáo hội, bằng cách kiên
tŕ theo đuổi cuộc đối thoại bác ái, nhất
là tại những nơi mà nhân loại ngày nay đang bị
xâu xé bởi hận thù chủng tộc hay bạo lực
man rợ.” (số 51a)
Bên cạnh
kiểu mẫu Ba Ngôi, tông huấn cũng nói đến cộng
đoàn Giêrusalem nguyên thủy (Cv 2, 42- 47; 4, 32- 35) như là kiểu
mẫu của tất cả các cộng đoàn tu tŕ (số
41a).
Sự
hiệp thông được tŕnh bày dưới những cấp
độ sau:
1. Hiệp
thông huynh đệ trong cộng đoàn (số 42- 45)
2. Hiệp
thông với Giáo hội toàn cầu và địa
phương (số 46- 51)
3. Hiệp
thông giữa các ḍng tu (số 52- 53)
4. Hiệp
thông với giáo dân (số 54- 56)
Đây có
thể nói là phần “nghèo nhất” của tông huấn, v́ tựa
đề của phần này đă được diễn
giải trong các văn kiện trước đó: Mutuae
Relationes (MR): Mối tương quan giữa các Giám mục
với các tu sĩ, 1978), Vita Fraterna in Communitate (FLC):
Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, 1994)
và Potissimum Insitutioni (PI): Về việc đào tạo
tu sĩ, 1990). V́ có nhiều vấn đề phức tạp
trong phần này cũng như tông huấn muốn trả lời
những câu hỏi được ghi trong các đề nghị,
nên tông huấn đă qui chiếu vào những văn kiện
này. Để hiểu rơ hơn phần này, chúng ta cần
đọc những văn kiện trên, đặc biệt
văn kiện Vita Fraterna in Communitate. Tông
huấn cũng để ngỏ một số vấn
đề (x. số 57- 58, 59, 60- 61, 62)[1],
v́ một văn kiện không thể giải đáp
được mọi vấn đề, cũng như
không thể đưa ra được tất cả mọi
qui tắc. Đây cũng là lư do tại sao phần này
không được cấu trúc một cách mạch lạc
và ăn khớp với nhau: sự hiệp thông, việc
đào tạo, một số vấn đề của các
ḍng tu, vai tṛ của phụ nữ, v.v.
Phần
III: Servitium caritatis (Phục vụ bác ái- Biểu lộ
t́nh yêu Thiên Chúa giữa thế gian).
Người
tu sĩ được thánh hiến để thi hành sứ
vụ (số 72- 75). Vai tṛ đặc biệt của đời
sống thánh hiến trong sứ mệnh truyền giáo là dấu
chỉ/chứng tá (số 15, 25, 27, 32-35, 76, 92) và ngôn sứ
(số 84- 95). Tông huấn nói đến một số môi
trường hoạt động tông đồ sau:
1. Truyền
giáo cho lương dân (số 77- 78)
2. Hội
nhập văn hóa (số 79- 80)
3. Phục
vụ người nghèo và người bệnh (số 82-
83)
4. Giáo dục
(số 96- 97)
5. Truyền
thông xă hội (số 99)
6. Đối
thoại đại kết và liên tôn (số 100- 103)
Như
vậy đời sống thánh hiến là lời tuyên
xưng (Confessio), dấu chỉ/ chứng tá (Signum)
và sự phục vụ (Servitium). Sự hiện diện
của đời sống thánh hiến có tính cách chứng
tá, ngôn sứ và sứ mệnh. Do đó, đời sống
thánh hiến đáp ứng những nhu cầu căn bản
của thời đại chúng ta (số 85a), là một “liệu
pháp thiêng liêng” (số 87) và sự hiện diện của nó
càng cần thiết hơn bao giờ hết (số 104-
105).
Theo
ĐHY Martinez Somalo, Tổng trưởng Bộ Tu sĩ, ba
phần này đáp ứng ba khát vọng của thời
đại:
- Khát vọng
về giá trị tinh thần (hướng thượng)
- Khát vọng
về t́nh tương trợ, liên đới (hướng
nội)
- Khát vọng
về bác ái vô vị lợi (hướng ngoại)
Phần
I là phần phong phú nhất về thần học đời
tu. Nó là ch́a khóa để hiểu được toàn bộ
tông huấn: nguồn gốc Ba Ngôi của đời sống
thánh hiến (phần I) c̣n là căn bản và kiểu mẫu
của sự hiệp thông (phần II), và mọi đặc
sủng (phần III) đều hướng về Chúa Cha,
Chúa Con và Chúa Thánh Thần (số 36).
Tông huấn
trích dẫn Lumen Gentium 38 lần, trong đó chỉ có
16 lần trích từ chương VI nói về đời tu:
số 43 (1 lần), 44 (9), 46 (6), không trích các số 45 và 47. Perfectae
Caritatis được trích 14 lần: số 10 (4), số
1, 7, 8, 12, 15 (2). Như vậy, tông huấn không dựa nhiều
vào Vatican II, dù nó được coi là hoa trái chín muồi của
Vatican II. Tuy nhiên, tông huấn dựa vào và đào sâu một
số yếu tố đă có sẵn trong Lumen Gentium
như sự thánh hiến; các lời khuyên Phúc âm; các chiều
kích Kitô, Thần khí, Giáo hội, cánh chung của đời
sống thánh hiến, v.v. So sánh với Perfectae Caritatis,
tông huấn có cái nh́n mở hơn khi nói về những h́nh
thức mới của đời sống thánh hiến, nhấn
mạnh đến nguồn mạch đời sống
thiêng liêng của bất cứ sự đổi mới
nào, những chân trời mới cho các lời khuyên Phúc âm và
đời sống huynh đệ, mối quan hệ với
người giáo dân, đề cao vai tṛ và phẩm giá của
người phụ nữ, những lănh vực mới của
sứ vụ, tân Phúc âm hóa, đại kết,… Những yếu
tố này đă được nói tới trong Perfectae
Caritatis, nhưng chúng được diễn giải
trong bối cảnh của những năm 60; nay tông huấn
muốn nhấn mạnh đến sự “trung thành sáng tạo”
(số 37) để thích nghi với thế giới hiện
tại.
Dù tông
huấn đă đào sâu thần học về đời sống
thánh hiến, nhưng Đức Giáo hoàng “ước mong
công việc suy tư này vẫn c̣n được tiếp tục,
nhằm giúp hiểu sâu hơn ân huệ lớn lao của
đời sống thánh hiến trong ba chiều kích thánh hiến,
hiệp thông và sứ mệnh.” (số 13e)
2. Căn tính của đời sống thánh hiến
theo Vita Consecrata: thánh hiến và sứ mệnh
Hai chiều
kích thánh hiến và sứ mệnh được gắn chặt
với nhau, bổ túc cho nhau. Sự thánh hiến bao hàm sứ
mệnh, v́ việc trở nên đồng h́nh đồng dạng
với Chúa Kitô cũng có nghĩa là tham gia vào sứ mệnh
của Ngài. Và sứ mệnh lại dẫn đến thánh
hiến, v́ việc truyền giáo của đời sống
thánh hiến thiết yếu ở chứng tá của chính sự
tận hiến (số 76). Chứng tá quan trọng nhất
của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện
(số 32 - 35).
a.
Thánh hiến (Phần I: số 14- 40)
Ngay số
đầu tiên của phần I này, tông huấn đă cho thấy
sự khác biệt giữa sự thánh hiến của phép Rửa
và sự thánh hiến của đời tu. Sự thánh hiến
của đời tu không phải là hệ quả tất yếu
của sự thánh hiến của phép Rửa; v́ để
bước theo Chúa Kitô, họa lại nếp sống của
Ngài, cần phải có một ơn gọi đặc biệt
và nhờ một ân huệ đặc biệt của
Chúa Thánh Thần. Ơn gọi bao hàm sự tuyển chọn
và thánh hiến (số 14, 17, 30, 31). Ân huệ này Thiên Chúa
không ban cho tất cả mọi người, như chính
Chúa Giêsu đă nói trong trường hợp độc thân tự
nguyện (x. Mt 19, 10- 12). Bí tích Rửa tội không bao hàm một
ơn gọi sống độc thân, sự từ bỏ của
cải và sự vâng lời một bề trên, như trong bậc
sống tu tŕ (số 30b). Mọi tín hữu đều
được thánh hiến qua phép Rửa và Thêm sức, những
người lănh tác vụ do bí tích Truyền chức và trong
đời sống tu tŕ “giả thiết một ơn gọi
riêng và một h́nh thái thánh hiến đặc biệt,
nhằm chu toàn một sứ mệnh riêng… Những người
tận hiến tuyên giữ những lời khuyên Phúc âm,
được thánh hiến một cách mới mẻ và
đặc biệt, dù không phải là bí tích, nhưng ràng
buộc họ chấp nhận lối sống độc
thân, khó nghèo và vâng phục mà chính Chúa Giêsu đă sống và
đề nghị cho các môn đệ.” (số 31) “Trong truyền
thống Giáo hội, việc tuyên khấn của đời
sống tu tŕ được xem như việc đào sâu
độc đáo và phong phú sự thánh hiến đă lănh nhận
trong phép Thánh Tẩy. Nhờ việc tuyên khấn ấy, sự
kết hợp thâm sâu với Chúa Kitô đă khai mào trong phép
Thánh Tẩy, được triển nở thành một hồng
ân trở nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài
một cách rơ rệt và trọn vẹn hơn nhờ tuyên giữ
các lời khuyên Phúc âm… Việc tuyên giữ các lời khuyên
Phúc âm cũng là việc triển khai ân sủng của bí
tích Thêm sức, nhưng nó vượt quá những đ̣i hỏi
thông thường của việc thánh hiến nhận trong
bí tích này. V́ vậy, cần có một ơn đặc biệt
của Chúa Thánh Thần để phát triển những khả
năng mới, sản sinh những hoa trái thánh thiện và
tông đồ như lịch sử đời sống thánh
hiến đă chứng tỏ.” (số 30). Ba bậc sống
trong Hội thánh tuy có cách thể hiện khác nhau, nhưng
đều là công tŕnh của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần
tạo nên sự đa dạng và chính Ngài cũng làm cho Hội
thánh trở thành một mối hiệp thông giữa các
ơn gọi, đặc sủng và thừa tác vụ (số
31) “Dù ba bậc sống khác nhau, đều biểu lộ mầu
nhiệm duy nhất của Chúa Kitô. Giáo dân có đặc tính
riêng biệt, tuy không độc hữu, là sinh hoạt trần
thế; các chủ chăn có trách nhiệm về tác vụ; c̣n
những người tận hiến th́ cố gắng trở
nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô khiết
tịnh, khó nghèo và vâng phục.” (số 31; x. số 32)
Nhưng
tại sao đời sống thánh hiến không phải là bí
tích như các bậc sống khác? Đây là vấn đề
đă và vẫn đang được bàn căi. Chúng ta có thể
trả lời rằng không cần thiết để có
thêm một bí tích nữa, v́ đời sống thánh hiến
là một lối sống theo Thần khí để đào
sâu thêm, sống triệt để ba bí tích đă có sẵn:
các bí tích khai tâm Kitô giáo. Đây là ơn gọi đặc biệt
và sứ mệnh của họ giữa dân Thiên Chúa. Thật
vậy, đời sống thánh hiến làm nổi bật sự
thánh hiến của Kitô hữu (bí tích Rửa tội), sự
hiệp thông[2]
(bí tích Thánh Thể) và sứ mệnh (bí tích Thêm
sức) (số 31b), khi bước theo Chúa Kitô trinh khiết,
khó nghèo và vâng phục (số 1a). V́ thế, tông huấn
đă khai triển ba phần chính: thánh hiến, hiệp
thông và sứ mệnh, để nhấn mạnh đến
ư nghĩa cũng như nội dung của chúng. Qua đó,
đời sống thánh hiến “biểu lộ rơ ràng bản
tính sâu xa của ơn gọi Kitô giáo”, “gắn chặt với
nếp sống, sự thánh thiện và sứ mệnh của
Giáo hội” (số 3a), “nhắc nhở cho những người
đă được rửa tội về các giá trị
cơ bản của Tin mừng” (số 33a).
Vatican
II xây dựng thần học về đời tu trên nền
tảng Kitô học: đời tu là sự hiệp thông với
Chúa Kitô, bắt chước Ngài qua việc tuân giữ các lời
khuyên Phúc âm. Tông huấn đă đánh dấu một bước
tiến mới trong thần học về đời tu khi
lấy lại ư niệm “bước theo Chúa Kitô” (số 15,
18) của công đồng và mở rộng đến
tương quan với Ba Ngôi. Nói cách khác, tông huấn đào
sâu về nguồn gốc Kitô và Ba ngôi của đời sống
thánh hiến. Tông huấn khai triển những chiều kích
sau:
- Kitô
(số 14- 24)
Theo truyền
thống Latinh, đời tu được xem như là một
đời sống tu thân khắc kỷ, bỏ ḿnh, vác thập
giá theo Chúa; nhưng truyền thống Đông phương lại
chú trọng đến sự “biến h́nh”, biến đổi
từ con người trần tục sang con người
thánh thiêng khi bước theo Chúa. Mối phúc đối với
người phương Đông là sự chiêm niệm: “Phúc
thay ai có tâm hồn trong sạch, v́ họ sẽ được
nh́n thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8); c̣n đối với người
phương Tây là “phúc thay ai xót thương người, v́
họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5,
7) Đức Gioan Phaolô II đă dung ḥa hai cái nh́n trên khi
sử dụng khung cảnh Chúa Giêsu biến h́nh trên núi (Mt
17, 1- 9) làm sườn cho cả văn kiện (số 14-
16): chủ đề thập giá và vinh quang liên kết với
nhau trong mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô. Con
đường tu đức không chỉ là con đường
khổ chế, mà c̣n được coi như là cuộc
đi t́m cái đẹp. Người tận hiến trải
qua kinh nghiệm của ngôn sứ Giêrêmia: “Lạy Chúa, Ngài
đă quyến rũ con, và con để cho Ngài quyến rũ”
(Gr 20, 7) (số 19). Người tu sĩ bị thu hút bởi
vẻ đẹp của Chúa, say mê chiêm ngưỡng Chúa, ở
kề bên Chúa, đàm đạo với Ngài, để rồi
phản chiếu dung nhan rạng ngời của Ngài (số
27). Sau khi chiêm ngắm Chúa biến h́nh, các môn đệ c̣n
phải trèo lên núi Sọ (số 14, 40). Giống như Chúa
Giêsu, họ cần phải qua núi Sọ để bước
vào vinh quang khải hoàn. Thật vậy, đời sống
thánh hiến phải được coi như là một cuộc
“biến h́nh,” bước theo Chúa Kitô khiết tịnh, khó
nghèo và vâng lời (số 14, 16, 18, 22), trở nên “đồng
h́nh đồng dạng” với Chúa Kitô (số 16) và tham dự
vào mầu nhiệm thập giá và phục sinh của Ngài (số
23- 24).
Tuy khung
cảnh “biến h́nh” thích hợp với phương
Đông hơn là phương Tây, nhưng tông huấn đă
kết hợp Đông- Tây, hai lá phổi của Giáo hội,
một cách rất hài ḥa và sinh động: phương
Đông “lên núi”, chiêm ngắm để hưởng vinh quang
với Chúa; c̣n phương Tây “xuống núi”, trở về
với thực tại cuộc sống và “phục vụ”,
can đảm dấn bước trên con đường thập
giá (số 14c). Sự khác biệt giữa Đông và Tây tạo
nên sự phong phú cho Giáo hội.
Tóm lại,
tông huấn tŕnh bày thần học về đời sống
thánh hiến với tất cả vẻ đẹp của
nó trong khung cảnh Chúa Giêsu biến h́nh trên núi; đồng
thời, việc chiêm ngắm dung mạo Chúa Kitô biến
h́nh giúp người tận hiến cố gắng trở
nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô, t́m
cách diễn lại nơi chính ḿnh, chừng nào có thể, “nếp
sống Con Thiên Chúa đă chọn khi Ngài xuống thế” (số
16), để mọi người có thể nhận thấy
Chúa Kitô nơi khuôn mặt và cuộc sống của họ
(một cuộc sống “biến h́nh”). Tông huấn tô đậm
chiều kích Kitô của đời sống thánh hiến,
nhưng chiều kích Kitô này là một chiều kích Kitô Ba Ngôi
như chúng ta thấy dưới đây
- Ba
Ngôi (số 17- 19)
Khía cạnh
Ba Ngôi của đời sống thánh hiến được
tông huấn triển khai khi nói về nguồn gốc của
sự thánh hiến (số 17- 19), các lời khuyên Phúc âm (số
20- 21), đoàn sủng (số 36), hiệp thông cộng
đoàn (số 41), huấn luyện (số 66), sứ mệnh
(số 72), và kinh nguyện dâng lên Ba Ngôi (số 111).
Việc
trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa
Kitô đương nhiên bao hàm tương quan với Ba Ngôi
Thiên Chúa, v́ Chúa Kitô đă sống trọn t́nh con thảo với
Chúa Cha. Thật vậy, ngay từ đầu, tông huấn
đă xác định nguồn gốc Ba Ngôi của đời
sống thánh hiến: “Đời sống thánh hiến, bén rễ
sâu trong gương mẫu và giáo huấn của Chúa Kitô, là
một ân huệ của Thiên Chúa Cha ban cho Giáo hội qua Chúa
Thánh Thần… Trải qua các thời đại, luôn có những
người sẵn sàng nghe theo tiếng gọi của Chúa
Cha, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần,
đă chọn con đường đặc biệt để
bước theo Chúa Kitô.” (số 1) Đời sống
thánh hiến hiện hữu không chỉ nhờ Ba Ngôi, mà c̣n
v́ Ba Ngôi và cho Ba Ngôi. Ba Ngôi chính là nguồn gốc, cùng
đích và kiểu mẫu của đời sống thánh hiến.
Thật vậy, Ba Ngôi hiện diện trong tất cả nội
dung nền tảng của đời sống thánh hiến:
các lời khuyên Phúc âm (số 20- 21), đời sống cộng
đoàn (số 41, 42, 72) và sứ mệnh (số 22, 72, 75);
trong hành tŕnh của đời sống tu: ơn gọi (số
17), “bước theo Chúa Kitô” (số 18) và thánh hiến (số
19); và trong những đặc tính của các đặc sủng
(số 36). Do vậy, đời sống thánh hiến trở
thành việc tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi (Confessio Trinitatis)
(số 16d), việc tuyên xưng và dấu chỉ của
Thiên Chúa Ba Ngôi (số 21f, 20b).
Sự
kêu gọi và thánh hiến là do sáng kiến của Chúa Cha.
Ngài tách riêng một ai đó cho Ngài (số 17). Bước
theo Chúa Kitô, được thánh hiến nhờ tuyên giữ
các lời khuyên Phúc âm, trở nên đồng h́nh đồng
dạng với Ngài. Ngài là con đường dẫn tới
Chúa Cha và sứ mệnh (số 18). Các đặc sủng, sự
thánh hiến và sứ mệnh là công việc của Chúa Thánh
Thần (số 19). Có thể tóm tắt nguồn gốc Ba
Ngôi của đời sống thánh hiến như sau: sáng kiến
ban đầu phát xuất từ Chúa Cha (số 17), sự
đáp trả qua việc bước theo Chúa Kitô (số 18)
và được thánh hiến bởi Chúa Thánh Thần (số
19):
+ Trong
tương quan với Thiên Chúa Cha (số 17): Sự thánh hiến
là một hồng ân, hoàn toàn do sáng kiến phát xuất từ
t́nh yêu của Thiên Chúa Cha (x. Ga 15, 16). Chính Ngài đă tuyển
chọn và thánh hiến. Ngài mời gọi con người
tiến lên trên đường trọn lành qua việc
bước theo Chúa Kitô, vâng nghe lời Con yêu dấu của
Ngài (x. Mt 17, 5). Để đáp trả tiếng gọi t́nh
yêu huyền nhiệm đó, con người muốn dâng hiến
toàn thân cho Ngài và cho chương tŕnh cứu độ của
Ngài (x. 1Cr 7, 32- 34). Sự tận hiến diễn ra trong
khung cảnh của một giao ước t́nh yêu.
+ Trong
tương quan với Chúa Kitô (số 18): Chúa Kitô là con
đường dẫn tới Chúa Cha (x. Ga 15, 16). Chúa Kitô
kêu gọi một số người bước theo Ngài, họa
lại nếp sống của Ngài, trở nên đồng
h́nh đồng dạng với Ngài qua việc sống triệt
để các lời khuyên Phúc âm, hoàn toàn hiến thân để
phụng sự Thiên Chúa và tha nhân.
+ Trong
tương quan với Chúa Thánh Thần (số 19): Trong khung
cảnh biến h́nh (x. Mt 17, 5), đám mây là h́nh ảnh của
Chúa Thánh Thần. Đời sống thánh hiến là một
ân huệ do Chúa Thánh Thần, nguồn gốc của mọi
đặc sủng, khơi gợi lên. Chính Ngài gợi lên
nguyện ước đáp trả trọn vẹn, làm cho họ
nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô khiết
tịnh, khó nghèo và vâng phục, thúc đẩy họ đảm
nhận sứ mạng của Chúa Kitô.
+
Tương quan với Ba Ngôi qua các lời khuyên Phúc âm (số
16- 21):
* Ba lời
khuyên Phúc âm họa lại nếp sống của Chúa Kitô (số
18; x. 14a, 16c, 22ab, 29c, 31d, 111c).
* Giá trị
phong phú của các lời khuyên Phúc âm được đặt
trong mối tương quan với Chúa Cha (giá trị tuyên
xưng Chúa Kitô) (số 16c): sự khiết tịnh bắt
chước t́nh yêu thanh khiết của Chúa Kitô và tuyên
xưng Ngài là Con Một, đồng nhất với Chúa Cha
(x. Ga 10, 30; 14, 11); sự khó nghèo tuyên xưng Chúa Kitô là Con,
lănh nhận mọi sự từ Chúa Cha và dâng mọi sự
lại cho Chúa Cha v́ yêu thương (x. Ga 17, 7. 10); sự vâng
phục tuyên xưng Chúa Kitô là Con rất yêu dấu của
Chúa Cha, luôn vui thích thi hành ư muốn của Chúa Cha (x. Ga 4,
34).
“Do việc
trở nên đồng h́nh đồng dạng với mầu
nhiệm Chúa Kitô như thế, đời sống thánh hiến
thực hiện với một tư cách đặc biệt
việc tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, đặc tính của mọi
đời sống Kitô hữu: nhận biết với ḷng
kính phục vẻ đẹp tuyệt vời của Chúa
Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cùng hoan hỉ làm chứng về
sự quan tâm yêu thương của Thiên Chúa dành cho mọi
người.” (số 16d)
* Ba lời
khuyên Phúc âm là một ân huệ của Thiên Chúa Ba Ngôi (số
20a). “Đời sống thánh hiến trở thành một
trong những dấu ấn hữu h́nh mà Thiên Chúa Ba Ngôi
để lại trong lịch sử, hầu mọi người
có thể nhận ra được sức hấp dẫn
mê hoặc của vẻ đẹp thần linh.” (số
20b)
* Ba lời
khuyên Phúc âm biểu lộ t́nh yêu của Chúa Con đối với
Chúa Cha trong sự hợp nhất với Chúa Thánh Thần.
Khi thực hiện các lời khuyên này, người
được thánh hiến sống một cách hết sức
sinh động đặc tính Ba ngôi và Kitô, là dấu ấn
của toàn thể đời sống Kitô hữu (số
21):
“Sự
khiết tịnh biểu lộ sự dâng hiến một
con tim không chia sẻ cho Thiên Chúa[3]
(x. 1Cr 7, 32- 34), phản ánh t́nh yêu liên kết Ba Ngôi Thiên Chúa
trong đời sống sâu thẳm nhiệm mầu của
Ba Ngôi, t́nh yêu mà Ngôi Lời Nhập Thể làm chứng cho
đến hy sinh mạng sống, t́nh yêu được
Chúa Thánh Thần ‘đổ tràn vào ḷng chúng ta’ (Rm 5, 5) và thúc
giục chúng ta đáp trả bằng t́nh yêu trọn vẹn
dành cho Thiên Chúa và cho anh chị em.” (số 21b; x. số 22b)
“Sự
khó nghèo tuyên xưng Thiên Chúa là kho tàng đích thực duy nhất
của con người. Noi gương Chúa Kitô, ‘Người
vốn giàu sang phú quư, nhưng đă tự ư trở nên nghèo
khó’ (2Cr 8, 9), sự nghèo khó trở thành một cách diễn tả
sự dâng hiến toàn thân như Ba Ngôi Thiên Chúa trao ban trọn
vẹn cho nhau. Sự trao ban dạt dào ấy trào ra trong công
cuộc sáng tạo và biểu lộ cách sung măn trong sự
Nhập thể của Ngôi Lời và trong cái chết cứu
chuộc của Người.” (số 21c)
Sự
vâng phục, noi gương Chúa Kitô, lấy thánh ư Chúa Cha làm
lương thực (x. Ga 4, 34), tuyên xưng t́nh yêu ḥa hợp
của Ba Ngôi Thiên Chúa, biểu lộ một sự vâng phục
hiếu thảo chứ không phải nô lệ (số 21d; x.
số 22b; 16c)
“Bởi
đó, đời sống thánh hiến được mời
gọi không ngừng đào sâu ân huệ của các lời
khuyên Phúc âm, bằng một t́nh yêu ngày càng chân thành và mănh liệt
hơn trong chiều kích Ba Ngôi: t́nh yêu của Chúa Kitô, mời
gọi sống thân mật với Ngài; t́nh yêu của Chúa
Thánh Thần, chuẩn bị tâm hồn đón nhận những
linh hứng của Ngài; t́nh yêu của Chúa Cha, nguồn mạch
đầu tiên và mục tiêu tối thượng của
đời sống thánh hiến. Như thế, đời
sống thánh hiến trở nên lời tuyên xưng và dấu
chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa, mầu nhiệm được
tỏ bày cho Giáo hội như mẫu mực và nguồn mạch
của mọi h́nh thức đời sống Kitô hữu.”
(số 21e)
Không phải
ngẫu nhiên khi tông huấn đặt đời sống
huynh đệ trong cộng đoàn nằm ngay sau ba lời
khuyên Phúc âm trong số 21[4]
này (số 21f), v́ một số tác giả ngày nay coi đời
sống huynh đệ như là “lời khuyên Phúc âm thứ
tư”. Ngoài ra, tông huấn c̣n nối kết ba lời khuyên
Phúc âm với đời sống huynh đệ trong các số
72d, 85a, và 88-92. Thật vậy, giống như ba lời
khuyên Phúc âm, đời sống huynh đệ cũng có giá
trị tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi: đời sống huynh
đệ tuyên xưng Chúa Cha, Đấng muốn cho mọi
người thành một gia đ́nh duy nhất; tuyên xưng
Chúa Con Nhập Thể, Đấng muốn qui tụ những
người được cứu chuộc; tuyên xưng
Chúa Thánh Thần là nguyên lư hiệp nhất trong Giáo hội
(số 21f).
Các lời
khuyên Phúc âm được tông huấn tŕnh bày như là cốt
lơi của đời sống thánh hiến. Tông huấn không
triển khai những khía cạnh bên ngoài như pháp lư, khổ
hạnh, luân lư,…, thường được nói đến
trong các văn kiện trước đấy (x. LG 39, 42;
CCC 915); nhưng đào sâu về thần học: chiều
kích thần bí (Kitô và Ba Ngôi) của ba lời khuyên Phúc âm. Mọi
sự biểu lộ ra bên ngoài của các lời khuyên Phúc
âm đều phải là kết quả của sự kết
hợp thâm sâu bên trong này. Các lời khuyên Phúc âm không nên hiểu
và sống như những phương tiện để
thanh luyện hoặc khổ chế, nhưng như là kinh
nghiệm, sự biến đổi và hậu quả của
“ước muốn được hoàn toàn trở nên đồng
h́nh đồng dạng với Chúa Kitô” (số 18c), “trở
nên một với Ngài, mặc lấy tâm t́nh và nếp sống
của Ngài.” (18b) Chiều kích thần bí này đă
được nói đến trong một số văn kiện
trước đó (x. EE 14, 15; RD 7b; PI 12), nhưng tông huấn
đă mở rộng và làm phong phú thêm.
Tóm lại,
Chúa Kitô là “Tảng đá góc” (Ep 2, 20), nhưng đó là Kitô Ba
Ngôi. Bên cạnh đó, tông huấn qui chiếu về Chúa
Thánh Thần hơn 100 lần và Chúa Cha hầu như
được nói đến trong khắp tông huấn.
Đây cũng là một sự tổng hợp Đông- Tây của
tông huấn: Đông có khuynh hướng thiên về chiều
kích Ba Ngôi và Tây lại chú trọng đến việc bước
theo Chúa Kitô.
-
Đức Maria (số 23, 28, 34, 112)
Tông huấn
tŕnh bày Đức Maria như là mẫu gương của
đời sống thánh hiến:
+ Mẫu
gương tuyệt vời của việc thánh hiến
hoàn hảo, v́ Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và
hiến thân trọn vẹn cho Ngài (số 28)
+ Mẫu
gương trong việc bước theo Chúa Kitô (số 28)
+ Mẫu
gương trong việc thông dự vào mầu nhiệm
Vượt Qua: can trường trước thử thách khi
đứng gần thập giá Chúa Giêsu (x. Ga 19, 25- 27) (số
23)
+ Mẫu
gương của một t́nh yêu phong nhiêu đặc biệt,
góp phần vào việc sinh ra và tăng triển sự sống
thần linh trong các tâm hồn (số 34).
Ngoài ra,
Đức Maria c̣n là Mẹ của các người tận
hiến, cầu bầu cho họ trung thành với ơn gọi
và trợ giúp họ rất hữu hiệu để tiến
tới trong việc đáp trả và sống sung măn ơn gọi
của ḿnh. V́ thế, tông huấn kết thúc với lời
khẩn cầu Đức Trinh nữ Maria (số 112).
- Giáo
hội (số 3, 25, 26, 29, 32- 34)
Đời
sống thánh hiến nằm trong bản chất thánh thiện
của Giáo hội. Giáo hội có sứ mệnh chuyển
thông Chúa Kitô cho nhân loại: không chỉ thông truyền những
lời giảng, nhưng c̣n cả nếp sống của
Ngài nữa. Do đó, đời sống thánh hiến, xét
theo bản tính (họa lại nếp sống của Chúa
Kitô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục), gắn chặt với
đời sống và sự thánh thiện của Giáo hội
(số 3, 29), thuộc về cơ cấu thần thiêng của
Giáo hội (số 30- 31). Đời sống thánh hiến họa
lại nếp sống của Chúa Kitô trinh sạch, khó nghèo
và vâng phục- nếp sống biểu lộ t́nh con thảo
của Ngài với Chúa Cha (số 1a, 16, 18, 21...), nên nó có vị
trí ưu việt trong Hội thánh, là một ân huệ qúi
báu và cần thiết cho hiện tại và tương lai của
dân Thiên Chúa (số 3, 18, 32, x. 105). Giáo hội cần họ
để họa lại nếp sống của Con Thiên
Chúa. Sứ mệnh của đời sống thánh hiến
là làm chứng bằng chính đời sống thánh thiện
(số 32- 35). Thêm vào đó, đời sống thánh hiến
c̣n biểu lộ mối t́nh duy nhất của Giáo hội
dành cho Đức Lang Quân (số 3, 34). Như thế, đời
sống thánh hiến gắn liền với sứ mệnh
(số 1, 25) và cánh chung của toàn thể Giáo hội (số
26).
Tông huấn
khẳng định một cách rơ ràng tầm quan trọng
và sự cần thiết của đời sống thánh hiến
đối với Giáo hội (số 3, 6, 18,29, 32, 105). Mặc
dù tông huấn cũng coi tất cả mọi Kitô hữu
đều b́nh đẳng như nhau, cùng có chung một phẩm
giá, cùng được kêu gọi nên thánh (số 31b, 18b) và mỗi
người đều làm phong phú người khác (số
33b), nhưng tông huấn cho thấy vị trí trổi vượt
của đời sống thánh hiến, v́ người
được thánh hiến sống triệt để nếp
sống mà Chúa Giêsu đă sống khi được Chúa Cha
sai đến thế gian.
b.
Đặc sủng / Sứ mệnh (số 72- 103)
Sứ
mệnh của đời sống thánh hiến (phần
III) được xem như là sự phục vụ bác ái (Servitium
caritatis). Biểu tượng chính ở đây là Chúa
Giêsu rửa chân cho các môn đệ của Ngài (số 75). Phần
này là sự kết hợp giữa thần học và mục
vụ.
Chủ
đề “biến h́nh” trong tông huấn không những
được nối kết với việc say mê chiêm
ngưỡng dung nhan rạng ngời của Chúa, mà c̣n liên hệ
tới sứ mệnh truyền giáo nữa. Sau khi chiêm ngắm
Chúa biến h́nh, các môn đệ được mời gọi
xuống núi để phục vụ (số 75). Ngay tựa
đề của phần này, “Phục vụ bác ái- Biểu
lộ t́nh yêu Thiên Chúa giữa thế gian”, đă cho thấy
tông huấn không chỉ đào sâu về thánh hiến,
nhưng c̣n nhấn mạnh đến sứ mệnh của
đời sống này trong thế giới nữa.
Đặc
sủng luôn gắn liền với sứ mệnh truyền
giáo. Đặc sủng của đời sống thánh hiến
nói chung và của mỗi hội ḍng (nhận được
qua đấng sáng lập) là ân huệ của Chúa Thánh Thần
(số 1, 5, 19, 25, 32, 36, 48). Chúa Thánh Thần là nguồn gốc
mọi ơn gọi tận hiến, nên cần phải
trung thành sáng tạo với đặc sủng/đoàn sủng
(số 36, 37, 73, 74), khi canh tân việc huấn luyện (số
65, 68, 71, 80), sống linh đạo (số 37, 93) và hoạt
động tông đồ (số 48, 63, 72).
Tông huấn
tŕnh bày đặc sủng trong mối quan hệ với
Thiên Chúa Ba Ngôi: “Mọi đặc sủng đều bao hàm
ba định hướng: trước tiên, hướng về
Chúa Cha, với ḷng con thảo muốn t́m kiếm thánh ư Cha
trong sự hoán cải liên tục, nơi mà sự vâng phục
là nguồn mạch tự do đích thực, sự khiết
tịnh biểu lộ niềm thao thức của một
con tim không thể thỏa măn bởi bất cứ t́nh yêu hữu
hạn nào, sự khó nghèo nuôi dưỡng ḷng đói khát công
chính mà Thiên Chúa đă hứa ban cho thỏa ḷng (x. Mt 5, 6).
Trong viễn tượng này, đặc sủng của bất
cứ hội ḍng nào cũng thôi thúc người được
thánh hiến thuộc trọn về Chúa… Các đặc sủng
của đời sống thánh hiến cũng hướng
về Chúa Con: các đặc sủng mời gọi duy tŕ một
sự hiệp thông với Ngài trong đời sống thân mật
vui tươi, noi gương Ngài quảng đại phụng
sự Thiên Chúa và phục vụ anh chị em… Sau cùng, bất
cứ đặc sủng nào cũng hướng về Chúa
Thánh Thần, v́ mọi đặc sủng đều mời
gọi con người hăy để cho Chúa Thánh Thần
hướng dẫn và nâng đỡ trên con đường
thiêng liêng riêng biệt, cũng như trong đời sống
hiệp thông và hoạt động tông đồ… Thật vậy,
chính trong mối tương quan ba chiều này mà những
đặc sủng sáng lập ḍng xuất hiện, dù dưới
những nét riêng biệt của các h́nh thức sống khác
nhau, bởi v́ đặc sủng nào cũng nổi bật
niềm khát vọng sâu xa của tâm hồn muốn
được trở nên đồng h́nh đồng dạng
với Chúa Kitô, để làm chứng về một khía cạnh
nào đó thuộc mầu nhiệm của Ngài. Khía cạnh
đó được cụ thể hóa và phát triển trong
truyền thống trung thực nhất của hội ḍng,
phù hợp với quy luật và hiến pháp.” (số 36)
Đời
sống thánh hiến được đặt ở ngay
trung tâm của Hội thánh như là một yếu tố
quyết định cho sứ mệnh của Hội thánh.
Chính Thần khí thúc đẩy họ đảm nhận sứ
mệnh của Chúa Kitô. Thật vậy, ư thức về
truyền giáo thấm sâu vào tận huyết mạch của
mọi h́nh thức tu tŕ. Nó bao trùm mọi khía cạnh của
đời sống họ. Sự thánh hiến luôn ẩn chứa
một sứ mệnh và đặc sủng luôn gắn liền
với sứ mệnh đặc biệt của mỗi hội
ḍng. Bởi vậy, việc truyền giáo là điều cốt
yếu đối với mọi hội ḍng, cả những
hội ḍng chuyên lo làm việc tông đồ, lẫn những
hội ḍng sống đời chiêm niệm. Ư thức truyền
giáo luôn là ưu tiên số một của mọi h́nh thức
tu tŕ (số 19, 25, 72).
Sứ
mệnh truyền giáo của đời sống thánh hiến
được tông huấn đề cập ở phần
III này (32 số, nhiều hơn các phần khác), nhưng phần
I (27 số) và II (31 số) cũng được liên kết
với sứ mệnh truyền giáo: thánh hiến bao hàm sứ
mệnh truyền giáo (số 14, 18, 19, 21, 22, 25, 27,…) và sự
hiệp thông dẫn đến sứ mệnh và chính nó trở
thành sứ mệnh truyền giáo (số 46, 47, 51,…). Thánh hiến
và sứ mệnh không thể tách rời. Cả hai trở
nên một trong sự hiệp thông: sống sự hiệp
thông sâu xa là truyền giáo (số 46a). Chính ở đây mà
đời sống thánh hiến biểu lộ t́nh yêu Thiên
Chúa trong thế giới.
Theo tông
huấn, sứ mệnh truyền giáo của đời sống
thánh hiến bao gồm ba yếu tố: thánh hiến, đời
sống cộng đoàn và sứ mệnh đặc biệt
của mỗi hội ḍng (số 72, 25). Qua số 72, chúng ta
thấy mọi sự đều liên quan đến sứ
mệnh: việc bắt chước Chúa Kitô, trở nên
đồng h́nh đồng dạng với Ngài, chứng tá
cộng đoàn và cá nhân, ơn gọi, đặc sủng,
các lời khuyên Phúc âm, đời sống huynh đệ
trong cộng đoàn, những hoạt động đặc
biệt của mỗi hội ḍng,… Tất cả đều
được nối kết với sứ mệnh. Không một
khía cạnh nào có thể được hiểu và sống
riêng rẽ được.
Phản
ánh đời sống Ba ngôi trong các lời khuyên Phúc âm, họa
lại nếp sống của Chúa Kitô đă là một sự
truyền giáo rồi. Bên cạnh đó, đời sống
huynh đệ loan báo rằng nước Thiên Chúa đă hiện
diện trên trần gian rồi (số 21, 22c, 73, 85a,...). Mỗi
hội ḍng c̣n có một sứ mệnh truyền giáo riêng biệt,
tùy theo đặc sủng của ḿnh (số 72, x. 46a)…
“Người
tận hiến càng sống một đời hoàn toàn hiến
dâng cho Chúa Cha (x. Lc 2, 49; Ga 4, 34), được Chúa Con chiếm
hữu (x. Ga 15, 16; Gl 1, 15- 16), được tác động
bởi Chúa Thánh Thần (x. Lc 24, 49; Cv 1, 8; 2, 4), th́ càng cộng
tác hữu hiệu vào sứ mệnh của Chúa Kitô (x. Ga 20,
21) và góp phần đặc biệt vào việc canh tân thế
giới.” (số 25) Những người tận hiến
luôn phải nuôi dưỡng ngọn lửa nhiệt thành
truyền giáo. Họ cần “làm cho Chúa Kitô khiết tịnh,
khó nghèo, vâng phục, đang cầu nguyện cũng như
đang rao giảng về nước Thiên Chúa, được
hiện diện ngay cả giữa những người
không phải là Kitô hữu.” (số 77).
Việc
họa lại nếp sống của Chúa Kitô
đương nhiên kèm theo việc họa lại trót tâm
t́nh của Ngài, tận hiến hoàn toàn cho việc phục vụ
nước Thiên Chúa. Giống như Chúa Giêsu, Người
được Cha thánh hiến và sai đến thế gian
(x. Ga 10, 36), những người được Thiên Chúa
kêu gọi, cũng được thánh hiến và sai đến
thế gian để noi gương Người và tiếp
tục sứ mệnh của Người (số 3, 18, 22,
25, 27, 72- 75.
“T́nh yêu
Chúa Kitô thúc bách chúng ta” ( 2 Cr 5, 14): những người
được thánh hiến cần lập lại lời
xác quyết này với thánh Phaolô, bởi v́ sứ mệnh của
họ là hoạt động khắp nơi trên trái đất
để củng cố và mở rộng nước của
Chúa Kitô, rao giảng Tin mừng ở khắp mọi
nơi, cả những nơi xa xôi hẻo lánh nhất.” (số
78).
Tông huấn
lược qua một số môi trường hoạt động
tông đồ truyền thống, nhưng cũng đang gây
ra những thách đố cho tu sĩ ngày nay, như việc
truyền giáo cho lương dân (số 77- 78), việc hội
nhập văn hóa (số 79- 80), phục vụ người
nghèo và người bệnh (số 82- 83), giáo dục (số
96- 97), truyền thông xă hội (số 99), đối thoại
đại kết và liên tôn (số 100- 103).
Cách
đặc biệt, đời sống thánh hiến phải
trở thành dấu chỉ/chứng tá (số 15, 25, 27, 32-35,
76, 85, 92, 104- 105) và ngôn sứ (số 33a, 39, 84- 95) trong thế
giới hôm nay.
- Dấu
chỉ/chứng tá
Việc
truyền giáo của đời sống thánh hiến thiết
yếu ở chứng tá của chính sự tận hiến
của họ (số 76). Chứng tá quan trọng nhất của
đời sống thánh hiến là sự thánh thiện (số
32 - 35). Chứng tá của t́nh yêu thánh hiến hệ tại
ở việc sống thân mật với Thiên Chúa, cảm
nghiệm được t́nh yêu sâu thẳm của Ngài và cố
gắng đáp lại t́nh yêu đó bằng đời sống
noi gương Chúa Kitô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục một
cách triệt để. Việc họa lại nếp sống
của Chúa Kitô làm cho Chúa Kitô luôn sống động trong cuộc
sống.
Nền
văn hóa hiện nay thường dễ bị tục hóa,
nhưng lại rất dễ nhạy cảm với ngôn ngữ
của các dấu chỉ (số 25). Việc tuyên giữ các
lời khuyên Phúc âm biến những người tận hiến
trở thành dấu chỉ ngôn sứ cho cộng đoàn
anh/chị em họ và cho thế gian (số 15). Nhờ
đoàn sủng của họ, những người tận
hiến trở thành dấu chỉ của Thánh Thần
hướng về một tương lai mới mẻ
trong niềm tin và hy vọng. Sự mong đợi cánh chung
này trở thành sứ mệnh để cho triều đại
nước Thiên Chúa có thể hiện diện ngay từ bây
giờ, qua việc thiết lập tinh thần các mối
phúc, có khả năng khơi lên trong xă hội loài người
ḷng khát khao đích thực về công bằng, ḥa b́nh, t́nh
liên đới và sự khoan dung (số 27). Bên cạnh
đó, đời sống cộng đoàn[5]
là một dấu chỉ của mối dây liên kết, dấu
chỉ sáng ngời của t́nh phụ tử duy nhất
đến từ Thiên Chúa, của t́nh huynh đệ phát xuất
từ Thánh Thần (số 92).
- Ngôn
sứ
Sự
liên kết với người nghèo và người bị áp
bức đă dẫn Chúa Giêsu đến chỗ đối
đầu với những người có quyền thế.
Tính cách ngôn sứ của đời sống thánh hiến
“tham gia đặc biệt vào chức vụ ngôn sứ của
Chúa Kitô” và nó “gắn liền với đời sống
thánh hiến, v́ nó đ̣i buộc phải triệt để
theo Chúa Kitô.” Công đồng coi đời sống thánh hiến
như là dấu chỉ, “một dấu chỉ có tính ngôn sứ
về vị thế trổi vượt của Thiên Chúa và
của những giá trị Tin mừng trong đời sống
Kitô hữu. Chính do vị thế trổi vượt này,
không có ǵ đáng kể hơn là mối t́nh dành riêng cho Chúa
Kitô và cho những người nghèo, v́ lẽ Chúa Kitô đang
sống nơi họ.” (số 84) Người tận hiến
sống mật thiết với Chúa đến độ trở
thành phát ngôn viên của Ngài.
Trong thế
giới hiện nay, dấu vết về Thiên Chúa dường
như bị xóa nḥa, nên cần có một chứng tá ngôn sứ
mănh liệt từ phía những người được
thánh hiến. Đặc biệt, người tu sĩ ngày
nay cần có câu trả lời ngôn sứ cho ba thách thức
của xă hội đương thời: nền văn hóa
hưởng thụ phá bỏ mọi qui luật luân lư khách
quan của tính dục, chủ nghĩa vật chất ích kỷ,
và những quan niệm lệch lạc về tự do. Qua
việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm, họ trả lời
bằng thái độ và hành động ngôn sứ trong việc
vui vẻ thực hành đức khiết tịnh hoàn hảo,
như chứng tá về quyền năng của t́nh yêu Thiên
Chúa trong sự mỏng ḍn của thân phận con người;
trong việc bước theo Chúa Kitô nghèo khó, làm chứng cho
Thiên Chúa, kho tàng đích thực của trái tim con người,
và luôn sống trong sự liên kết với người
nghèo, chia sẻ điều kiện sống của những
người cùng khốn nhất; và trong việc tuân phục
thánh ư Chúa Cha, để cùng nhau tiến bước trong sự
hiệp thông huynh đệ (số 85- 92).
Sứ
mệnh truyền giáo của đời sống thánh hiến
được nói đến ở mọi nơi trong tông
huấn, ngay từ số đầu tiên. Mọi sự
đều được hiểu trong mối quan hệ với
sứ mệnh. Mọi sự đều qui về sứ mệnh.
Mọi sự đều trở thành sứ mệnh. Sứ
mệnh bao trùm toàn bộ đời sống của những
người tận hiến.
Tóm lại,
các văn kiện về đời tu không đưa ra
định nghĩa đầy đủ và chính xác về
đời sống thánh hiến, nhưng đào sâu yếu tố
nền tảng, nguồn gốc của nó cũng như chỗ
đứng của đời sống này trong Hội thánh.
Tông huấn Vita Consecrata đúc kết những khuynh
hướng khác nhau về thần học và mục vụ
trong suốt 30- 35 năm, kể từ công đồng
Vatican II, trong một tổng hợp mới giữa Đông
và Tây, dựa trên nền tảng Ba Ngôi, thấm đậm
Kitô và sự hiệp thông của Giáo hội. Đặc biệt,
tông huấn nối kết hai ư niệm thánh hiến và sứ
mệnh: thánh hiến và sứ mệnh bổ túc cho nhau và
đan quyện vào nhau, tạo nên căn tính của đời
sống thánh hiến. Không thể hiểu cái này nếu không
có cái kia. Người tận hiến không thể yêu Chúa, mà
lại không yêu người thân cận (x. Mt 22, 34-40; 1Ga 4,
20-21). Thánh hiến bao hàm sứ mệnh: thánh hiến để
được sai đi. Sứ mệnh lại dẫn
đến thánh hiến, v́ chứng tá quan trọng nhất
của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện
(số 32 - 35). Sự thánh hiến, trước tất cả,
là hành động của Chúa Cha; bước theo Chúa Kitô trên
con đường đến với Chúa Cha và phục vụ
kế hoạch cứu độ của Chúa Cha; Chúa Thánh Thần,
nguồn gốc mọi đặc sủng, cụ thể
hóa sứ mệnh của đời sống thánh hiến
trong những t́nh huống lịch sử của nhân loại.
Mặc
dù đang đứng trước cuộc khủng hoảng
về ơn gọi do lối sống “buông thả” của
nhiều tu sĩ, tông huấn coi đó như là “những
cám dỗ” cần phải vượt qua (số 2, 13, 38,
43b, 46b, 70) và phó thác vào ḷng thương xót của Thiên Chúa (số
70, 110a). Bởi đó, tông huấn mang một giọng
văn tích cực: tạ ơn Chúa v́ những hồng ân
Ngài đă ban cho Giáo hội qua đời sống thánh hiến,
khuyến khích các người tận hiến can đảm
hướng đến tương lai để sống trọn
vẹn sự dâng hiến của ḿnh cho Thiên Chúa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- J.
Rovira, cmf. The Post-Synodal Apostolic Exhortation “Vita Consecrata.”
Philippines, Quezon City: ICLA, 2005.
- M. Ngọc
Đính (Chuyển ngữ). Đời tu dưới ánh
sáng công đồng Vatican II & Giáo luật, Quyển I.
The Daughters of St. Paul, 1986.
- Phan Tấn
Thành. Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập
3, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ.
Rôma, 1993, tr. 390-402; 415-425.
-
Văn kiện Đời tu- Theo Chúa Kitô, 2002.
- B́nh
Ḥa. “Thần học về Đời sống thánh hiến”.
Thời sự Thần học, số 8, tháng 6/97, tr. 7-
25.
[1] Nhưng đó cũng không phải là những
vấn đề đơn giản, v́ cho tới nay (2006) vẫn
chưa có những giải pháp.
[2] Bí tích Thánh Thể là nguyên nhân, nền tảng
và là con đường dẫn tới sự hiệp thông
trong Giáo hội: hiệp thông với Chúa Kitô và hiệp thông
giữa các tín hữu (x. LG 11a,
[3] Thiên Chúa như là nguồn
gốc, trung tâm và cùng đích của đời sống
thánh hiến.
[4] Tựa đề của số
21 là “Phản ánh đời sống Ba Ngôi trong các lời
khuyên Phúc âm.”
[5] X. FLC 54-57: đời sống huynh đệ
trong cộng đoàn là một sự truyền giáo.