ĐẶC SỦNG CỦA ĐẤNG
SÁNG LẬP
JB. Trần Hữu Hạnh,
fsf.
MỤC LỤC
Chữ viết tắt
Lời mở
1. Trước công đồng
Vatican II
a. Vài nét lịch sử
b. Dựa trên khía cạnh thần học
về Thần khí
2. Từ công đồng Vatican
II
3. Đấng sáng lập là ai?
II. ĐẶC SỦNG CỦA
ĐẤNG SÁNG LẬP
A.
Đặc sủng nói chung
1. Đặc
sủng là ǵ?
2. Đặc
sủng và thừa tác vụ
3. Tiêu
chuẩn để nhận ra đặc sủng đích thực
a) Đức ái
b. Thần khí luôn làm chứng cho Chúa Kitô
c) Sự phục vụ
B. Đặc
sủng của đấng sáng lập
1. Đặc
Sủng của Đời Sống Thánh Hiến nói chung
2. Đặc
Sủng của Đấng Sáng Lập
a. Giáo huấn của Giáo hội
b. Tính cách của đặc sủng. Thần học về
đặc sủng của đấng sáng lập theo một
số nhà thần học đương thời
3. Đặc sủng
lập ḍng (thành lập)
4. Đặc Sủng
(Đoàn Sủng) của Hội Ḍng
5. Đặc sủng
và Sứ mệnh (mission)
6. Thẩm quyền
của Hội thánh
7. Làm thế nào
để khám phá ra đặc sủng của ĐSL?
Tài liệu tham khảo
CHỮ VIẾT TẮT
1.
AG
Sắc lệnh về Truyền giáo
CD
Sắc lệnh về Chức vụ
Giám mục
LG
Hiến chế Tín lư về Hội
thánh
PC
Sắc lệnh về việc Canh
tân Ḍng tu
2.
Các Đức Giáo hoàng
a.
Đức Phaolô VI
ET
Tông huấn Chứng tá Tin Mừng
b.
Đức Gioan Phaolô II
CL
Tông huấn Christifideles Laici
RM
Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc
VC
Tông huấn về Đời sống
Thánh hiến
3.
Bộ Tu sĩ và Các Bộ khác
EE
Văn kiện Những Yếu tố Cốt yếu của
Đời tu
MR
Văn kiện Mối Tương quan giữa các Giám mục
với các Tu sĩ
SAFC
Huấn thị Xuất Phát Lại Từ Chúa Kitô.
LỜI MỞ
Đặc sủng là yếu tố
chính tạo nên sự khác biệt giữa hội ḍng này với
hội ḍng khác. Đặc sủng chính là sức sống,
là nguồn mạch của mọi hoạt động tông
đồ của mỗi hội ḍng. Một hội ḍng mà
không sống theo đặc sủng của đấng sáng
lập sẽ đánh mất đi căn tính của nó, và
như một hệ qủa, mất đi phương
hướng của nó. Ch́a khóa cho sự phát triển của
mỗi hội ḍng là trung thành với đặc sủng của
đấng sáng lập. Bởi đó, Đức Giáo
hoàng Phaolô VI đă kêu gọi các cộng đoàn tu tŕ phải
trung thành với tinh thần, với những ư hướng
Phúc âm và gương thánh thiện của đấng sáng lập.
Chính ở đây mà các hội ḍng t́m thấy nguồn gốc
của họ (x. ET 11-12).
Người tu sĩ cần phải biết
được căn tính ơn gọi của ḿnh trong Giáo
hội. Họ phải giữ ǵn, đào sâu và sống với
sự trung thành và ḷng biết ơn đối với đặc
sủng mà đấng sáng lập của họ đă nhận
được và truyền lại cho họ. Muốn có
đổi mới, chúng ta cần biết chúng ta là ai. Mỗi
hội ḍng phải ra sức giữ lấy căn tính của
ḿnh để khỏi rơi vào t́nh trạng mập mờ,
không xác định được vị trí và nhiệm vụ
của ḿnh trong đời sống Giáo hội.
1. Trước Công Đồng
Vatican II
a. Vài Nét Lịch Sử
Từ thế kỷ XIV, khái niệm về
đấng sáng lập đă trở nên rơ ràng hơn. Nó có
nghĩa là một người khởi đầu một hội
ḍng mới và cho nó sức sống. Từ đó, h́nh ảnh
về đấng sáng lập đă mặc lấy những
h́nh thức khác nhau tùy theo thời gian, văn hóa, địa
lư và bối cảnh xă hội.
Nhưng măi tới gần giữa thế
kỷ 20, Bộ Phụng Tự, rồi Bộ Tu Sĩ và một
số tác giả mới nghiên cứu để đưa
ra một định nghĩa về các đấng sáng lập.
Qua đó, có hai yếu tố liên quan đến việc
định nghĩa về đấng sáng lập sau
đây:[1]
- Đấng sáng lập là người
thành lập một tu đoàn hay một hội ḍng nào đó
với một mục đích rơ ràng.
- Những qui tắc cai trị tu
đoàn hay hội ḍng đó.
Yếu tố thứ nhất th́ đă
rơ ràng, c̣n yếu tố thứ hai cần được
làm rơ thêm. Một số tác giả cũng như một số
văn kiện của Đức Giáo hoàng đă đề cập
đến yếu tố thứ hai này. Chẳng hạn
Đức Giáo hoàng Piô XI đă kêu gọi các tu sĩ hăy “noi
gương đấng sáng lập, tổ phụ (Father) và
đấng làm luật (lawgiver) của họ.”[2]
Ngài coi đấng sáng lập là người đưa ra luật
lệ cho ḍng của ḿnh.
Năm 1946, Dom Gerard Oesterle, osb, đă
phân biệt ba trường hợp có thể được
xem là đấng sáng lập:
1) Theo nghĩa chặt: đấng sáng
lập là người tạo nên một cộng đoàn tu mới
cùng với mục đích và luật lệ của nó.
Đây là trường hợp của thánh Basil, thánh Benedict,
thánh Francis, thánh Ignatius, v.v.
2) Theo nghĩa rộng hơn: đấng
sáng lập là người đă lấy một bộ luật
nào đó đă được phê chuẩn làm căn bản,
rồi bổ túc nó theo hiến pháp riêng biệt của ḿnh
để lập nên một cộng đoàn tu tŕ mới. Cộng
đoàn mới này có những định hướng và
đặc tính riêng của nó. Đó là trường hợp
của thánh Romuald, thánh John Gualbert, thánh Bruno. Những vị
này đều lấy luật của thánh Benedict làm nền
tảng.
3) Sau cùng, đấng sáng lập là
người lấy ư tưởng từ một người
khác và đưa ư tưởng đó vào trong thực tế.
Đây là trường hợp của thánh Jane Frances Fremiot de
Chantal, người đă lập nên ḍng Thăm viếng, mặc
dù ư tưởng ban đầu là của thánh Francis de Sales,
người cũng đă viết luật cho ḍng này.
Trong trường hợp của ḍng
Thăm viếng được đề cập ở
trên, với cái nh́n ngày nay, thánh Jane Frances được xem
như là đấng đồng sáng lập. Đấng
sáng lập thực sự của ḍng Thăm viếng là
thánh Francis de Sales, v́ ngài là người có ư tưởng ban
đầu và chính ngài đă viết hiến pháp cho hội
ḍng này. Tuy nhiên, sự thực hiện ư tưởng của
ngài và sự trải rộng của hội ḍng đó chủ
yếu là công việc của thánh Jane Frances.
Một trường hợp
tương tự gần đây hơn là của Bl.
Mazzarello. Ư tưởng về lập ḍng Marie Auxiliatrice và viết
hiến pháp cho ḍng là của thánh John Bosco. Bởi đó, ngài
được coi là đấng sáng lập. Nhưng Bl.
Mazzarello là người đưa ư tưởng của thánh
John Bosco trở thành hiện thực và mở rộng hội
ḍng đó. Do vậy, Bl. Mazzarello được coi là
đấng đồng sáng lập.[3]
Theo Cosma Sartori, ofm, một người
nào đó có ư tưởng làm một công việc lớn lao
như là giáo dục, bác ái,... và người ấy biết
rằng ḿnh không thể thực hiện được, nên
đem ư tưởng đó chia sẻ với người
khác và làm cho người này cháy lên lửa nhiệt t́nh và
ḷng say mê về ư tưởng đó. Nếu người này
thực hiện được ư tưởng đó trong
đời sống cộng đoàn, được cột
bởi những lời khấn/hứa tu tŕ, người
đó trở thành đấng sáng lập của hội ḍng
đó. Tất nhiên, người đó phải đưa ra
những qui tắc ổn định, định rơ về
cách sống và sự cai trị của hội ḍng và
được phê chuẩn của đấng bản quyền
hợp pháp. Trong trường hợp này, người nhận
được ư tưởng ban đầu không nghĩ rằng
đó là sứ mệnh được ủy thác cho chính họ.
Họ như là dụng cụ để biểu lộ ư muốn
của Thiên Chúa cho người khác. Đấng sáng lập
là người khám phá ra rằng đó là ư muốn của
Thiên Chúa mà ḿnh phải thành lập một hội ḍng mới.[4]
Từ những sự tŕnh bày ở
trên, Bộ Tu Sĩ đă rút ra kết luận sau đây:
Đấng sáng lập là người tập
họp cùng nhau một cộng đoàn những môn đệ
của ḿnh, bất kể nhiều hay ít, với một mục
đích rơ ràng. Đấng sáng lập là người cho những
môn đệ này một số luật lệ hay qui tắc,
bằng cách viết ra hoặc bằng miệng, mà chúng vạch
rơ mục đích họ tập họp cùng nhau, và những
phương tiện để đạt được
nó. Nếu đấng sáng lập lấy một bộ luật
đă được phê chuẩn sẵn, tác giả của
bộ luật đó trở thành tổ phụ của hội
ḍng đó. Bởi vậy, thánh Benedict là tổ phụ của
tất cả các cộng đoàn đan tu mà cách sống
căn bản của chúng dựa trên luật của thánh
Benedict. Thánh Francis de Sales là tổ phụ của ḍng Salesian
Don Bosco, v́ thánh John Bosco đă lấy cảm hứng từ
những bài viết của ngài để viết ra luật,
v.v.[5]
Từ kết luận trên đây, đă
có những cuộc bàn luận ở Bộ Tu sĩ nhằm
đưa ra những chi tiết để làm sáng tỏ
hơn:
Năm 1950, đấng sáng lập là
người đă tạo nên một mục đích rơ ràng của
một hội ḍng. Một người không được
xem như là đấng sáng lập nếu người ấy
chỉ mang lại một sự cải tổ về các
lănh vực phụ so với ơn gọi nền tảng.
Đấng sáng lập được Thiên Chúa kêu gọi
đặc biệt và được Giáo hội công nhận.
Đấng sáng lập được kêu gọi để
sống một h́nh thức mới của sự hoàn hảo
Phúc âm. Điều này được thể hiện trong
đấng sáng lập đầu tiên ở phương
đông, thánh Pachomius (293-345), và ở phương tây, thánh
Benedict (470- 547).[6]
b. Dựa Trên Khía Cạnh Thần Học
Về Thần Khí
Năm 1791, Đức Piô VI đă viết
rằng các đấng sáng lập không thể lập nên những
hội ḍng nếu không được Thiên Chúa linh hứng
(inspiration).[7]
Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên khẳng định vai
tṛ của Chúa Thánh Thần trong việc sáng lập các hội
ḍng. Từ đó, các Đức Giáo hoàng như Piô VII, Piô IX,
Piô X, Piô XI và Piô XII đều nói đến ân sủng của
Chúa Thánh Thần trợ giúp cho các đấng sáng lập
để họ lập nên những cộng đoàn tu tŕ mới.
Tuy nhiên, trước công đồng Vatican II, các văn kiện
của Giáo hội không đề cập đến đặc
sủng của đấng sáng lập. Một số Đức
Giáo hoàng kể trên, khi nói về sự thành lập các hội
ḍng, chỉ qui chiếu cách chung đến hành động
của Chúa Thánh Thần.[8]
Những lời dạy trên đây của
các Đức Giáo hoàng đă trở thành nguồn cảm hứng
cho công đồng Vatican II, khi tŕnh bày về đời sống
thánh hiến qua chiều kích Thần khí duy nhất của
nó trong ḷng Giáo hội.
2. Từ Công Đồng Vatican
II
Một trong những phục hồi vĩ
đại nhất của công đồng Vatican II đối
với vai tṛ của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội là vai
tṛ của đặc sủng. Thời đại của
Giáo hội ngày nay, trong cuộc hành tŕnh về cánh chung và sự
quang lâm của Chúa Kitô, là thời đại của Chúa
Thánh Thần. Chỉ với công đồng Vatican II, sự
t́m hiểu ư nghĩa đầy đủ và rơ ràng của
đặc sủng mới bắt đầu được
quan tâm đặc biệt.
Công đồng cũng nhận thức
sâu xa về vai tṛ của Chúa Thánh Thần trong đời sống
thánh hiến cũng như chỗ đứng của đời
sống này trong ḷng Giáo hội. Công đồng đă phát triển
nền thần học về đời sống thánh hiến
một cách sâu xa hơn, coi nó như là “trung tâm hiện xuống
của Giáo hội,” như là không gian cho sự tự do
năng động và sáng tạo của Thần khí. Lumen
Gentium và Perfectae Caritatis đă đào sâu về những
chiều kích này.
Giữa những hướng dẫn cụ
thể và rơ ràng của công đồng cho sự đổi
mới về đời sống thánh hiến, là một sự
kêu gọi khẩn thiết khám phá lại tinh thần và những
mục đích của đấng sáng lập (x. PC 2b)
Sau công đồng, Đức Phaolô VI,
Đức Gioan Phaolô II và Bộ Tu Sĩ đă định
nghĩa về con người của đấng sáng lập
một cách rơ ràng theo chiều kích Thần khí. Đó là
người đă được Chúa Thánh Thần linh hứng
(inspiration), là người đă khám phá ra rằng đó là ư
muốn của Thiên Chúa để lập nên một cộng
đoàn tu tŕ mới trong Giáo hội. Sự nhận thức
về việc được kêu gọi bởi Thiên Chúa
để tạo nên một cộng đoàn tu mới là một
đặc tính bản chất của một đấng
sáng lập. Ngài, qua kinh nghiệm về Chúa Thánh Thần,
được gọi bởi Thiên Chúa để tạo ra
một sự bắt đầu mới và chính ngài cũng sống
cuộc sống mới đó.
Năm 1969, cuốn tự điển
đầu tiên sau công đồng Vatican II đă viết về
đấng sáng lập như sau:
Đấng sáng lập là người
được Thiên Chúa ban cho một ân huệ đặc
biệt để bắt đầu một lối sống
tu tŕ ổn định, với luật lệ rơ ràng nhằm
xây dựng một tinh thần sống những lời
khuyên Phúc âm và được Giáo hội phê chuẩn
(x. LG 45).[9]
Chúng ta có thể tóm lại những nét
nền tảng của đấng sáng lập như sau:
Đấng sáng lập là người
nhận được từ Thiên Chúa ư tưởng thành lập
một hội ḍng với những mục đích của nó
và ra luật sống và cai trị.
Tuy nhiên, các đấng sáng lập không
nhất thiết phải là người viết luật và
hiến pháp. Họ có thể t́m kiếm sự giúp đỡ
từ các môn đệ của họ như trường hợp
của thánh Ignatius và thánh Anthony Mary Claret (trong khi chính thánh
Benedict, thánh Augustine, thánh Francis đă viết luật cho các
môn đệ của họ). Trong lịch sử đời
sống thánh hiến, chúng ta thấy có những đấng
sáng lập đă xây dựng trên luật có sẵn bởi những
đấng sáng lập đă sống trước đó
(như dựa trên luật của thánh Benedict, thánh Augustine,
thánh Francis), nhưng sống luật này với một tầm
nh́n mới được thích ứng trong hoàn cảnh hiện
tại. Có đấng sáng lập là người đă lấy
một bộ luật hiện hành nào đó làm nguồn cảm
hứng chung cho hiến pháp, mà được viết với
mục đích rơ ràng của một cộng đoàn tu mới.
Tác giả của bộ luật đó trở thành tổ phụ
của hội ḍng đó. Chẳng hạn như nữ thánh
Julie Fostel đă cho các chị em của ḿnh hiến pháp của
thánh Jean Baptiste de la Salle. Trong nhiều trường hợp
đấng sáng lập là phụ nữ, đă nhờ một
linh mục giúp soạn thảo hiến pháp. Nhưng vị
linh mục đó luôn làm theo ư tưởng của đấng
sáng lập. Cũng có trường hợp đấng sáng lập
trao ban hiến pháp được viết bởi một vị
thánh khác. Trong trường hợp này, đấng sáng lập
được hợp nhất với người khác trong
ơn gọi của Thiên Chúa để lập nên một cộng
đoàn tu tŕ với những đặc tính đặc biệt
này. Chúng ta cũng nên biết ở đây là tất cả
những ḍng được phê chuẩn trong suốt những
thập kỷ đầu của thế kỷ 20, đều
nhận được hiến pháp căn bản từ Toà
thánh, trừ một số phần nói lên tính cách riêng biệt
của mỗi hội ḍng.[10]
Trong lịch sử đời sống thánh
hiến, chúng ta thấy có đấng sáng lập là những
người:
- Tạo ra một gia đ́nh tu tŕ mới
hoàn toàn như thánh Pachomius, thánh Benedict, thánh Francis, v.v.
- Cải tổ một điều ǵ
đó đă có sẵn như thánh Romuald (951- 1027), một
trong những đấng sáng lập lấy lại sự
linh hứng ban đầu của thánh Benedict (470- 547).
- Được linh hứng từ những
bộ luật đă được viết bởi những
người khác, như bởi thánh Augustine và Francis.
3. Đấng Sáng Lập Là
Ai?
Chúng ta có thề rút ra kết luận ở
đây là đấng sáng lập là người được
gọi, được linh hứng bởi Thiên Chúa, để
tập họp các môn đệ thành một gia đ́nh tu tŕ
mới với mục đích thích hợp và đặc biệt,
là người cho sức sống (một h́nh thức mới
của đời sống theo những lời khuyên Phúc âm)
đối với cộng đoàn mới này và là người
đưa ra luật và hiến pháp cho nó.[11]
Dĩ nhiên, phải được sự phê chuẩn của
Giáo hội.
Qua đó, chúng ta có một số vấn
đề cần làm sáng tỏ:[12]
a) Đấng sáng lập có thể nhận
được đặc sủng/linh hứng hoặc ư muốn
của Thiên Chúa qua:
- Trực tiếp: chính họ được
linh hứng (inspiration) bởi Thần Khí.
- Gián tiếp: một người khác
giúp đấng sáng lập nhận thức và hiểu rơ sự
linh hứng này để thành lập.
- Chia sẻ: chia sẻ với người
khác, và người này trở thành người đồng
sáng lập.
Yếu tố quan trọng ở đây
là, chính đấng sáng lập, chứ không phải ai khác,
được Thiên Chúa kêu gọi cách trực tiếp hay gián
tiếp để lập nên một cộng đoàn tu mới.
Thật vậy, trước tất cả, Thiên Chúa kêu gọi
một người, rồi dần dần, ơn gọi
đó trở thành ơn gọi của cả cộng
đoàn.
b) Sự linh hứng
Đấng sáng lập là người
nhận được sự linh hứng ban đầu. Sự
linh hứng này hướng dẫn đấng sáng lập
để:
- đào tạo những môn đệ
đầu tiên;
- đưa ra mục đích và phạm
vi của hội ḍng mới;
- h́nh thành một chương tŕnh cho
đời sống thiêng liêng, ít là trong cách chung;
- rút ra được luật và hiến
pháp cho cộng đoàn mới này.
c) Mục đích của hội ḍng
Đấng sáng lập là người
quyết định mục đích của ḍng. Mục
đích thích hợp và đặc biệt không có nghĩa là
độc nhất vô nhị. Nó thích hợp với hội
ḍng này, nhưng nó cũng có thể thích hợp với các
ḍng khác.
d) Việc ban hành luật và hiến pháp
Các đấng sáng lập không nhất
thiết phải là người viết luật và hiến
pháp. Họ không cần xác định tất cả các chi
tiết của luật và hiến pháp, chỉ cần
đưa ra những nét nền tảng là đủ. Các môn
đệ của họ và những người khác có thể
viết luật và hiến pháp dựa trên đời sống,
lời nói và bút tích của họ.
e) Đấng sáng lập là người
khởi đầu hội ḍng?
Thông thường, đấng sáng lập
là người đầu tiên tổ chức một nhóm môn
đệ để h́nh thành một cộng đoàn tu mới.
Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ:
Có nhiều đấng sáng lập cũng
là thành viên của hội ḍng, nhưng cũng có những
người không phải là thành viên của hội ḍng mà họ
thành lập. Có nhiều đấng sáng lập nam lập
nên các hội ḍng nữ, nhưng cũng có một trường
hợp đấng sáng lập nữ lập hội ḍng cho
nam. Hầu hết các đấng sáng lập trực tiếp
lănh đạo cộng đoàn họ thành lập, nhưng một
số đấng sáng lập v́ lư do này hay lư do khác (chẳng
hạn được chọn làm giám mục) đă trao việc
điều hành thường xuyên cho người khác. Tuy
nhiên, họ vẫn thường xuyên can thiệp vào trong tiến
tŕnh h́nh thành hội ḍng đó.[13]
Trường hợp của nữ thánh
Soledad Torres Acosta và ḍng Các Nữ T́ của Đức Maria. Vị
thánh là người sau cùng trong số 7 phụ nữ trẻ
đựơc một linh mục chọn để bắt
đầu một hội ḍng. Năm năm sau đó, vị
linh mục dời đi Phi Châu cùng với một số chị
em đầu tiên. Thánh Soledad ở lại
Toà thánh cũng đă nh́n nhận thánh
Anthony Mary Claret là đấng sáng lập. Ngài có ư tưởng
lập ḍng, nhưng ngài đă không thể thực hiện
được, mà măi hầu như một thế kỷ
sau đó tu hội Daughters of the Heart of Mary của ngài mới
bắt đầu.
Có ít nhất một trường hợp
mà đặc sủng sáng lập được ban cho một
nhóm người. Đó là trường hợp 7 đấng
sáng lập của ḍng Servite. Trường hợp của
ḍng Carmelite th́ không có nguồn gốc rơ ràng, bởi họ
không biết ai là đấng sáng lập của họ (hoặc
có lẽ giống như ḍng Servite, ḍng được thành
lập bởi một nhóm người ẩn tu đầu
tiên). Bởi v́ ḍng được thành lập đầu
tiên tại Carmel, nơi mà xưa kia ngôn sứ Elijah hoạt
động, ḍng đă đổi mới truyền thống
ẩn tu cổ xưa mà coi vị ngôn sứ này như là
người của Thiên Chúa đă thiết lập lối sống
này.
Trường hợp của thánh
Augustine và ḍng Augustine. Vị thánh đă qui tụ những
nhóm người khác nhau, trước tiên là nhóm giáo dân, rồi
nhóm linh mục và ban cho họ luật của ḿnh. Nhưng
ḍng Augustine chỉ xuất hiện nhiều thế kỷ
sau đó, khi một nhóm mới, dưới môi trường
hoàn toàn khác, đă áp dụng luật và tinh thần của
ngài. V́ vậy, ngài là tổ phụ, đấng sáng lập
của họ.
Sau cùng, chúng ta có thể xem xét trường
hợp của ḍng Tiểu Đệ và Tiểu Muội. Hai
ḍng được thành lập bởi linh mục Rene
Voillaume năm 1933, và chị Magdalen of Jesus năm 1939. Cha
Voillaume đă coi Charles de Foucauld (1858-1916) như là tổ phụ
(father) của họ. Cả hai ḍng được thành lập
dưới sự soi sáng của linh đạo của de
Foucauld, nghĩa là theo linh đạo của Charles de Foucauld.
f) “Bộ đôi” sáng lập[14]
V́ trước đây, người phụ
nữ có địa vị thấp trong xă hội, các hội
ḍng nữ đă chọn vị sáng lập của họ là
nam. Trong lịch sử, chúng ta thấy có nhiều trường
hợp bên nam đă soạn luật cho bên nữ như hai
thánh nam Caesarius of Arles và Leander of Seville. Ngoài ra, nhiều ḍng
nữ đă theo những bộ luật được viết
bởi phái nam và dành riêng cho nam, và áp dụng chúng theo phái tính
của ḿnh. Đây là trường hợp của các ḍng nữ
Augustine, Benedictine. Thánh Francis of
Chúng ta phải đợi tới công
đồng Trentô mới thấy được sự tự
lực cánh sinh của phái nữ: thánh nữ Angela Merici
(1470-1540) đă tự lập nên hội ḍng của chính ḿnh.
Thậm chí thánh Teresa of Avila đă hướng dẫn một
nhóm nam tu cũng như nhóm nữ tu của ngài; thánh Birgitta
là viện mẫu của ḍng Birgittin, gồm cả tu viện
nữ (60 nữ tu) và tu viện nam (25 đan tu: 13 linh mục,
4 phó tế và 8 trợ sĩ).[16]
Ngoài ra c̣n phải kể đến thánh nữ Maria Micaela của
ḍng Blessed Sacrament và thánh nữ Rafaela Maria của ḍng Sacred
Heart. Mặc dù họ nhận được sự cố
vấn và hướng dẫn từ người nam.
Từ thế kỷ 17, chúng ta lại
thấy những “bộ đôi” nam nữ sáng lập như
trong trường hợp các ḍng đan tu và Poor Clares trước
đó: thánh Francis de Sales và thánh Jane de Chantal; thánh Vincent de Paul
và thánh Louise de Marillac; thánh Anthony Claret và nữ t́ của
Chúa, Antonia Paris; thánh John Bosco và thánh Maria Mazzarello; v.v. Hầu
hết những ḍng nữ xuất hiện giữa thế
kỷ 17 và 19 có bộ đôi sáng lập từ lúc bắt
đầu của chúng.
Hiện tượng này được
lập lại nhiều lần v́:
- Trong một số trường hợp,
một phụ nữ thánh thiện cảm thấy đồng
cảm hoàn toàn với mục đích tinh thần và nhân cách
của một người đàn ông thánh thiện, đến
nỗi mà một sự ḥa hợp về tinh thần đă
được thiết lập giữa họ. Mẹ
Antonia Paris cảm thấy được Thiên Chúa kêu gọi
để lập nên một ḍng nữ, nhưng đồng
thời, qua ánh sáng huyền nhiệm nhận được
khi cầu nguyện, mẹ hiểu rằng thánh Anthony Mary
Claret, người mà mẹ chưa từng gặp (mặc
dù mẹ đă biết ngài là một nhà truyền giáo danh tiếng),
phải là người cùng lập ḍng với mẹ.
- Trong những trường hợp
khác, ư tưởng lập ḍng nảy sinh nhờ các mối
quan hệ giữa một phụ nữ và cha giải tội
hoặc vị linh hướng của ḿnh. V́ thế, thật
khó để mà xác định ai là người có ư tưởng
trước. Sứ mệnh và tinh thần của hội
ḍng mới này lớn lên nhờ cả hai họ. Trong
trường hợp này, cả hai đều là đấng
sáng lập.
- Cũng có những trường hợp
một người nam hiến thân cho công việc mục vụ,
chẳng hạn một giám mục hoặc một linh mục,
có ư tưởng thành lập một hội ḍng với một
sứ mệnh mà người ấy cảm thấy cần
thiết. Nhưng v́ sứ mệnh này thuộc về phái nữ,
nên người ấy đă qui tụ một nhóm phụ nữ
để thực hiện sứ mệnh đó.
- Sau cùng, trong nhiều trường hợp,
một phụ nữ cảm thấy được Thiên
Chúa kêu gọi để thành lập một ḍng nữ,
nhưng v́ phụ nữ không có vị trí cao trong xă hội,
người này không thể thực hiện được
lư tưởng của ḿnh nếu không có sự ủng hộ
của một người nam, thường là một giám mục
giáo phận hay vị linh hướng. Trong trường hợp
này, chỉ một bên là đấng sáng lập c̣n bên kia là
đồng sáng lập.
g) Làm thế nào để xác định
ra ai là đấng sáng lập?
Có nhiều hội ḍng chưa xác định
được ai là đấng sáng lập của họ và
Ṭa thánh cũng chưa giải quyết được vấn
đề của họ. Đây là vấn đề mà toàn
thể hội ḍng mới có thể giải quyết
được qua tổng hội của nó, sau khi đă
điều tra nghiên cứu lịch sử hội ḍng một
cách nghiêm túc. Họ cần trả lời cho câu hỏi sau:
Ai đă nhận được ư tưởng
lập ḍng ban đầu?
Các nhà thần học đều đồng
ư rằng các đấng sáng lập là người
được Thiên Chúa lay động và được
Chúa Thánh Thần linh hứng (inspiration). Họ được
linh hứng cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc
qua chia sẻ với người khác. Họ là những dụng
cụ hành động của Thiên Chúa, đem sức sống
đến cho công việc mà tác giả thực sự luôn là
Thiên Chúa. Họ được kéo gần đến Thiên
Chúa trong sự liên kết mật thiệt với Ngài và dần
dần được chuẩn bị bởi ân sủng cho
một sứ mệnh đặc biệt trong Giáo hội.
Chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy họ nhập thể mầu
nhiệm và t́nh yêu của Thiên Chúa giữa các môn đệ của
họ. Họ nhận được đặc sủng và
biểu lộ nó trong đời sống cụ thể của
họ và họ truyền lại cũng cùng một đặc
sủng ấy cho những môn đệ của họ. Những
môn đệ này, mỗi người trong cách riêng của
ḿnh, rút ra và chia sẻ trong đời sống cùng một ân
huệ đó.[17]
Chúa Thánh Thần thúc đẩy
(inspiration) các đấng sáng lập và ban cho họ đặc
sủng thành lập. Ngài ban sức sống cho tất cả
các hoạt động của họ và hướng dẫn
họ dọc theo những con đường không
được mong đợi và đầy chông gai. Ngài
hướng dẫn họ để lập nên một h́nh
thức mới của đời sống Kitô hữu. Ngài
nung nấu họ trong ngọn lửa nhiệt t́nh về
vai tṛ ngôn sứ của họ trong Giáo hội và trong thế
giới. Ngài di chuyển họ tới tất cả những
biên giới của đời sống Giáo hội, làm cho họ
trở thành những người tiên phong của Ngài trong lịch
sử, giữ họ tiến về phía trước.
Các đấng sáng lập dần dần
nhận thức rằng họ được gọi bởi
Thiên Chúa để lập nên một hội ḍng mới trong
Giáo hội. Sự soi sáng đến với họ qua cầu
nguyện, nguyện gẫm, đối thoại với
người khác, sự hướng dẫn của người
khác, v.v. Dĩ nhiên, trong tiến tŕnh này, ân sủng của
Thần khí lôi kéo sự chú ư của họ đến những
nhu cầu của Giáo hội và thôi thúc họ hiến thân phục
vụ như một dụng cụ trong tay Thiên Chúa.
Lịch sử đời sống thánh
hiến đă chỉ ra rằng các đấng sáng lập
thường trải qua một tiến tŕnh dài trước
khi quyết định lập nên hội ḍng của họ,
và thậm chí một tiến tŕnh dài hơn để xác
định tất cả những nét căn bản của
những hội ḍng đó. Thiên Chúa chuẩn bị và giáo dục
các đấng sáng lập, khắc sâu dần dần vào
trong trái tim họ ư tưởng về hội ḍng
tương lai, giúp họ khám phá ra trong đời sống
của họ những ǵ mà họ sẽ đề xuất
cho người khác sau này. Thật vậy, các đấng
sáng lập dần dần khám phá ra ơn gọi của họ
và những hội ḍng thường được h́nh thành
một cách từ từ, và trong một số trường
hợp, chúng được bắt đầu bởi một
kinh nghiệm về một loại hiệp hội không rơ
ràng nào đó. Thánh Anthony Claret đă trải qua một quá
tŕnh dài, bắt đầu từ giai đoạn hoạt
động cá nhân (1839), rồi qui tụ một nhóm những
bạn bè (1842), đến việc lập một hội
ḍng (1849). Catherine McAuley bắt đầu với nhà t́nh
thương (1827), rồi thành lập một hiệp hội
những người giáo dân (1827) và kết thúc bằng việc
lập nên một hội ḍng nữ (1830). Thánh Paul thánh giá
đă thú nhận rằng tôi không biêt Thiên Chúa muốn ǵ
nơi tôi, v́ vậy tôi đă không nghĩ về nó xa hơn.[18]
II. ĐẶC SỦNG CỦA
ĐẤNG SÁNG LẬP
A. Đặc Sủng Nói
Chung
1. Đặc Sủng Là Ǵ?
Trong Cựu ước, các vua, thẩm
phán, ngôn sứ đều nhận được sự trợ
giúp của Thần khí để thi hành công việc của
họ. Họ hoàn thành sứ mệnh Thiên Chúa trao ban trong quyền
năng của Thánh Thần. Chúng ta có thể t́m thấy hoạt
động của Thần khí trong St 41, 38-39; Đn 4, 15; Is
32, 15; 44, 3; ngôn sứ: Đnl 18, 15-19; Ds 11, 24-25; 1Sm 19, 20tt;
Am 3, 8; Gr 20, 7-19; quyền năng và sự khôn ngoan: Tl 6,
33-35; 11, 28-29; 13, 24-25; 1V 5, 9-10; Isaia nói về đặc sủng
của đấng Mê-si-a: 11, 1-2; 42, 1; 61, 1-3 và Ge 3, 12; những
ân huệ được hứa ban cho thời đại của
đấng Mê-si-a: Đnl 28, 49; Is 28, 11tt; Ge 3, 1.
Trong Tân ước, từ đặc sủng
(charism)[19]
được t́m thấy 17 lần: 16 lần trong các
thư của thánh Phaolô (Rm 1, 11; 5, 15.16; 6, 23; 11, 29; 12, 6; 1Cor
1,7; 7,7; 12, 4.9.28.30.31; 2Cor 1, 11; 1Tm 4, 14; 2Tm 1, 6) và 1 lần
trong 1Pr 4, 10.
Đặc sủng được coi
là ân huệ mà Thần Khí ban cho mỗi người v́ lợi
ích chung. Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ
có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác
nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động
khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi
sự trong mọi người (x. 1Cor 12, 4-7. 11; LG 12).
Mỗi người được
Thiên Chúa ban cho đặc sủng riêng, kẻ thế này,
người thế khác. Ngài phân chia cho mỗi người
mỗi cách tùy theo ư của Ngài. Tất cả chúng ta, dầu
là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều
đă chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để
trở nên một thân thể. Thiên Chúa đă đặt mỗi
bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ư
Người muốn. Tất cả chúng ta đă được
đầy tràn một Thần Khí duy nhất (x. 1Cor 12, 13.
18). “Thiên Chúa đă khéo xếp đặt các bộ phận
trong thân thể, để bộ phận nào kém th́
được tôn trọng nhiều hơn. Như thế,
không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận
đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận
nào đau, th́ mọi bộ phận cùng đau. Nếu một
bộ phận nào được vẻ vang, th́ mọi bộ
phận cũng vui chung.” (1Cor 12, 24- 26)
Đặc sủng cho phép mỗi
người hoà nhập vào toàn thể, cộng tác hài ḥa vào
đời sống Giáo hội. Được ban cho mỗi
người v́ lợi ích chung hơn là lợi ích cá nhân, và
được phân chia cho mỗi người mỗi cách
tùy theo ư của Thần khí, nên đặc sủng có thể
mất đi mà không phương hại đến toàn bộ
Giáo hội. Một đặc sủng là một công việc
của Thần khí để định hướng
người tin hướng về ơn cứu độ
trong Chúa Kitô, nên không ai có thể kích động hay ép buộc
nó. Mặc dù thánh Phaolô đă qui những đặc sủng
một cách đặc biệt cho Thần khí, nhưng đặc
sủng cũng xuất phát từ t́nh thương bao la của
Chúa Cha và Chúa Con (x. 1Cor 12, 4-6; 12, 28; Ep 4, 11).
Thiên Chúa muốn ban phát các đặc sủng
cho mỗi người để phát triển đời sống
nội tâm và cộng đoàn (x. 2Pr 1, 3-4; 1Pr 4, 10). Ơn của
Thần Khí hết sức quan trọng trong đời sống
tâm linh của người Kitô hữu, bởi v́ “không ai có
thể nói Chúa Giêsu là Chúa mà không ở trong Thần Khí” (1Cor
12:3).
2. Đặc Sủng và Thừa Tác Vụ
Đặc sủng thường gắn
liền với chức vụ, thừa tác vụ hoặc với
hoạt động.
Thánh Phaolô đă liệt kê ra 20 đặc
sủng khác nhau:
- “Người th́ được ban cho
ơn khôn ngoan để giảng dạy, người th́
được ban cho ơn hiểu biết để tŕnh
bày. Kẻ th́ được ban cho ḷng tin; kẻ th́ cũng
được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những
đặc sủng để chữa bệnh. Người
th́ được ơn làm phép lạ, người th́
được ơn nói tiên tri; kẻ th́ được
ơn phân định thần khí; kẻ khác th́ được
ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại
được ơn giải thích các tiếng lạ.” (1Cor
12, 8-10)
-“Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đă đặt
một số người, thứ nhất là các Tông Đồ,
thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi
đến những người được ơn làm
phép lạ, được những đặc sủng
để chữa bệnh, để giúp đỡ người
khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng
lạ.” (1Cor 12, 28)
-“Được ơn làm ngôn sứ,
th́ phải nói sao cho phù hợp với đức tin.
Được ơn phục vụ, th́ phải phục vụ.
Ai dạy bảo, th́ cứ dạy bảo. Ai khuyên răn,
th́ cứ khuyên răn. Ai phân phát, th́ phải chân thành. Ai chủ
toạ, th́ phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái th́ vui
vẻ mà làm.” (Rm 12, 6-8)
-“Và chính Người đă ban ơn cho
kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ,
kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa
làm người coi sóc và dạy dỗ.” (Ep 4, 11)
Một người nắm giữ một
chức vụ nào đó có thể nhận được một
hoặc nhiều đặc sủng và một người
nhận được nhiều đặc sủng có thể
thi hành một hoặc nhiều tác vụ. Thánh Phaolô đă nhận
ḿnh là tiên tri, thầy dậy và là người nói các tiếng
lạ (x. 1Cor 14, 6. 18). Như vậy, đặc sủng có
thể linh động việc thực hành các chức vụ
chính thức trong Hội thánh. Các tác vụ trong Hội thánh
được trao phó từ Chúa Kitô; các đặc sủng
đến từ Thần khí, Đấng được
Chúa Kitô sai đến để hoạt động trong
ḷng mỗi người. Do đó, đặc sủng và tác vụ
bổ túc cho nhau.
Đặc sủng cũng có nghĩa là
một ơn gọi đối với một bậc sống
nào đó của Kitô hữu, như là độc thân hoặc
hôn nhân (x.1Cor 7, 7-9).
Theo nguồn gốc, một đặc
sủng không phải là một thừa tác vụ hay một
hoạt động; đúng ra, nó là một ân sủng mà Chúa
Thánh Thần làm cho một người hướng đến
một tác vụ nào đó. Nhưng dần dần, các đặc
sủng chỉ được biết đến qua các hoạt
động, nên chúng được đồng hóa với
các hoạt động. Từ đó, các đặc sủng
lại được gắn với những chức vụ
trong Giáo hội (x. Ep 4, 11) và có khunh hướng đồng
hóa với một ơn gọi (x. 1Cor 7, 7-9).[20]
Đặc sủng được ban
cho cá nhân, nhưng là để phục vụ cộng
đoàn, Thân Thể Chúa Kitô. Thánh Phêrô cũng nhấn mạnh
đến điều này khi ngài nói: “Ơn riêng Thiên Chúa
đă ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục
vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những
người khéo quản lư ân huệ thiên h́nh vạn trạng
của Thiên Chúa. Ai có nói, th́ nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ,
th́ phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban.
Như thế, trong mọi việc, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa nhờ
Chúa Giê-su Ki-tô. Kính dâng Người vinh quang và uy quyền
đến muôn thuở muôn đời. A-men.” (1Pr 4, 10-11)
Thật vậy, đặc sủng
được ban là để phục vụ Lời Chúa
(x. Cv 6, 4) và để xây dựng Giáo hội, Thân Thể
Chúa Kitô (x. Ep 4, 12. 26; Gl 4, 7, 11-12; 1Cr 14, 12; 12, 7). Các đặc
sủng được sắp đặt để xây dựng
Hội thánh, sinh ích cho con người và thỏa măn những
nhu cầu của trần thế (x. CL 24).
“Anh em đừng dập tắt Thần
Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hăy cân nhắc
mọi sự: điều ǵ tốt th́ giữ; c̣n điều
xấu dưới bất cứ h́nh thức nào th́ lánh cho
xa.” (1Tx 5, 19-22)
Khi giảng dạy hoặc dạy giáo
lư, chúng ta thường chú trọng đến Giáo hội
như là một tổ chức, nhưng Giáo hội cũng
là Giáo hội của Thần khí. Chính Thần khí làm cho Giáo hội
sinh động. Giáo hội như một toàn khối liên kết
với nhau và sống động nhờ các đặc sủng.
3. Tiêu Chuẩn Để Nhận Ra
Đặc Sủng Đích Thực
a) Đức Ái
Đặc sủng không phải lúc nào cũng
dễ dàng nhận ra. Để nhận biết một
đặc sủng có phải phát xuất từ Thần Khí
hay không, chúng ta cần xem xét những lời của thánh
Phaolô:
“Giả như tôi có nói được
các thứ tiếng của loài người và của các
thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, th́
tôi cũng chẳng khác ǵ thanh la phèng phèng, chũm choẹ
xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên
tri, và được biết hết mọi điều bí
nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất
cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà
không có đức mến, th́ tôi cũng chẳng là ǵ.” (1Cor
13, 1-2)
“Đức mến th́ nhẫn nhục,
hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự
đắc, không làm điều bất chính, không t́m tư lợi,
không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy
sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng
tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng
tất cả.” (1Cor 13, 4-7)
“Những việc do tính xác thịt gây
ra th́ ai cũng rơ đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đăng, thờ
quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận,
tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ghanh tỵ, say sưa, chè
chén, và những điều khác giống như vậy. Chúng
ta có thể thấy được hoa quả của Thần
Khí qua bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu,
từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.” (Gl 5,
19-23)
b. Thần Khí Luôn Làm Chứng Cho Chúa Kitô
Chứng thực của Thần khí là
luôn luôn làm chứng cho Chúa Kitô: “Nhưng Đấng Bảo
Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy,
Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và
sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy
đă nói với anh em.” (Ga 14, 26) “Khi nào Thần Khí sự thật
đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự
thật toàn vẹn. Người sẽ không tự ḿnh nói
điều ǵ, nhưng tất cả những ǵ Người
nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết
những điều sẽ xảy đến. Người
sẽ tôn vinh Thầy, v́ Người sẽ lấy những
ǵ của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có
đều là của Thầy. V́ thế, Thầy đă nói:
Người lấy những ǵ của Thầy mà loan báo cho
anh em.” (Ga 16, 13-15) “Căn cứ vào điều này, anh em nhận
ra Thần khí của Thiên Chúa: Thần khí nào tuyên xưng Chúa
Giê-su Ki-tô là Đấng đă đến và trở nên
người phàm, th́ Thần khí ấy bởi Thiên Chúa; c̣n thần
khí nào không tuyên xưng Chúa Giê-su, th́ không bởi Thiên Chúa.”
(1Ga 4, 2-3)
Các tông đồ cũng được
tràn đầy Thánh Thần và quyền năng để làm
chứng cho Chúa Kitô (x. Cv 1, 8; 2, 1-41).
Hành động của Thần khí không
bao giờ xung đột với giáo huấn đích thực
của Hội thánh, Thân Thể Chúa Kitô, v́ cũng một Thần
khí đổ ân sủng của Ngài xuống cho các tín hữu
và hướng dẫn quyền giáo huấn của Hội
thánh.
c) Sự Phục Vụ
Các đặc sủng được
ban là v́ công ích, v́ sự hiệp thông và sứ mạng của
Giáo hội. Do đó, đặc sủng luôn hướng
đến phục vụ cộng đoàn, một sự phục
vụ quên ḿnh và vô vị lợi.[21]
B. Đặc Sủng Của
Đấng Sáng Lập
1. Đặc Sủng của Đời
Sống Thánh Hiến Nói Chung
Trước công đồng Vatican II, ư
tưởng về đặc sủng của đời sống
thánh hiến chưa được biết đến. Từ
công đồng, theo Lumen Gentium, đời sống
thánh hiến được xem như không thuộc về
cơ cấu phẩm trật của Hội thánh, nhưng
thuộc về cơ cấu đặc sủng hay cơ cấu
Thần khí. Đời sống thánh hiến là một ân huệ
của Chúa Thánh Thần, Ngài khơi dậy nơi các tín hữu
ḷng khao khát nên trọn lành, bước theo Chúa Kitô qua việc
sống các lời khuyên Phúc âm cách triệt để (x. LG
43; PC 1). Điều này cắt nghĩa tại sao đời
tu gắn chặt với đời sống và sự thánh
thiện của Hội thánh. V́ Hội thánh lănh nhận các lời
khuyên Phúc âm từ Chúa Kitô. Hội thánh có bổn phận duy
tŕ và truyền lại cho mọi thế hệ không những
lời giảng của Chúa Kitô, mà c̣n đời sống và
hoạt động của Ngài nữa. Như vậy, việc
họa lại đời sống Chúa Kitô qua các lời
khuyên Phúc âm nằm trong chính bản chất của Hội
thánh (x. LG 43, 44; Can 575).
Đặc sủng được ban
cho các Kitô hữu qua cơ chế phẩm trật và nhiệm
tích, nhưng cũng được ban không qua các cơ chế
này, mà qua các ḍng tu, nhằm phục vụ lợi ích của
Hội thánh. Công đồng qui chiếu vào các bản
văn của thánh Phaolô và Phêrô nói về đặc sủng,
để tŕnh bày đặc sủng của đời sống
thánh hiến. Nếu đặc sủng là một ơn gọi
đối với một bậc sống nào đó của
Kitô hữu như là độc thân hoặc hôn nhân (x.1Cor 7,
7-9), hoặc được đồng hóa với một
thừa tác vụ trong Giáo hội (x. 1Cor 12; Rm 12; Ep 4), th́
công đồng cũng gọi các lời khuyên Phúc âm là những
đặc sủng (x. LG 12, 13, 42, 43; PC 12). Công đồng cũng
nói lên tính cách đa dạng của các hội ḍng tùy theo
đặc tính riêng của chúng (x. PC 1, 7, 8, 9, 10, 11). Tuy nhiên
công đồng không đưa ra một định nghĩa
hay giải thích một cách đầy đủ đặc
sủng của đời sống thánh hiến.
Đặc sủng của đời sống
thánh hiến không đến từ sự thúc đẩy của
huyết nhục hoặc từ một năo trạng ḥa theo
thế gian hiện tại, nhưng là hoa qủa của Thần
khí luôn hoạt động trong Hội thánh (x. ET 11). “Mỗi
ḍng, qua sự cộng tác của đấng sáng lập,
đă đem lại một ơn gọi đặc biệt,
như một ân huệ do Chúa Thánh Thần khơi dậy
(x. LG 45; PC 1, 2) và được hàng giáo phẩm chính thức
công nhận.” (MR 11)
Nói chung, đời sống thánh hiến
chính nó là một đặc sủng. Đó là một ân huệ
đặc biệt được ban cho toàn thể Giáo hội
(x. LG 43; ET 2, 11; MR 2, 11). Đời thánh hiến, bám rễ
sâu trong gương mẫu và lời dạy của Chúa Kitô,
là một ân huệ của Chúa Cha ban cho Giáo hội qua Chúa
Thánh Thần. Thật vậy, các lời khuyên Phúc âm biểu
lộ t́nh yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha, trong sự
hiệp nhất với Chúa Thánh Thần (x. VC 1, 20, 21).
2. Đặc Sủng của Đấng
Sáng Lập
a. Giáo Huấn của Giáo hội
Để đổi mới đời
sống thánh hiến, Vatican II đă kêu gọi mỗi hội
ḍng phải khám phá lại tinh thần và mục đích của
đấng sáng lập (x. PC 2b). Sự đổi mới của
mỗi hội ḍng phải dựa trên nền tảng của
chính nó, i.e., phải luôn luôn xuất phát từ căn tính
nguyên thủy của chính nó. Bởi đó, các hội ḍng cần
trở về với Tin Mừng, với tinh thần của
đấng sáng lập và thích ứng vào trong hiện tại.
Công đồng Vatican II không sử dụng
cụm từ “đặc sủng của đấng sáng lập.”
Đức Phaolô VI là vị Giáo hoàng đầu tiên nói đến
vấn đề này. Ngài đă qui chiếu về công đồng
và sử dựng từ đặc sủng để nói về
những ân sủng khác nhau của các đấng sáng lập:
“Chỉ như thế, các con mới có thề nâng tâm hồn
lên để đón nhận chân lư và t́nh yêu của Thiên Chúa
theo các đặc sủng của các đấng sáng lập
của chúng con, mà Thiên Chúa đă ban cho Giáo hội. Công đồng
đă dạy rằng các tu sĩ phải duy tŕ một cách
trung thành tinh thần của các đấng sáng lập, lối
sống Tin mừng và gương thánh thiện của họ.
Các tu sĩ phải nhận ra nơi đây một trong những
nền tảng cho sự canh tân hiện nay và một trong những
tiêu chuẩn chắc chắn nhất cho sự quyết
định về loại hoạt động của
mỗi hội ḍng.” (ET 11) Ngài chỉ ra rằng mỗi cá
nhân của mỗi hội ḍng được định
h́nh bởi những tính cách đặc biệt về tinh thần
và đặc sủng của đấng sáng lập. Mỗi
hội ḍng phải qui chiếu về với những nguồn
gốc này trước khi nó có thể đem lại một
sự canh tân đích thực và trung thành.[22]
Các hội ḍng chỉ có thể trung
thành với đặc sủng nguồn gốc khi họ biết
thế nào để đọc được những dấu
chỉ của thời đại và biết thế nào
để đáp ứng lại những nhu cầu của
Giáo hội và xă hội trong thời hiện tại. Họ
chỉ có thể làm sống động lại đời
sống thánh hiến qua sự trung thành sáng tạo với
đặc sủng của chính hội ḍng họ, với
tinh thần của đấng sáng lập và với nhu cầu
mới của Giáo hội.
Đức Gioan Phaolô II đă nối tiếp
công đồng và giáo huấn của Đức Phaolô VI.
Ngài nhiều lần nhắc nhở các tu sĩ phải trung
thành với đặc sủng của đấng sáng lập.
Ngài nhấn mạnh đến nhu cầu kính trọng những
đặc sủng khác nhau của các hội ḍng. Trên tất
cả, ngài tái khẳng định sự hiện diện của
những đặc sủng khác nhau này tại chính nguồn
gốc của mỗi hội ḍng: “Mỗi đấng sáng lập
của các con, dưới sự linh hứng của Thần
khí mà Chúa Kitô đă hứa ban cho Giáo hội, đă nhận
được một ân huệ đặc biệt. Đấng
sáng lập là một dụng cụ đặc biệt của
Chúa Kitô cho công cuộc cứu độ của Ngài, nó sống
măi trong lịch sử nhân loại. Giáo hội đă dần
dần nhận ra những đặc sủng này, xem xét
chúng và khi Giáo hội thấy chúng xác thực, đă dâng lời
tạ ơn Thiên Chúa và ǵn giữ chúng trong đời sống
cộng đoàn để cho chúng luôn đơm bông kết
trái.”[23]
Trong Tông huấn về Đời sống thánh hiến, ngài
căn dặn các hội ḍng phải trung thành với những
đặc sủng này và sau đó trung thành với gia sản
thiêng liêng được tạo lập nên trong mỗi hội
ḍng. Họ phải duy tŕ chúng trong những cộng đoàn
mà chúng đă lập nên. Đặc sủng phải xây dựng
nguyên tắc sống của mỗi hội ḍng tại bất
cứ thời điểm nào (x. VC 36, 37). “Mọi đặc
sủng đều bao hàm ba định hướng: trước
tiên, hướng về Chúa Cha, với ḷng con thảo muốn
t́m kiếm thánh ư Cha trong sự hoán cải liên tục,
nơi mà sự vâng phục là nguồn mạch tự do
đích thực, sự khiết tịnh biểu lộ niềm
thao thức của một con tim không thể thỏa măn bởi
bất cứ t́nh yêu hữu hạn nào, sự khó nghèo nuôi
dưỡng ḷng đói khát công chính mà Thiên Chúa đă hứa
ban cho thỏa ḷng (x. Mt 5, 6). Trong viễn tượng này,
đặc sủng của bất cứ hội ḍng nào cũng
thôi thúc người được thánh hiến thuộc trọn
về Chúa… Các đặc sủng của đời sống
thánh hiến cũng hướng về Chúa Con: các đặc
sủng mời gọi duy tŕ một sự hiệp thông với
Ngài trong đời sống thân mật vui tươi, noi
gương Ngài quảng đại phụng sự Thiên Chúa
và phục vụ anh em… Sau cùng, bất cứ đặc sủng
nào cũng hướng về Chúa Thánh Thần, v́ mọi
đặc sủng đều mời gọi con người
hăy để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn và nâng
đỡ trên con đường thiêng liêng riêng biệt, cũng
như trong đời sống hiệp thông và hoạt động
tông đồ… Thật vậy, chính trong mối tương
quan ba chiều này mà những đặc sủng sáng lập
ḍng xuất hiện, dù dưới những nét riêng biệt
của các h́nh thức sống khác nhau, bởi v́ đặc
sủng nào cũng nổi bật niềm khát vọng sâu xa
của tâm hồn muốn được trở nên đồng
h́nh đồng dạng với Chúa Kitô, để làm chứng
về một khía cạnh nào đó thuộc mầu nhiệm
của Ngài. Khía cạnh đó được cụ thể
hóa và phát triển trong truyền thống trung thực nhất
của hội ḍng, phù hợp với quy luật và hiến
pháp.” (VC 36) Cũng trong tông huấn này, Đức Giáo hoàng
đă nhiều lần sử dụng từ đặc sủng
để nói về những chiều kích khác nhau của
đời sống thánh hiến, đặc biệt là để
nói lên tính đặc thù của mỗi hội ḍng (x. VC 1, 5,
19, 25, 32, 36, 37, 48, 63, 65, 68, 72, 71, 73, 74, 80, 93). Lời dạy
của ngài đă in dấu ấn trong nhiều văn kiện
khác của Giáo hội.
Văn kiện của Bộ Tu sĩ và
Bộ Giám mục đă nói về đặc sủng của
đấng sáng lập như sau:
“Đặc sủng của các Đấng
sáng lập biểu lộ như là một kinh nghiệm[24]
về Thần Khí, được truyền lại cho
các môn đệ của họ để sống, giữ
ǵn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự
hài ḥa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn
lên.” (MR 11) V́ lư do này mà đặc tính của mỗi hội
ḍng khác nhau được Giáo hội bảo tồn và nuôi
dưỡng (x. LG 44; CD 33, 35).
Qua đoạn văn trên, từ đặc
sủng đă được sử dụng để giải
thích về căn tính của những hội ḍng khác nhau
trong Giáo hội. Nó cũng bao gồm một kiểu linh
đạo và hoạt động tông đồ mà
nhờ đó, tạo nên truyền thống đặc
biệt của mỗi hội ḍng.[25]
Mọi hội ḍng được sinh ra từ Thần khí.
Đây chính là nguồn gốc của mỗi hội ḍng.[26]
T́m lại đặc sủng chính là t́m lại căn tính của
ḿnh.[27]
Mỗi đấng sáng lập t́m ra một cách mới để
sống những lời khuyên Phúc âm. Đấng sáng lập
được Thiên Chúa kêu gọi để diễn tả
mầu nhiệm Chúa Kitô trong một cách đặc biệt.
Đấng sáng lập nhận được một cảm
nghiệm đặc biệt về Thần khí, nhận thức
một hướng đi mới trong đường nên
thánh và đáp ứng lại những nhu cầu của Giáo
hội và xă hội. Thiên Chúa ban cho họ một kinh nghiệm
sâu xa về chính Ngài để mà những người khác
có thể hưởng nhờ.[28]
b. Tính Cách của Đặc Sủng
Đặc sủng là một thực tế
sống động, nhưng không thể định nghĩa
được, mà chỉ có thể cảm nhận qua mối
liên hệ với mục đích, sứ mệnh (mission) và
linh đạo của nó.[29]
Đặc sủng chỉ có thể được mô tả
bằng cách tập hợp những yếu tố mà dần
dần xuất hiện nơi những người đầu
tiên sống nó, cũng như nơi những thế hệ
sau. Đặc sủng không thể được diễn
tả trong vài lời, v́ nếu giản lược chỉ
trong vài lời, nhiều sự biểu lộ khác nhau của
nó trong lịch sử sẽ bị mờ đi và trùng khớp.[30]
Tóm lại, đặc sủng được biểu lộ
qua ư định (bao gồm mục đích, sứ mệnh)
của đấng sáng lập, linh đạo, truyền thống
của hội ḍng. Trong suốt giai đoạn h́nh thành,
đặc sủng biểu lộ kiểu mẫu nguồn
gốc duy nhất của chính nó. Đời sống, bản
chất, mục đích, sứ mệnh, tinh thần, đặc
tính của hội ḍng bắt đầu trở nên rơ ràng
hơn. Cộng đoàn là một sự nối dài đấng
sáng lập theo thời gian. Đặc sủng có thể tiếp
tục tồn tại trong lịch sử qua một tiến
tŕnh năng động mà trong đó Chúa Thánh Thần kêu gọi
và kết hợp những thành viên mới vào trong hội
ḍng.[31]
Đặc sủng phải là cái ǵ
đó được sống, hơn là để hiểu,
dù sự hiểu biết về nó là cần thiết để
sống nó. Mọi thành viên và cộng đoàn cần để
cho chính họ bị khuấy động bởi nó và ngoan
ngoăn vâng theo sự hướng dẫn của Thánh Thần.
Đặc sủng giống như bản
thể của một con người. Con người bao gồm
bản thể và tùy thể. Tùy thể là h́nh thức bên ngoài
như màu da, màu tóc, mập, ốm, v.v., nên có thể thay
đổi; c̣n bản thể th́ luôn giữ lại. Dù tôi
khác tôi cách đây 10 năm, 15 năm, 20 năm..., nhưng tôi
vẫn là tôi, tôi không thể là người khác. Đặc
sủng là duy nhất, nhưng có nhiều h́nh thức biểu
lộ khác nhau qua thời gian. Để đổi mới,
chúng ta cần nhận thức về căn tính của chính
chúng ta. Bên cạnh đó, sự thay đổi và sự sáng
tạo là những khía cạnh không thể tránh khỏi trong
đời sống của mỗi hội ḍng.
Trong Kinh thánh, Thần khí được
mạc khải như là Đấng ban sự sống. Mỗi
đặc sủng, v́ đó là ân huệ của Đấng
ban sự sống, luôn luôn là một thực tế năng
động, nguồn sống và hoạt động. Đặc
sủng được ban cho các đấng sáng lập và
sau họ là hội ḍng của họ, là một ơn gọi
cộng đoàn trong Giáo hội, nên phải bảo tồn
nguyên vẹn qua không gian và thời gian. Tuy nhiên, v́ nguồn gốc
Thần khí của nó và v́ nó được ban cho toàn thể
Giáo hội, nó sinh nhiều hoa trái khác nhau, trong những thời
gian và nơi chốn khác nhau. Các đặc sủng sản
sinh những h́nh thức sống khác nhau mà chúng nhập thể
Tin Mừng vào trong những môi trường sống. Chúng
thúc đẩy các hội ḍng đảm nhận những sứ
mệnh khác nhau. Do vậy, các hội ḍng cần mở ra và
ngoan ngoăn vâng theo sự hướng dẫn của Thần
khí. Kết hợp mật thiết với Ngài chính là nguồn
đổi mới và thích nghi thật sự của tất
cả các cộng đoàn tu tŕ trong bối cảnh hiện
nay.[32]
Kinh nghiệm về Thần khí này bắt
nguồn từ sự linh hứng siêu nhiên, dẫn họ
vào trong sự hiểu biết về mầu nhiệm Chúa
Kitô và Tin mừng của Ngài. Thật vậy, các đấng
sáng lập là những con người của Thần khí. Họ
biết nh́n vào thực tế với cái nh́n mới và qua
đó nhận thức được nhu cầu khẩn cấp
của Giáo hội và thế giới. Họ nhận thức
được điều kiện hiện tại của
Giáo hội và thế giới và được thôi thúc để
làm cho Chúa Kitô có một vị trí mới trong bối cảnh
mới. Họ đă đọc được dấu chỉ
của thời đại và đáp ứng lại những
nhu cầu cấp bách của Giáo hội và xă hội. Bởi
đó, đặc sủng luôn luôn gắn liền và định
hướng cho sứ mệnh truyền giáo.[33]
Các đấng sáng lập chính là những
điểm hội tụ và hợp nhất của tất
cả các môn đệ của họ. Các đấng sáng lập
là những người hướng dẫn các môn đệ
của họ tới sự hiểu biết về mầu
nhiệm Chúa Kitô và sống theo Tin mừng của Ngài. Kinh
nghiệm về Thiên Chúa của đấng sáng lập thu
hút các môn đệ của họ. Họ và các môn đệ
của họ được liên kết và hợp nhất
với nhau trong cùng một kinh nghiệm thiêng liêng. Sự
liên kết và hợp nhất này giúp củng cố và nuôi
dưỡng sự phát triển của một Giáo hội
đang được đổi mới không ngừng bởi
Thần Khí. Các môn đệ không đóng băng đặc
sủng của đấng sáng lập của họ,
nhưng phải sống, đào sâu và thích nghi vào trong môi
trường sống của thời đại họ. Chúa
Thánh Thần, nguồn gốc của mọi đặc sủng,
đang đ̣i hỏi nơi họ ḷng trung thành với
đặc sủng của đấng sáng lập và sự
sáng tạo.[34]
Đặc sủng được ban
cho các cộng đoàn tu tŕ là để xây dựng và phục
vụ Giáo hội. Các đấng sáng lập t́m kiếm cách
thức để yêu Giáo hội với trái tim của Chúa
Giêsu và yêu Chúa Giêsu với trái tim của Giáo hội. Bởi
thế, đời sống thánh hiến sẽ không thể sinh
hoa trái trong Giáo hội địa phương, nếu nó
không bám chặt vào nguồn gốc của nó, với một
ḷng trung thành năng động, trong tinh thần và đặc
sủng của đấng sáng lập.[35]
Đặc sủng mà đấng sáng lập
nhận được có 2 mục đích khẩn cấp:
Một mặt, nhu cầu trở về với Tin mừng
(một cách thức bước theo Chúa Kitô) và phương
cách thực hiện sự trở về nguồn gốc
này; mặt khác, đáp ứng lại t́nh huống lịch sử
của Giáo hội, đặc biệt là trong mối quan hệ
với nhu cầu cấp bách của Giáo hội:[36]
1) Trở về với Tin mừng
Mọi cộng đoàn Kitô hữu
được sinh ra và lớn lên bởi Lời Chúa (x. 1Tx
1, 5-10). Sách Công vụ tông đồ đă mô tả cuộc
“hành tŕnh” của Lời Chúa: tới bất cứ đâu, Lời
Chúa đều sinh ra Giáo hội. Giáo hội là một sự
triệu tập: một ơn gọi chung, được
liên kết v́ danh Chúa Giêsu, trong Lời của Ngài, sự hiện
diện của Ngài (x. Mt 18, 20) cho tới khi trở nên một
trong Chúa Kitô. Lời Chúa xây dựng cộng đoàn. Lời
Chúa là Lời cứu độ (x. Cv 13, 26), Lời hằng
sống (x. Pl 2, 16), Lời chân lư (x. Gc 1, 18).
Nguồn gốc và nền tảng của
đoàn sủng của một hội ḍng là Lời nhập
thể nơi đấng sáng lập. Hành động của
Thần khí mạc khải và sự thật, người dạy
“tất cả sự thật” và gợi lại những Lời
của Chúa Giêsu (x. Ga 14, 24-26; 16, 13), dẫn các đấng
sáng lập vào trong sự hiểu biết sâu xa về một
“Lời” đặc biệt và qua đó mở ra sự hiểu
biết Kinh thánh cho họ (x. Lc 24, 25).[37]
Các đấng sáng lập đă nhận được Lời
Chúa trong t́nh huống lịch sử đặc biệt của
họ và họ được kêu gọi để sống
lư tưởng của nước trời noi gương
Chúa Kitô theo một cách mới. Lịch sử Giáo hội cho
chúng ta thấy rằng những h́nh thức mới của
đời sống thánh hiến được sinh ra là kết
quả của sự trở về với Tin mừng, trong
những giai đoạn khi mà Giáo hội đang trải qua
những suy đồi về đạo đức và luân
lư, sự cám dỗ về quyền lực, v.v.
Thực ra, vào những thế kỷ
đầu, không có sự phân biệt về nếp sống
giữa người Kitô hữu và tu sĩ. Từ giữa
thế kỷ III, nhất là từ thế kỷ IV, đă
có những người, khi thấy đời sống
đạo sa sút do ảnh hưởng của quyền lực
và tục hóa, t́m vào sa mạc để sống đời ẩn
tu. Họ muốn trở về với nếp sống của
cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi.[38]
Thánh Basil và thánh Francis đều nhấn mạnh đến
đời sống trung thành theo Tin mừng, nghĩa là trở
về với Tin mừng. Thánh Pachomius, thánh Augustine và sau
đó, toàn bộ truyền thống Benedictine đă nỗ lực
sống theo tinh thần của cộng đoàn Giêrusalem
nguyên thủy. Các ḍng hành khất (Đa minh, Phanxicô, Augustinô,
Carmelo, v.v.) ra đời từ thế kỷ XIII đáp ứng
lại nhiều phong trào cải cách, kêu gọi Giáo hội
trở về với nếp sống đơn sơ, giản
dị của thời nguyên thủy. Những ḍng khành khất
này đề ra lối sống Phúc âm tinh ṛng trong sự hiệp
thông với Giáo hội. Tất cả họ, bằng cách
này hay cách khác, đều muốn trở về với nguồn
gốc của đời sống Kitô hữu.[39]
Nhiều người lúc đầu không có ư định
thành lập một hội ḍng, nhưng sự nhiệt tâm sống
theo Tin mừng của họ đă thức tỉnh những
người đương đời và lôi kéo nhiều
người theo họ.[40]
Mục đích của sự “linh hứng
ban đầu” của các hội ḍng là để thăng tiến
một lối sống Phúc âm trong Giáo hội và những cách
thức để thực hiện nó. Qui luật tối
thượng của họ là việc theo Chúa Kitô. Cuộc sống
của họ phải qui chiếu theo khuôn mẫu này, nghĩa
là bắt chước gương sống của Ngài (vâng
phục, khó nghèo, thanh khiết), thực hành những ǵ Ngài
giảng dạy, cách riêng trong bài giảng trên núi. Phúc âm là luật
sống cho mọi Kitô hữu. Nhưng mỗi hội ḍng
đă thể hiện một cách rơ ràng và tươi mới
đối với những giá trị của Tin Mừng. Mục
đích của họ là thể hiện một đời sống
theo Phúc âm trong trinh sạch, khó nghèo, vâng lời và trong cộng
đoàn. Sự linh hứng ban đầu nhấn mạnh
đến chất lượng của cuộc sống. Luật
của ḍng Phanxicô tŕnh bày rằng mục đích của nó
là “sống Phúc âm bằng cách sống vâng lời, không có của
cải riêng và giữ đức khiết tịnh.”[41]
2) Đáp ứng những nhu cầu cấp
bách của Giáo hội và xă hội:
Từ thời Trung cổ, ư thức về
sứ vụ ngày càng trở nên mănh liệt. Đời tu
không chỉ lo sống Phúc âm, mà c̣n hiến thân đi rao giảng
Phúc âm như Chúa đă truyền dạy (x. Lc 10, 1- 15). Nhiều
nhóm được thành lập để đáp ứng lại
những t́nh huống lịch sử nào đó, thực hiện
một sứ mệnh nào đó bên trong hoặc bên ngoài cộng
đoàn: qua việc hăm ḿnh và khẩn cầu cho trần thế
trong đời sống chiêm niệm, qua việc loan báo Tin Mừng
trong những h́nh thức phục vụ khác nhau.
Vào thế kỷ XI- XII, ta thấy xuất
hiện 3 loại ḍng: những ḍng bác ái chuyên săn sóc những
người di cư, người bệnh, người hành
hương; những ḍng được lập ra để
cứu những Kitô hữu bị bắt làm nô lệ; những
ḍng hiệp sĩ, lo giải phóng và bảo vệ những
nơi thánh ở Palestine. Một số ḍng thuộc 3 loại
này gồm: ḍng bệnh viện thánh Antôn, ḍng bệnh viện
Chúa Thánh Thần, ḍng Chúa Ba Ngôi, ḍng Đức Bà chuộc kẻ
làm tôi, ḍng Đền thờ, ḍng hiệp sĩ Malta.[42]
Từ thế kỷ XIII, cùng với sự
xuất hiện của các ḍng hành khất, nhiều hội
ḍng đă được thành lập, góp phần làm phong phú
thêm đời sống và hoạt động của Giáo hội.
Trong thời cận đại, nhiều
ḍng ra đời để đáp ứng những nhu cầu
khác nhau của Giáo hội hay xă hội, như giáo dục,
chăm sóc bệnh nhân, người già, trẻ mồ côi,
người tàn tật, v.v.[43]
Thế kỷ XIX đă đánh dấu sự phát triển mạnh
mẽ của những hội ḍng loại này. Chỉ trong
khoảng thời gian này, có khoảng 600 cộng đoàn mới
được thành lập.[44]
Thế kỷ XX ghi dấu ấn của một đấng
sáng lập được cả thế giới khâm phục
và ngưỡng mộ: mẹ Têrêxa Calcutta. Ḍng của mẹ
đă đem t́nh yêu Thiên Chúa đến với những
người cùng khốn nhất qua việc phục vụ
trong khiêm nhường.
Trong những trường hợp này, với
ơn của Chúa Thánh Thần, các đấng sáng lập
đă khám phá ra một nhu cầu đặc biệt trong
Giáo hội và quyết định để đáp ứng
nhu cầu đó. Động lực bên trong thúc đẩy
họ phải làm một cái ǵ đó, dùng một
phương tiện nào đó, để đạt
được một mục đích nào đó. Đó là lư
do tại sao những hội ḍng thuộc loại này, các
đấng sáng lập và những môn đệ đầu
tiên của họ đă thực hiện sứ vụ mà họ
đă chọn: Những tu sĩ Đa Minh, ḍng Tên, ḍng Claret
đă là những nhà thuyết giáo lưu động trước
khi họ được thiết lập thành hội ḍng.
Nhiều ḍng nữ đă bắt đầu chỉ là một
nhóm nhỏ, hoạt động trong một giáo xứ hay
giáo phận, hoặc một hiệp hội thiện chí, hiến
dâng cho những hoạt động đặc biệt. Rồi
sau khi lớn mạnh, họ xin Ṭa thánh phê chuẩn. Jean
Baptiste de la Salle, Nano Nagle, Edmund Rice và Theresa Gerhardinger đều
bắt đầu bằng cách lập một trường
học, và kết thúc bằng việc lập nên một hội
ḍng.[45]
Luật sống, cách tổ chức, việc
đào tạo những thành viên mới được phát
triển dần dần chung quanh trục sứ vụ nguyên
thủy này. Lối sống độc thân, khó nghèo và đời
sống cộng đoàn ngay từ đầu đă
được coi như là những yếu tố bản
chất của sự hiến thân của nhóm cho Thiên Chúa
trong sứ vụ đó. Thánh Ignatius và những người
bạn của ngài đă hứa giữ khiết tịnh và
khó nghèo nhiều năm trước khi họ quyết định
thành lập một hội ḍng. Thánh Anthony Mary Claret và những
nhà truyền giáo đầu tiên của ngài đă sống khiết
tịnh, khó nghèo và vâng lời, thậm chí trước khi họ
có bất cứ sự hiến dâng chính thức nào, và nhiều
năm trước khi sự hiến dâng đầu tiên của
họ được thay thế bằng những lời
khấn đơn.[46]
Ở Việt Nam, ngay từ khi các nhà
truyền giáo mới đến đây, họ đă tổ
chức những Hội thày giảng và các ḍng Mến Thánh
Giá để giúp họ trong việc truyền giáo. Chúng ta có
thể coi những tổ chức này lúc đầu như
là những tu đoàn sống chung không có lời khấn.
Nhưng qua thế kỷ XX, đặc biệt là từ khi
bộ giáo luật 1917 ra đời, họ đă dần dần
trở thành ḍng tu với ba lời khấn.[47]
Sứ mệnh của hội ḍng không
chỉ là một phần của đặc sủng,
nhưng c̣n là yếu tố đặc biệt mà đặc
sủng này phát triển tới mức hoàn hảo của
nó. Đời sống thánh hiến không thể hiểu
được nếu không có sự qui chiếu không ngừng
và rơ ràng với sứ mệnh thích hợp của nó.[48]
Ngày nay, các hội ḍng càng ư thức hơn về sứ mệnh
của họ trong việc phục vụ những nhu cầu
tinh thần hay vật chất của nhân loại theo đặc
sủng của ḿnh. Văn kiện “Tu sĩ với sự
thăng tiến con người” (1980) của Bộ Tu sĩ
đă nói về sự phục vụ người nghèo, dấn
thân bênh vực họ và tranh đấu cho công bằng xă hội
của họ. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă đề
cao sự đóng góp của họ vào công việc truyền
giáo (x. RM 65, 69- 70).
Tóm lại, Chúa Giêsu kêu gọi các môn
đệ để họ ở với Ngài và để
được Ngài sai họ đi (Mc 3, 14). Các hội ḍng
được thành lập không chỉ v́ mục đích
đáp ứng những nhu cầu của Giáo hội và xă hội,
nhưng một lối sống Tin mừng cụ thể
đă phát sinh ra một cách sống mới của đời
sống Kitô hữu. T́nh yêu Thiên Chúa phát sinh và thúc đẩy
t́nh yêu tha nhân. Thật vậy, không những bắt chước
đời sống của Chúa Kitô, sự tận hiến
c̣n là tham gia vào sứ mạng của Ngài nữa, tức
công cuộc cứu độ thế giới. Họ làm cho
Chúa Kitô hiện diện giữa nhân loại qua việc cầu
nguyện trên núi, rao giảng cho đám đông, chữa lành
những người bệnh, khuyên nhủ các tội nhân
ăn năn sám hối, chúc lành cho trẻ em và ban ơn lành
cho mọi người, trong tinh thần vâng phục thánh ư
Chúa Cha (x. LG 46; PC 14; Can 577).
c. Thần Học về Đặc Sủng
của Đấng Sáng Lập Theo Một Số Nhà Thần
Học Đương Thời[49]
- Jean Beyer, sj
Ơn gọi tu tŕ là một
ơn gọi tập thể để theo Chúa Kitô,
một ơn gọi được điều chỉnh qua lịch sử
và qua hoa trái tinh thần của đấng sáng lập. Beyer
xem xét đặc sủng của đấng sáng lập
dưới hai chiều kích bổ túc cho nhau:
+ Cá nhân: sự biến đổi con
người của đấng sáng lập trong sự chuẩn
bị cho một sứ mệnh truyền giáo rơ ràng và đặc
thù trong Giáo hội.
+ Tập thể, bao gồm mọi
thành viên của hội ḍng: qua đời sống của họ,
họ tạo ra một h́nh thức lịch sử của
kinh nghiệm về Thần khí của đấng sáng lập
mà qua đó, dự định cho việc h́nh thành một cộng
đoàn của niềm tin, hy vọng và t́nh yêu, trong và cho
Giáo hội, một cộng đoàn sống đời sống
thần linh.
Trở về với đặc sủng
của đấng sáng lập có nghĩa là bám chặt vào mảnh
đất tinh thần của con người Thần khí
đó. Nó có nghĩa là trở về với những điểm
xuất phát ban đầu của hội ḍng để khám
phá lại khía cạnh tinh thần trong nhiều cách diễn
tả của đặc sủng, được nối kết
qua những nhiệm vụ và bổn phận khác nhau trong hội
ḍng. Đặc sủng của đấng sáng lập
chiếm hữu một đặc tính nền tảng mà
Beyer gọi là “hoa trái tinh thần” và Beyer đặt nó vào
trong cương vị làm cha hay làm mẹ của đấng
sáng lập. Hoa trái tinh thần này được diễn tả
một cách “huyền bí” trong hội ḍng, qua đó, mỗi
thành viên, trong sự hài ḥa và hợp nhất với đấng
sáng lập, sống kinh nghiệm Thần khí ban đầu
và làm phong phú nó với ân sủng và tài năng tự nhiên của
chính ḿnh. Hoa trái tinh thần đó được làm phong phú
thêm bởi mỗi ơn gọi mới. Mỗi ơn gọi
mới trong hội ḍng là một sự làm mới lại
đặc sủng ban đầu, một ơn gọi
để giới thiệu căn tính của hội ḍng cho
Giáo hội và thế giới với một sức mạnh
được đổi mới. Bởi v́ đặc sủng
được ban không chỉ cho hội ḍng, nhưng cho
toàn Giáo hội. Ngay cả khi nó được sinh ra và mang
lại hoa trái chỉ trong Giáo hội địa
phương, nó vẫn mang chiều kích Giáo hội hoàn vũ,
v́ Giáo hội địa phương là Giáo hội hoàn vũ
thu nhỏ. Đặc sủng đó chỉ có thể mất
đi qua sự bất trung hoặc thiếu hiểu biết.
Đặc sủng luôn gắn liền
với sứ mệnh truyền giáo cách đặc biệt.
Đó là để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô qua việc
làm chứng bằng một đời sống đặc
biệt và hoạt động mục vụ của mỗi
hội ḍng tại Giáo hội địa phương. V́ thế,
như một ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh
Thần ban cho toàn Giáo hội, Giáo hội cần nhận ra,
chăm sóc, bảo vệ, tôn trọng và tiếp đón
đặc sủng vào trong đời sống của ḿnh,
nhất là trong hoạt động mục vụ nào đó
mà đặc sủng được trao ban để phục
vụ.
- Jean Marie Roger Tillard, op.
Đời sống thánh hiến là
bí tích của Giáo hội, là một dấu chỉ quyền
lực và sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế
giới, kiểu mẫu của đời sống mới
trong Thần khí. Các đấng sáng lập được
coi như là những người điều phối lịch
sử cứu độ mà qua đó, Thiên Chúa tiếp tục
nói với dân Ngài. Họ, qua cách sống của họ, trở
thành những dấu chỉ ngôn sứ, nhắc nhở Giáo
hội rằng trung tâm của số phận con người
nằm ở sự giàu có của Thiên Chúa.
Người tu sĩ ngày nay biểu lộ
niềm tin của họ qua bằng chứng của đời
sống, một đời sống minh chứng t́nh yêu mănh
liệt của họ v́ bước theo Chúa Kitô qua việc
bước theo đấng sáng lập của họ.
Trở về với nguồn gốc của
hội ḍng không phải là giữ khư khư lấy đặc
sủng ban đầu của nó, mà là biết thích nghi nó với
bối cảnh mới. Bởi v́ đặc sủng luôn
luôn là một ân huệ sống động, không chỉ
trong quá khứ nhưng cả trong hiện tại và
tương lai. Đó là ơn Chúa Thánh Thần ban để
củng cố và nuôi dưỡng Giáo hội.
- Juan Manuel Lozano, cmf
Có thể nói rằng mọi hội ḍng
đều bắt đầu từ ơn gọi của một
người: đấng sáng lập. Các đấng sáng lập
đă nhận được đặc sủng trực tiếp
từ Chúa Thánh Thần và rồi qui tụ các môn đệ
của họ để cùng chia sẻ và sống theo cùng một
ân huệ ấy. Những yếu tố tinh thần (cách sống
những lời khuyên Phúc âm và những giá trị Tin Mừng,
cách phục vụ Giáo hội) thuộc về đặc sủng
của các đấng sáng lập, gắn liền với
ơn gọi của họ, được truyền lại
cho các môn đệ của họ. Các môn đệ của họ
được Thiên Chúa kêu gọi để chia sẻ cùng
một đặc sủng ấy và qua đó, họ t́m thấy
ư nghĩa của chính ơn gọi của họ. Có thể
nói họ nhận được cùng một ơn gọi với
đấng sáng lập.
Hai mục đích căn bản của
đặc sủng được ban là xây dựng Giáo hội
và v́ lợi ích của nhân loại. Bởi đó, đặc
sủng của đấng sáng lập cần được
thể hiện qua sứ mệnh. Không có sự hiểu biết
rơ ràng về sứ mệnh truyền giáo và căn tính của
ḿnh trong Giáo hội và trong thế giới, một hội
ḍng sẽ có nguy cơ đánh mất chính ḿnh hoặc suy
tàn.
Đặc sủng của đấng
sáng lập luôn bị thách thức bởi hiện tại và
tương lai, cần được tiếp tục,
đào sâu, hoạch định và sống luôn trong sự tiếp
nối những lư tưởng và ư định sâu xa nhất
của đấng sáng lập. Những biến cố lịch
sử có thể làm phong phú hay bào ṃn những lư tưởng
và ư định của chúng ta, nhưng giữa những biến
cố dao động không thể tránh được, chúng
ta thực sự nhận ra căn tính của chúng ta. Căn
tính này là sự hài ḥa giữa sự trung thành với sự
linh hứng ban đầu và sự thích ứng không ngừng
với Giáo hội sống động và những thực tế
của lịch sử.
- Mario Midali, sdb
Chúng ta không thể giản lược
đặc sủng của đấng sáng lập vào trong một
công thức, bởi v́ công thức sẽ đóng khung nó và có
thể sẽ trở nên lỗi thời. Đặc sủng
luôn là một thực tế sống động. Điều
quan trọng là chúng ta phải mô tả nó với tất cả
những đặc thù của nó và sống nó một cách hiệu
quả trong sự trung thành với kinh nghiệm và sứ mệnh
truyền giáo ban đầu của đấng sáng lập.
Midali phân biệt giữa đặc sủng
của đấng sáng lập và tinh thần của đấng
sáng lập. Đặc sủng thuộc lănh vực đức
tin, hành động của Thiên Chúa. Tinh thần của
đấng sáng lập là sự đáp ứng của con
người, hành động của con người.
- Giuseppe Oliviero Girardi, sci
Căn tính tông đồ và tinh thần
của một hội ḍng không đơn giản đến
từ sự thực hành những lời khấn hay lời
khuyên Phúc âm, nhưng đến từ sự chia sẻ
đặc biệt một kế hoạch của Thiên Chúa.
Sự chia sẻ này được biểu lộ trong
đặc sủng và ơn gọi của mọi đấng
sáng lập. Nó được nhập thể vào trong đấng
sáng lập và đời sống của họ, bởi v́ họ
được chọn bởi Thiên Chúa để lập
nên một cộng đoàn tu mới trong Giáo hội.
Đặc sủng không chỉ
được cho riêng đấng sáng lập, nhưng c̣n
được cho v́ cộng đoàn mới được
lập nên và v́ lợi ích chung. Trước hết, đặc
sủng lớn lên trong chính con người của đấng
sáng lập, mặc dù trong một bối cảnh xă hội,
văn hóa và Giáo hội nhất định. Rồi, trong khi
giữ lại căn tính của nó, đặc sủng cũng
có khả năng thích ứng và lồng vào những thực
tế mới theo nhu cầu của thời đại, con
người, cộng đoàn, Giáo hội và xă hội. Các
thành viên của hội ḍng chia sẻ cùng một đặc
sủng với đấng sáng lập và cùng một nguồn
gốc chung. Mỗi người đều góp phần làm
phong phú đặc sủng ấy.
- Fabio Ciardi, omi
Đặc sủng của đấng
sáng lập được xem như là kinh nghiệm,
được h́nh thành qua Chúa Thánh Thần và dẫn tới
sự hiểu biết về mầu nhiệm Chúa Kitô và Tin
mừng của Ngài. Đây là một nét phác họa của một
công việc phục vụ, được thiết kế
để đáp ứng lại một t́nh huống lịch
sử nào đó của Giáo hội và xă hội. Đó là
một kinh nghiệm nên nó được truyền lại
cho các môn đệ. Ciardi xem đặc sủng của
các đấng sáng lập như là một phần của sự
thánh thiện của họ và một phần của sự
lớn mạnh và sức sống thanh xuân của Giáo hội.
Ciardi cũng đưa ra 4 chiều kích
căn bản của đặc sủng của đấng
sáng lập:
1)
Thần khí
Đây là hành động của Chúa
Thánh Thần để đổi mới Giáo hội từ
bên trong. Chúa Thánh Thần thực hiện công việc này bằng
sự hiện diện của Ngài nơi một người,
qua sự linh hứng ban đầu, để thực hiện
một sứ mệnh đặc biệt trong Giáo hội.
Điều này đặt đấng sáng lập, con người
của Thần khí, vào lúc khởi đầu của một
cộng đoàn tu tŕ mới. Tuy nhiên, đấng sáng lập
không phải là một dụng cụ thụ động
trong bàn tay Thiên Chúa. Đặc sủng tạo ra nơi ngài
những thái độ và hành động và thôi thúc ngài để
khởi xướng công việc trong và v́ Giáo hội. Thật
vậy, nơi đấng sáng lập, chúng ta vừa thấy
được công việc của Thiên Chúa, vừa thấy
được sự đáp trả của con người.
Có thể nói rằng ơn gọi để trở thành
đấng sáng lập cũng là ơn gọi để trở
thành ngôn sứ.
2)
Chúa Kitô và Tin mừng
Chúa Thánh Thần làm cho đấng sáng lập
trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa
Kitô. Sự tập trung vào Chúa Kitô giúp đấng sáng lập
hoàn thiện mọi kinh nghiệm trong đời sống của
ngài. Thật vậy, sự linh hứng để trở
thành đấng sáng lập bao gồm khả năng thâm nhập
vào một khía cạnh đặc biệt nào đó của mầu
nhiệm Chúa Kitô và đạt được sự thẩm
thấu mới về con người của Ngài. Chúa Giêsu,
bên cạnh việc hướng dẫn hội ḍng qua sự
thẩm thấu mới này, cũng là tiêu chuẩn mà nhờ
đó, hội ḍng đọc Tin mừng và mầu nhiệm
cứu độ và khám phá ra h́nh thức phục vụ của
nó trong Giáo hội. Qua đó, việc nhập thể cứu
chuộc của Chúa Kitô được phản ánh trong tất
cả các thành viên và được chia sẻ bởi họ.
Chúa Thánh Thần kêu gọi các đấng
sáng lập hướng đến một con đường
thánh thiện mới bằng cách ban cho họ sự hiểu
biết đặc biệt về mầu nhiệm Chúa Kitô
mà nhờ đó, con đường thánh thiện mới
được bắt đầu. Thật vậy, bằng
cách biểu lộ kinh nghiệm về Tin mừng trong đời
sống và hành động của họ, các đấng sáng
lập trở thành “những nhà chú giải Thánh kinh sống
động” của một sự khôn ngoan được
múc lấy từ Thần khí.
3)
Giáo hội
Giáo hội thực hiện nhiệm
vụ đào sâu tính xác thực của đặc sủng,
nh́n nhận, phê chuẩn và đón nhận đặc sủng
như là ân huệ mà Chúa Thánh Thần ban cho toàn Giáo hội.
Nh́n vào lịch sử của các hội ḍng ta thấy
đôi khi có đối nghịch giữa đặc sủng
và thẩm quyền trong Giáo hội, bởi v́ tính cách ngôn sứ
mới của nó có thể gây ra sự lẫn lộn cho thẩm
quyền của Giáo hội. Đấng sáng lập, đồng
thời là một ngôn sứ, v́ đă đọc được
dấu chỉ của thời đại và dám dấn thân
để đáp lại những nhu cầu cấp bách của
Giáo hội và xă hội. Vị ngôn sứ thường mạnh
dạn lên án những bất công trong xă hội và Giáo hội
và loan báo một triều đại của nước
Thiên Chúa b́nh an, công chính và t́nh yêu. Sự lên án và loan báo này
thường gây ra hiểu lầm và chống đối. Sự
đau khổ này là một phần của mầu nhiệm
Vượt qua của Chúa Kitô, mở ra cho đấng sáng lập
và công việc đó tới chiều kích Giáo hội trọn
vẹn hơn.
4)
Đơm bông kết trái
Đây là sự biểu thị đặc
điểm của đặc sủng, bởi v́ nó dẫn
những thành viên khác nhau chia sẻ một cách tích cực
cùng một kinh nghiệm về Chúa Thánh Thần. Qua sự
chia sẻ này, họ cùng nhau nối dài sự hiện diện
của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại. Chính qua cộng
đoàn mà cương vị làm cha/làm mẹ của đấng
sáng lập được xem như là yếu tố căn
bản và đặc thù của đặc sủng của họ.
Điều này mang lại ngày sinh cho cộng đoàn tu mới
trong ḷng Giáo hội.
Đấng sáng lập mời gọi
các môn đệ của họ hướng đến một
kế hoạch chung trong Thánh Thần. Đó là một sự
kêu gọi để chuyển giao và truyền đạt
cho các thế hệ sau những yếu tố nền tảng
mà chúng giống như là mă di truyền tinh thần. Mă di truyền
tinh thần này làm cho cộng đoàn tu tŕ trưởng thành
theo thời gian và nơi chốn đúng với kiểu mẫu
của nó như là một gia đ́nh. Nó tặng cho Giáo hội
một nét đặc sắc riêng biệt và tô điểm
cho Thân Thể Chúa Kitô với những ân sủng tuyệt vời
khác nhau
3. Đặc Sủng Lập Ḍng (Thành Lập)
Tại thời điểm thành lập,
luôn luôn có một đấng sáng lập, người
được Thần khí ban cho đặc sủng thành lập.
Đặc sủng thành lập được chia sẻ với
cộng đoàn, thuộc về người sáng lập và
các môn đệ của họ. Sự giàu có về tinh thần
của đặc sủng thành lập tùy thuộc một
cách đặc biệt vào mă di truyền tinh thần, mà Chúa
Thánh Thần đă chọn để đặt vào trong
đặc sủng của đấng sáng lập. Đặc
sủng thành lập luôn hiện diện trong bất cứ
loại thành lập nào. Nó luôn luôn có một mối quan hệ
đặc biệt với những điểm khởi
đầu của việc thành lập, và đặc biệt
với thời gian khi vị sáng lập c̣n sống. Qua vị
này, những yếu tố căn bản về đặc
sủng của hội ḍng được rút ra. Đặc
sủng của đấng sáng lập biểu lộ chính
nó như là một đặc sủng chung, v́ nó được
chia sẻ với người khác ngay từ lúc khởi
đầu của cộng đoàn. Nó được làm
phong phú và làm sáng tỏ bởi kinh nghiệm ban đầu của
cộng đoàn đó.[50]
Đặc sủng thành lập xác định
bản chất, tinh thần, mục đích và đặc
tính, là những yếu tố cấu thành di sản thiêng
liêng của mỗi hội ḍng và làm nền tảng cho ư nghĩa
của căn tính, một yếu tố then chốt cho sự
trung thành của mỗi tu sĩ (x. EE 11).
4. Đặc Sủng (Đoàn Sủng)
của Hội Ḍng
Đặc sủng của đấng
sáng lập được truyền lại cho các môn đệ
của họ. Cộng đoàn, những môn đệ của
đấng sáng lập, biểu lộ, làm sáng tỏ và phát
triển quyền năng của Thần khí mà đặc sủng,
ân huệ của Thiên Chúa, chứa đựng trong chính nó
ngay từ khi hội ḍng bắt đầu. Đặc sủng
(đoàn sủng)[51]
của hội ḍng diễn tả căn tính tinh thần của
các môn đệ dọc theo những đường nét
được dự định bởi đấng sáng lập.
Căn tính này phải được xem xét trong ánh sáng của
những môi trường thay đổi. Qua đó, nó trải
qua một sự đổi mới năng động,
nhưng không đánh mất ḷng trung thành của nó đối
với những điểm xuất phát ban đầu.
Mỗi thành viên đều có trách nhiệm
cho sự phát triển lịch sử hoặc sự gây trở
ngại cho đặc sủng. Không phải đấng sáng
lập, cũng không phải những môn đệ đầu
tiên của ngài, có thể nhận thức đầy đủ
những ǵ chứa đựng trong đặc sủng. Những
người đến sau phải t́m kiếm để hiểu
nó tốt hơn và sống đặc sủng đó trong sự
nhận thức về trách nhiệm truyền lại cho những
người kế tiếp một cách trung thành. Đây thực
sự là sự đáp trả của họ đối với
“Lời Chúa” đang cật vấn họ trong hoàn cảnh
hiện tại. Do đó, thật cần thiết để
nối kết đời sống và hoạt động của
tất cả những người cùng chia sẻ cuộc
phiêu lưu mạo hiểm theo ơn gọi của Thần
khí, bắt đầu với đấng sáng lập.[52]
Đặc sủng của hội ḍng
ôm trọn toàn bộ lịch sử của chính nó và hiện
diện trong tất cả các thành viên của nó. Điều
này xảy ra trong nhiều cách khác nhau, tùy theo tài năng và những
ân huệ tinh thần của mỗi thành viên, và trong sự
đo lường tương ứng với ơn gọi
mà họ nhận được. Không một thành viên nào có
thể nhận được đoàn sủng một cách
trọn vẹn, nó phải được khám phá lại
không ngừng, nó phải được t́m kiếm trong cộng
đoàn, trong sự hiệp thông với tất cả những
thành viên cùng nhận được một đoàn sủng
đó.[53]
Đặc sủng tồn tại qua thời
gian. Chúng ta không thể t́m thấy nó cách tự động
qua tư duy, qua việc duy tŕ những tập quán, thói quen,
kinh nguyện, hoạt động tông đồ, v.v. Chỉ
có thể kéo dài sự hiện diện của nó bằng sự
trung thành sáng tạo, một sự trung thành được
bám chặt vào nguồn gốc của nó, nhưng đồng
thời mở ra đối với dấu chỉ của
thời đại. Trung thành mà không thích nghi vào bối cảnh
mới, sẽ dẫn đến chỗ suy tàn; đổi
mới mà không bám vào gốc của nó, sẽ dẫn đến
chỗ lập nên một hội ḍng mới. Đó là lư do tại
sao sự đổi mới đời sống tu tŕ không
bao giờ được làm một lần cho tất cả.[54]
Sau cùng, khi chúng ta muốn tŕnh bày lại đặc sủng
cho thế hệ mai sau của hội ḍng, chúng ta phải
xem xét đến t́nh huống hiện nay của Hội
thánh và thế giới. Chắc chắn rằng chúng ta làm việc
này không phải để sửa đổi đặc sủng,
nhưng là để xem làm thế nào mà chúng ta đáp lại
những ư hướng sâu xa của đấng sáng lập
trong bối cảnh hôm nay. Đức Piô XII đă từng
nói với các hội ḍng rằng ngày nay họ phải làm những
ǵ mà đấng sáng lập, nếu c̣n sống, sẽ làm.
Chắc chắn trong một số trường hợp họ
sẽ lập lại những ǵ mà đấng sáng lập của
họ đă làm; nhưng cũng chắc rằng một số
sáng kiến mà các đấng sáng lập đă chọn trong
thời của họ, họ sẽ không chọn chúng đối
với bối cảnh hiện nay.[55]
Những dấu chỉ của thời
đại đang biểu lộ ư muốn của Thiên Chúa.
Trung thành với đoàn sủng là sự chăm chú lắng
nghe và trung thành với những ǵ Thiên Chúa đang đ̣i hỏi
nơi hội ḍng theo những dấu chỉ này.[56]
Trong mỗi Tổng hội, hội ḍng phải nh́n lại
quá khứ của ḿnh, đọc và giải thích nó để
để t́m ra hướng đi cho tương lai của
ḿnh. Điều này có nghĩa là họ phải luôn duy tŕ kư ức
sống động về đấng sáng lập của họ
và luôn tiến tới một sự hiểu biết rơ
hơn về đặc sủng nguồn gốc của họ,
về sứ mệnh của họ trong Giáo hội và trong
thế giới.[57]
Qua đó, họ có thể làm cho đấng sáng lập
trở thành người tiên phong của Thần khí trong thời
của họ. Đó chính là chiều kích ngôn sứ của
đấng sáng lập, như George đă khẳng định:
“Các đấng sáng lập ở trước chúng ta, đi
trước chúng ta.”[58]
Mỗi thành viên phải nhận thức
rằng đặc sủng là của ḿnh, chính họ chứ
không ai khác phải tiếp tục, phát triển và mở rộng
kinh nghiệm đó. Nó được tiếp tục và thực
hiện trong những môi trường và những biến cố
khác với môi trường và những biến cố mà
đấng sáng lập của họ đă trải qua. Sự
phát triển của cộng đoàn làm phong phú thêm kinh nghiệm
của chính đấng sáng lập. Họ nên nhớ rằng
đời sống của hội ḍng của họ biểu
lộ, trong những t́nh huống lịch sử khác nhau, kế
hoạch ban đầu của Thiên Chúa, sứ mệnh và
ơn gọi của họ mà đấng sáng lập đă
thực hiện trong đời sống và kinh nghiệm của
ngài.[59]
Đây là nhiệm vụ của mọi thành viên. Nếu họ
không ư thức được như vậy, họ không chỉ
có nguy cơ đánh mất đi ư nghĩa của ơn gọi
chính họ, mà c̣n làm mờ đi căn tính đích thực
của hội ḍng của họ.[60]
Tinh thần của đấng sáng lập
tiếp tục thấm sâu và cho sức sống tới cộng
đoàn qua một truyền thống sống động. Mỗi
đặc sủng luôn chứa đựng một số
đặc tính nào đó. Một đặc sủng không bao
giờ bị nhốt lại trong một công thức thật
hay, nhưng nó có thể được đào sâu và làm phong
phú qua sự mô tả rơ hơn để dần dần có
thể hiểu được nó hơn. Nói cách khác, những
phần tử của hội ḍng là những người
chú giải đặc sủng của đấng sáng lập.
Trong suốt giai đoạn phát triển, cộng đoàn cần
phản ánh không ngừng trên kinh nghiệm nguồn gốc của
chính nó. Họ cần khôi phục lại kinh nghiệm
đó, kinh nghiệm mà đă được sống bởi
đấng sáng lập hoặc được khẳng
định lại và được phát triển bởi những
kinh nghiệm thích hợp từ kinh nghiệm đó. Trong
cách này, cộng đoàn khám phá ra làm thế nào mầu nhiệm
ơn gọi của nó được biểu lộ.[61]
Mỗi thành viên, tùy theo vị trí và nhiệm
vụ của ḿnh, đều có trách nhiệm góp phần vào
sự phát triển đoàn sủng của hội ḍng. Trách
nhiệm ở đây được hiểu là một cái
ǵ đó thôi thúc họ phải đáp ứng. Sự góp phần
của mỗi người trong sự hợp tác với
người khác, tạo nên sự phong phú và sức sống
cho đặc sủng và giúp hiểu được những
nét đặc biệt của nó hơn. Đó là lư do tại
sao công đồng Vatican II kêu gọi công việc canh tân nên
được thực hiện trong sự hợp tác của
cả cộng đoàn (PC 4). Cộng đoàn phải luôn t́m
kiếm cách tốt hơn để thích hợp với nhu
cầu “ngôn sứ” của đấng sáng lập của họ.
Trong cách này, cộng đoàn t́m cách để nhận ra và
đáp ứng những nhu cầu của thời đại
trong mọi t́nh huống.[62]
Tính cách đặc sủng của mỗi
hội ḍng đ̣i hỏi đấng sáng lập và các môn
đệ phải thường xuyên kiểm chứng xem họ
có trung thành với Chúa, với một khát vọng sâu xa muốn
trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa
Kitô để làm chứng cho một khía cạnh nào đó
trong mầu nhiệm của Người, có ngoan ngoăn vâng
theo sự hướng dẫn của Thần khí, có sáng suốt
quan tâm đến bối cảnh họ đang sống và
nhận thức về những dấu chỉ của thời
đại, có đang phục vụ Giáo hội và sẵn
sàng phục tùng hàng giáo phẩm, có dũng cảm trong sáng kiến,
có kiên tŕ trong hiến thân và có khiêm tốn chấp nhận
những nghịch cảnh không (x. MR 12, 51).
Sai lầm có thể xảy ra là khi chúng
ta “hiện đại hóa” đặc sủng, thay mới
hoàn toàn để cho nó hấp dẫn hơn, hoặc sử
dụng đặc sủng của đấng sáng lập
để phục vụ cho chính chúng ta, để biện
minh cho những quyết định và hành động của
chúng ta. Điều này có thể là tốt, nhưng nó không phải
là mục đích của đấng sáng lập. Nó có thể
phá đi những ǵ đă được dày công xây dựng
và làm mất đi đặc tính và căn tính của hội
ḍng.[63]
Việc dung ḥa giữa trung thành với sự thích nghi và
canh tân không dễ dàng. Những năm sau công đồng
Vatican II đă cho thấy những khó khăn đó: nhiều
ḍng đan tu muốn lấy lại ơn gọi nguyên thủy
không có chức linh mục của ḿnh; trái lại, một số
ḍng giáo dân (nam) lại muốn chuyển hướng sang
ḍng giáo sĩ. Bên Âu Mỹ, nhiều ḍng đă bỏ các
cơ sở giáo dục và y tế, v́ không c̣n thích hợp,
để t́m những cách thức mới phục vụ
người nghèo.[64]
Để khám phá và thích nghi đặc
sủng xác thực của đấng sáng lập vào bối
cảnh hiện tại, chúng ta phải khiêm tốn đặt
chính chúng ta vào trong vị trí của những người biết
lắng nghe (lắng nghe lời Chúa), cầu nguyện, ao
ước t́m kiếm trong một thái độ hoàn toàn sẵn
sàng và sẵn sàng để đưa những ǵ đă
được khôi phục vào trong thực tiễn.[65]
Một điều cần ghi chú ở
đây là chúng ta thường hiểu rằng đặc sủng
của đấng sáng lập được truyền lại
cho hội ḍng và nó trở thành đoàn sủng của hội
ḍng. Nhưng theo Sandra Schneiders, có những hội ḍng khó xác
định được đặc sủng của đấng
sáng lập, như những hội ḍng do Giám mục giáo phận
hay linh mục giáo xứ lập nên, để giúp họ
điều hành một cô nhi viện hoặc một trường
học đă có sẵn trong giáo phận hoặc giáo xứ của
họ. Bên cạnh đó, những vị sáng lập này không
biết ǵ nhiều về đời sống thánh hiến.
Bởi đó, Schneiders cho rằng đoàn sủng của một
hội ḍng cần được hiểu với nghĩa rộng
hơn. Nó không chỉ bao gồm đặc sủng của
đấng sáng lập, mà c̣n nền tảng và sự phát triển
theo gịng lịch sử của nó nữa.[66]
5. Đặc Sủng và Sứ Mệnh
(Mission)
Mỗi hội ḍng giống như một
cái cây: gốc rễ của nó là đặc sủng, thân cây
là linh đạo và hoa trái của nó là hoạt động
tông đồ hay sứ mệnh truyền giáo. Đấng
sáng lập nhận được đặc sủng để
mở ra một hướng đi mới của việc sống
những lời khuyên Phúc âm, một con đường nên
thánh (linh đạo) và đồng thời để
đáp ứng một nhu cầu nào đó của Giáo hội
(sứ mệnh truyền giáo). Nơi đấng sáng lập,
có thể sứ mệnh truyền giáo đang c̣n nằm
trong giai đoạn nảy mầm, nhưng nó sẽ trở
nên rơ ràng hơn đối với các thế hệ tiếp
theo.[67]
Thiên Chúa ban đặc sủng để
thực hiện kế hoạch của Ngài, nên đặc sủng,
kế hoạch của Thiên Chúa và sứ mệnh truyền
giáo luôn đan quyện vào nhau. Thiên Chúa có mục đích của
Ngài và Thần khí của Ngài ban đặc sủng cho ai
đó để thực hiện mục đích đó. Tách
khỏi mục đích này, đặc sủng không c̣n ư nghĩa.
V́ vậy, đoàn sủng của mỗi hội ḍng có thể
được định nghĩa là một ân huệ của
Thần khí được ban cho họ để cho phép họ
thực hiện sứ mệnh đặc biệt của họ.[68]
Các văn kiện của Giáo hội,
đặc biệt là các Đức Giáo hoàng đều
đề cập đến sứ mệnh truyền giáo
(mission) của các đấng sáng lập. Đặc sủng
của các đấng sáng lập th́ đa dạng. Giáo hội,
như Đức Gioan Phaolô II đă tŕnh bày, cần sự
đa dạng về đặc sủng và ơn gọi này,
bởi v́ cả sự phong phú về tinh thần và sự
phục vụ nhân loại của Giáo hội đều tùy
thuộc vào nó.[69]
Bởi vậy, Ad Gentes đă tŕnh bày rằng trong việc
xây dựng Giáo hội địa phương, việc thành
lập các hội ḍng cần phải được ưu
tiên ngang hàng với việc đào tạo hàng giáo sĩ (x.
AG 15, 18).
Đặc sủng luôn gắn liền
với sứ mệnh truyền giáo.[70]
Trong những hội ḍng hoạt động tông đồ,
yếu tố đầu tiên để đặc sủng
xuất hiện là sự nhận thức về một nhu
cầu thiết yếu nào đó trong Giáo hội và ơn gọi
để đáp ứng lại nhu cầu đó.
Được hướng dẫn bởi
Thần khí, nguồn gốc của mọi ơn gọi và
đặc sủng, đời sống thánh hiến, chính
nó, trở thành một việc truyền giáo (x. SAFC 9).
Văn kiện “Những Yếu tố Cốt yếu của
Đời tu” cũng khẳng định: “Sự thánh hiến
luôn đi kèm theo một sứ mệnh.” (EE 23) Chính Thần
khí thúc đẩy họ đảm nhận sứ mệnh
của Chúa Kitô. Thật vậy, ư thức về truyền
giáo thấm sâu vào tận huyết mạch của mọi
h́nh thức tu tŕ. Nó bao trùm mọi khía cạnh của đời
sống họ. Sự thánh hiến luôn ẩn chứa một
sứ mệnh và đặc sủng luôn gắn liền với
sứ mệnh đặc biệt của mỗi hội
ḍng. Bởi đó, việc truyền giáo là điều cốt
yếu đối với mọi hội ḍng, cả những
hội ḍng chuyên lo làm việc tông đồ, lẫn những
hội ḍng sống đời chiêm niệm. Ư thức truyền
giáo luôn là ưu tiên số một của mọi h́nh thức
tu tŕ (x. VC 19, 25, 72). V́ thuộc về bản chất của
Hội thánh, nên đời tu cũng gắn liền với
sứ mệnh của Hội thánh (x. LG 44). Sự tận hiến
của tu sĩ được Hội thánh tiếp nhận,
nên họ biết rằng họ cũng dấn thân để
phục vụ Hội thánh (x. PC 5). Những đặc sủng
khác nhau của các hội ḍng làm phong phú đời sống
của Giáo hội và góp phần vào sứ mệnh truyền
giáo của Giáo hội theo tính cách riêng của mỗi hội
ḍng.[71]
Mỗi hội ḍng có một sứ mệnh riêng trong Thân Thể
Chúa Kitô mà không ai khác có thể thay thế được. Nếu
họ không thực hiện nó, họ khước từ kế
hoạch của Thiên Chúa trao cho họ.
Tại mỗi Tổng hội, hội
ḍng cần xem xét lại sứ mệnh truyền giáo của
ḿnh và luôn biết thích nghi sứ mệnh đó vào trong bối
cảnh mới.
6. Thẩm Quyền của Hội Thánh
Mỗi hội ḍng có một vị trí
trong đời sống Giáo hội và một sứ mệnh
phải hoàn thành. Khi được thiết lập, hội
ḍng đương nhiên trở thành pháp nhân công trong Hội
thánh. Họ hoạt động nhân danh Hội thánh để
đạt được mục đích nhằm tới lợi
ích chung của Hội thánh (x. PC 8; Can 116, §1; 675, §3).
Ở đây, cần phân biệt việc
sáng lập và thiết lập. Việc sáng lập do ơn
Chúa ban cho một tín hữu nào đó, thôi thúc họ lập
nên một hội ḍng mới để đạt tới mục
tiêu nào đó. Việc thiết lập là một hành vi pháp
lư, thuộc thẩm quyền của Giáo hội
Lumen Gentium đă đặt đời sống
thánh hiến trong ḷng Hội thánh, để nhắc nhở
họ rằng việc theo Chúa không chỉ là lợi ích của
riêng họ, mà c̣n liên hệ tới cả Hội thánh nữa.
Do đó, công đồng đă khẳng định mối
liên hệ giữa đời tu với bản chất, sự
thánh thiện và sứ mệnh truyền giáo của Hội
thánh: đời tu được xem như là dấu chỉ
trong Hội thánh. Hoạt động của họ cần
được thực hiện trong sự hiệp thông với
Hội thánh. Họ cần duy tŕ mối tương quan với
Giám mục giáo phận trong tinh thần phục tùng và kính trọng.
“Hội thánh có thẩm quyền giải
thích các lời khuyên Phúc âm, điều hành việc thực
hành chúng bằng các luật lệ và thiết lập những
h́nh thức sống vững chắc bằng cách phê chuẩn
theo giáo luật.” (Can 576) Lumen Gentium 45 tŕnh bày: ngoan ngoăn
vâng theo sự thúc đẩy của Thần khí, hàng Giáo phẩm,
sau khi tu chính, chính thức phê chuẩn các luật ḍng do các
đấng sáng lập đề nghị. Rồi hàng giáo phẩm
luôn săn sóc và bảo trợ những hội ḍng
được thiết lập khắp nơi nhằm xây dựng
nhiệm thể Chúa Kitô để họ phát triển và sinh
hoa kết quả theo tinh thần của các đấng sáng
lập của họ.
Mọi đặc sủng xác thực
đều hàm chứa những yếu tố nào đó của
tính sáng tạo đích thực và sáng kiến đặc biệt
cho đời sống thiêng liêng của Hội thánh. Bởi
đó mà đôi khi nó gây ra những khó khăn, v́ không phải
lúc nào cũng dễ nhận ra ngay tác động của Thần
khí. Mutuae Relationes đă nhận định rằng
đặc sủng đích thực thường gắn liền
với thập giá (Thiên Chúa luôn thanh luyện những
người Ngài tuyển chọn để chuẩn bị
cho họ thực hiện công việc của Ngài), nhưng
nó thực sự hữu ích để phân định tính
xác thực của một ơn gọi (x. MR 12). Đây thực
sự là nhiệm vụ khó khăn và đầy trách nhiệm
của các Giám mục. Bởi v́ không phải lúc nào cũng dễ
phân biệt và đón nhận đặc sủng (x. CL 24).
Trong bối cảnh có nhiều cộng
đoàn mới ra đời hiện nay,[72]
để biện phân các đặc sủng, tông huấn về
đời sống thánh hiến (VC) đă nói: “Để có
thể gọi là đời sống thánh hiến, nguyên tắc
căn bản là những nét đặc thù của những
cộng đoàn và những nếp sống mới này cần
phải xây dựng trên những yếu tố chủ yếu
của thần học và giáo luật về đời sống
thánh hiến.[73]
Việc biện phân này bao gồm cả cấp độ
địa phương lẫn cấp độ hoàn vũ,
v́ cùng tuân phục một Thánh Thần duy nhất. Trong mỗi
giáo phận, Giám mục sẽ thẩm định tính chính
đáng và chứng tá đời sống của các đấng
sáng lập các cộng đoàn ấy, linh đạo của
họ, sự nhạy cảm của họ đối với
Giáo hội trong việc thực thi sứ mệnh,
phương pháp huấn luyện và cách thức gia nhập
cộng đoàn. Giám mục phải khôn ngoan lượng
định những nhược điểm có thể có
trong khi kiên nhẫn chờ đợi sự đơm bông
kết trái (x. Mt 7, 16), để có thể nhận ra tính xác
thực của đặc sủng. Cách riêng, Giám mục,
căn cứ trên những tiêu chuẩn rơ ràng, phải xác
định được năng lực của những
thành phần trong những cộng đoàn trên xin lănh nhận
các chức thánh.” (VC 62)
7. Làm Thế Nào Để Khám Phá Ra
Đặc Sủng của Đấng Sáng Lập?
Như đă tŕnh bày, đặc sủng
không thể định nghĩa hay giản lược vào một
công thức. Nó có thể được mô tả qua những
biểu lộ của nó. Nó là gia sản tinh thần của
cả hội ḍng và cần được sống, giữ
ǵn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài ḥa
với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên
(x. MR 11). Bởi vậy, để khám phá ra đặc sủng
của đấng sáng lập, chúng ta cần xem xét những
yếu tố sau:
-T́m hiểu về con người,
đời sống, bút tích... của đấng sáng lập:
Việc nghiên cứu về đời
sống, tinh thần và những bài viết của đấng
sáng lập không thể tách rời việc t́m kiếm đặc
sủng của một hội ḍng.[74]
Công đồng Vatican II nói về gia sản tinh thần của
mỗi hội ḍng. Gia sản đó gồm có tinh thần, ư
định của đấng sáng lập và những truyền
thống lành mạnh (x. PC 2). Ư định của đấng
sáng lập được bày tỏ qua bút tích, cách thức
xử sự hành động hoặc qua văn thư châu
phê của giáo quyền.
Chúng ta có thể đọc tất cả
những cuốn sách viết về đặc sủng và
đời sống thánh hiến, nhưng nếu chúng ta không
biết ǵ về đấng sáng lập của chúng ta, chúng
ta sẽ không biết được đặc sủng của
chúng ta. Đấng sáng lập phải được thấy
như là ch́a khóa để hiểu được bản
chất của hội ḍng. Đấng sáng lập là nơi
đầu tiên giúp chúng ta đào sâu đặc tính thực sự
của hội ḍng. Đấng sáng lập giống như một
gốc cây mà từ đó rút ra nhựa sống Thần khí.
Đó là lư do tại sao Girardi khẳng định rằng
để định rơ được những ư định
của Chúa Thánh Thần và hiểu được ư nghĩa
của căn tính và đặc sủng, chúng ta phải khám
phá lại đấng sáng lập. Để đào sâu đặc
sủng của Thần khí, chúng ta phải t́m hiểu đời
sống, gương sáng và lời dạy của đấng
sáng lập. Khi chúng ta nh́n vào kinh nghiệm tông đồ và
tinh thần, vào đời sống ngay lúc khởi đầu
sứ mệnh của đấng sáng lập, chúng ta có thể
thấy được Chúa Thánh Thần muốn ǵ cho Hội
thánh. Trong cách này, chúng ta có thể khám phá lại sự phong
phú và cảm xúc mănh liệt, những nét phác thảo, lược
đồ về tông đồ và tinh thần được
truyền lại cho chúng ta. Thật vậy, qua sự chia sẻ
của chính chúng ta vào trong đó, chúng ta có thể khám phá lại
đặc sủng của đấng sáng lập.[75]
Chúng ta phải bắt đầu từ
đấng sáng lập. Phải nghiêm túc nghiên cứu tiểu
sử về con người đă cho hội ḍng sức sống
của nó: một con người sống động và cụ
thể, đă hiện diện trong suốt giai đoạn
lịch sử cụ thể của Hội thánh; một con
người dần dần nhận thức về đặc
sủng của ḿnh và tiếp tục làm sáng tỏ nó qua lời
nói và hành động. Chúng ta cần tập trung vào những
dữ liệu để t́m ra ư nghĩa thực sự của
chúng. Nhưng chúng ta cần lưu ư rằng đặc sủng
không thể được đồng nhất hóa với
những ǵ mà đấng sáng lập đă làm, v́ hành động
của họ, chính nó, không phải là đặc sủng,
nhưng chính là cách thức mà họ đáp trả lại
ơn gọi của họ trong một t́nh huống lịch
sử nhất định. Chúng ta không chỉ dựa vào lư
thuyết, mà c̣n thực tế của lịch sử nữa,
cả trong những giai đoạn phát triển, lẫn những
giai đoạn đi trệch đường.
Thiên Chúa không kêu gọi đấng sáng
lập để làm những ǵ đă được làm,
để đi theo những con đường đă
được in dấu chân, v́ như vậy là bước
đi trong b́nh an. Ngài làm cho họ trở thành những
người cưu mang mầu nhiệm, mà mầu nhiệm
th́ luôn luôn mới và phải được khám phá,
đương đầu và lao vào.[76]
- T́m hiểu về bối cảnh (xă hội,
văn hóa, tôn giáo, Hội thánh) mà trong đó đấng sáng
lập nhận được đặc sủng:
Một hội ḍng được sinh
ra thường là để đáp ứng một nhu cầu
khẩn cấp nào đó trong Hội thánh và xă hội; do
đó, đặc sủng luôn gắn liền với sứ
mệnh. Chúng ta phải t́m hiểu xem làm thế nào đấng
sáng lập đă chấp nhận, mô tả và sống đặc
sủng đó trong bối cảnh văn hóa, xă hội, tôn
giáo và Giáo hội thời ngài.
Những lời nói và việc làm của
các đấng sáng lập cần được hiểu
trong bối cảnh lịch sử mà họ sống. Chúng ta
cần hiểu được tính cách ngôn sứ và sứ mệnh
của họ trong môi trường sống cụ thể;
qua đó, với sự hướng dẫn của Thần
khí, chính Người cũng đă dẫn dắt các đấng
sáng lập, chúng ta t́m ra được hướng đi
thích hợp cho hội ḍng chúng ta trong bối cảnh mới.
- T́m hiểu qua những môn đệ
đầu tiên của đấng sáng lập và những thế
hệ tiếp theo:
Mutuae Relationes nói về đặc sủng
như là “một kinh nghiệm về Thần khí, được
truyền lại cho các môn đệ để sống.” (MR
11) Đấng sáng lập đă truyền lại cho những
môn đệ đầu tiên kinh nghiệm về Thần khí
nền tảng này qua đời sống và kinh nghiệm
tinh thần của ngài. Những môn đệ đầu
tiên là những người làm phong phú thêm kinh nghiệm
ban đầu với những ân sủng của chính họ.
Các môn đệ làm sáng tỏ kinh nghiệm này qua chính đời
sống của họ. Giống như các môn đệ của
Chúa Kitô, họ sống trong sự hiệp nhất thân mật
với đấng sáng lập của họ. Họ đồng
hóa tinh thần của đấng sáng lập và trải qua
những kinh nghiệm mà đấng sáng lập đă vượt
qua và giải quyết những khó khăn trong bước
đầu thành lập. Họ cũng là những người
có cơ hội cảm nghiệm được đặc
sủng mà dẫn đến sự h́nh thành một cộng
đoàn tu mới. Họ có kinh nghiệm về nguồn gốc
xác thực của nó trong đời sống tinh thần và
tông đồ của Hội thánh. Họ sống cùng nhau với
đấng sáng lập, v́ họ chia sẻ ơn gọi cá
nhân của chính ngài. Ơn gọi cá nhân này chứa đựng
những ân sủng giúp họ hoàn thành sứ mệnh của
họ trong Hội thánh. Được nắn đúc qua sự
tương tác giữa các thành viên trong hội ḍng, đặc
sủng của đấng sáng lập phát triển vào trong
đặc sủng (đoàn sủng) của hội ḍng.[77]
Nhờ vào ân sủng của riêng họ, họ đă góp phần
vào sự phát triển ban đầu của hội ḍng. Qua
đó, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, họ
cũng chuẩn bị tính cách ngôn sứ cho con đường
tương lai của hội ḍng.[78]
Những thành viên mới bước vào
cộng đoàn v́ họ khám phá ra một căn tính nào
đó giữa ơn gọi cá nhân của chính họ và đặc
sủng của đấng sáng lập và các môn đệ của
ngài.[79]
Đặc sủng của đấng sáng lập được
truyền lại cho các thế hệ sau. Nó được
nuôi dưỡng, lưu lại trong huấn giáo tinh thần
cho các thế hệ mới, đào sâu và thực hiện. Những
yếu tố chính của nó, mục đích của hội
ḍng hoặc mối bận tâm lúc khở đầu của
hội ḍng, cách sống, môi trường tinh thần,
được mô tả trong hiến pháp, như là điểm
đối chiếu, nguồn sáng và nguồn nuôi dưỡng
thế hệ tiếp theo.[80]
Đặc sủng chỉ có thể hiện
diện trong những con người, trong trái tim của họ,
mặc dù sứ mệnh mà nó biểu lộ có tính cách chung.
V́ thế, t́m kiếm đoàn sủng của một hội
ḍng là công việc có vừa có tính cách tập thể, vừa
có tính cách cá nhân sâu xa. Những thành viên của hội ḍng cần
sự giúp đỡ để t́m ra nó, nhưng không ai có thể
làm thay cho họ.[81]
- T́m hiểu về lịch sử, hiến
pháp của hội ḍng:
Ư nghĩa của các đặc sủng
của các hội ḍng được diễn tả qua hiến
pháp và luật riêng của mỗi hội ḍng.[82]
Những biến cố quan trọng
đánh dấu sự trưởng thành và sự sống c̣n
của hội ḍng cần được xem xét, để
biết làm thế nào và dựa vào đâu mà đấng sáng
lập và môn đệ của ngài đă vượt qua
được những khó khăn. Mỗi Tổng hộị
của hội ḍng là một sự lượng giá, xem xét và
định hướng cho sứ mệnh truyền giáo theo
đặc sủng của hội ḍng trong giai đoạn sắp
tới.
Điều quan trọng cần ghi nhớ
là chính cộng đoàn, chứ không phải một cá nhân hay
một nhóm nào đó, mới có thể t́m hiểu một
cách đầy đủ về đặc sủng. Bởi
v́ cộng đoàn được sinh ra từ kinh nghiệm
về Thần khí của đấng sáng lập. Chính cộng
đoàn đă sống, đào sâu kinh nghiệm ban đầu
đó. Đây là một công việc tự t́m hiểu, tự
phân tích của cộng đoàn. Chúng ta có thể nói rằng
có 5 nhóm người liên quan đến đặc sủng
đó:
1)
Đấng sáng lập
Đấng sáng lập, đối
tượng chính, người cưu mang đặc sủng
và là người khai mở cộng đoàn và lịch sử
của nó.
2)
Các môn đệ
Những thành viên, với tất cả
ân sủng riêng của họ, tác động qua lại với
đặc sủng thành lập của đấng sáng lập.
3) Cộng đoàn
Cộng đoàn, trong nghĩa đầy
đủ của nó, bao gồm đấng sáng lập và các
môn đệ. Họ diễn tả toàn bộ mối quan hệ
tương tác trong cùng một kinh nghiệm ban đầu về
Thần khí.
4) Giáo quyền
Thẩm quyền của Hội thánh
liên hệ có nhiệm vụ đào sâu, nhận ra và phê chuẩn
tính xác thực của đặc sủng của đấng
sáng lập và của cộng đoàn.
5) Dân Thiên Chúa
Dân Thiên Chúa đón tiếp và nh́n nhận
đặc sủng mà nó khích lệ họ sống đời
Kitô hữu trọn vẹn hơn trong ḷng Giáo hội địa
phương.[83]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I.
Sách
- Antonio Romano. The Charism of the Founders:
The person and Charism of Founders in Contemporary Theological Reflection.
Ireland: St Pauls, 1994.
- Cassian J. Yuhaus, ed. Religious Life: The
Challenge of Tomorrow. New York: Paulist
Press, 1994.
- Fabio Ciardi. Koinonia- Spirituality and
Theology of the Growth of Religious Community. Quezon City:
Claretian Publications, 1999.
- Felicisimo Diez Martinez, OP. Refounding
Religious Life: Charismatic Life and Prophetic Mission. Quezon City:
Claretian Publications, 2000.
- Gerald A. Arbuckle, SM. From Chaos to Mission,
Refounding Religious Life Formation. London: Geoffrey Chapman, 1996.
- Jesus Alvarez Gomez. New Evangelization for the
Third Millennium. Quezon City: Claretian Publications, 1997.
- John Manuel Lozano, CMF. Foundresses, Founders
and Their Religious Families. Chicago: Claret Center for
Resources in Spirituality, 1983.
- Leonardo Boff. Church: Charism & Power-
Liberation Theology and the Institutional Church. New York: Crosss, 1992.
- Marcello Azevedo, SJ. Vocation for Mission- The
Challenge of Religious Life Today. New York: Paulist Press, 1988.
- M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ). Đời
tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II và Giáo luật,
Quyển I. The Daughters of St. Paul, 1986.
- Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật
Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3 và 4, Các Hội Ḍng Tận
Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. Rôma, 1993.
- Saint Francis of Assisi. Writtings and Early
Biographies. Chicago: Franciscan Herald Press, 1973.
- Sandra Schneiders. Religious Life in a New
Millennium, Volume I, Finding the Treasure- Locating Catholic Religious
Life in a New Ecclesial and Cultural Context. NewYork: Paulist Press, 2000.
- Teresa Ledóchowska Osu. In Search of the
Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union. Roma:
Ursulines of the Roman Union Via Nomentana 236, 1976.
- The 54th Assembly of the Union of Superiors
General (Unione Superiori Generali). For
a Creative Fidelity Refounding- Resituating Charisms, Redesigning Presence.
Rome 1998.
II. Tạp Chí
- F. George. Critères pour
découvrir et vivre le charisme du Fondateur aujourd’hui, trong Vie Oblate
Life 36 (1977).
- Futrell, J.C. Discovering the Founder’s charism,
in The Way Supplement 14 (1971).
- R. Mainka. Carisma e storia nella vita religiosa,
trong Bollettino UISG, số 58 (1981).
- S. McCarty. Touching Each Other at the Roots: A
Reflection on the Charism of the Founder, trong Review for Religious 31
(2/1972).
[1] x. Antonio Romano, The
Charism of the Founders: The person and Charism of Founders in Contemporary
Theological Reflection (Ireland: St Pauls, 1994), tr. 32-33; John Manuel
Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families (Chicago:
Claret Center for Resources in Spirituality, 1983), tr. 3.
[2] Đức Pio XII,
Tông thư Unigenitus, 19/3/1924 (AAS, XVI, tr. 135); John Manuel
Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 2.
[3] x. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 33-34.
[4] x. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 6-7; Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 34.
[5] x. Antonio Romano, The
Charism of the Founder, tr. 34-35; John Manuel Lozano, Foundresses, Founders
and Their Religious Families, tr. 3-4.
[6] x. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 35.
[7] x. Đức Piô VI,
the Letter Quod Aliquantum.
[8] x. Đức Piô VII,
the Apostolic Constitution Ad Cathedram Apostolorum Principis,
24/5/1807; Đức Piô IX, the encyclical Ubi Prinum Arcano,
27/6/1847; Đức Piô X, the Letter I Filiali Ossequi, 7/5/1907;
Đức Piô XI, the Letter Unigenitus Dei Filius, 19/3/1924;
Đức Piô XII, trong bài giảng của ngài vào ngày
27/4/1941.
[9] x. V.
Caprioli, Fondatori, in Dizionario del Concilio Ecumenico Vaticano Secondo,
Rome 1969, 1144- 1145.
[10] x. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 3-4; Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 35, 39- 40.
[11] x. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 5; Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 42-43.
[12] x. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 42-43; John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 5-13, 20.
[13] x. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 4.
[14] x. Ibid., tr. 10-13.
[15] x. Saint Francis of Assisi,
Writtings and Early Biographies (Chicago: Franciscan Herald Press,
1973), tr. 74-76.
[16] x. Phan Tấn Thành, Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3, Các Hội
Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993),
tr. 365.
[17] x. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 74-75.
[18] x. Ibid., tr. 42-43.
[19] Đặc sủng
được ban nhằm phục vụ lợi ích cộng
đoàn; c̣n ơn thánh sủng nhằm thánh hoá bản thân
người nhận.
[20] x. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 33.
[21] x. Leonardo Boff, Church:
Charism & Power- Liberation Theology and the Institutional Church (New
York: Crosss, 1992), tr. 154- 164.
[22] X. Đức Phaolô
VI, bài nói chuyện với một số tu sĩ ngày 31/3/1969,
trong AAS 61 (1969) 266; và trong bài giảng ngày 4/3/1964; ET
11.
[23] Đức Gioan Phaolô
II, Bài nói chuyện với các bề trên tổng quyền
nam, ngày 24/11/1978, được trích lại trong John Manuel
Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 28.
[24] Kinh nghiệm hay cảm
nghiệm là một đặc sủng, v́ là một ân huệ
đặc biệt của Chúa Thánh Thần.
[25] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 29-30.
[26] X. Cassian J. Yuhaus, ed., Religious
Life: The Challenge of Tomorrow (New
York: Paulist Press, 1994), tr. 184- 185.
[27] X. Teresa Ledóchowska Osu, In
Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union
(Roma: Ursulines of the Roman Union Via Nomentana 236, 1976), tr. 26.
[28] X. Thượng Hội
đồng Giám mục, kỳ IX, Đời Sống Thánh
Hiến và Sứ Mạng của Đời sống này trong
Giáo hội và trong Thế giới (Tài lệu làm việc),
số 16-17.
[29] X. Germinario M.,
được trích trong Antonio Romano, The Charism of the Founders,
tr. 148.
[30] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 92.
[31] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 109, 140; M. Ngọc Đính (Chuyển
ngữ), Đời tu dưới ánh sáng công đồng
Vatican II và Giáo luật, Quyển I (The Daughters of St. Paul,
1986), tr. 66- 68, 148- 154.
[32] X. Ibid., tr. 91-92.
[33] X. Fabio Ciardi, Koinonia-
Spirituality and Theology of the Growth of Religious Community
(Quezon City: Claretian Publications, 1999), tr. 276-279; M. Ngọc
Đính (Chuyển ngữ), Đời tu dưới ánh
sáng công đồng Vatican II và Giáo luật, Quyển I (The
Daughters of St. Paul, 1986), tr. 199.
[34] X. Teresa Ledóchowska Osu, In
Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union,
tr. 23, 31-33.
[35] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founder, tr. 24, 137.
[36] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 45-46.
[37] X. Fabio Ciardi, Koinonia,
tr. 256- 259.
[38] X. Phan Tấn Thành, Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2, tr. 353-354, 411-412.
[39] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 46; Phan Tấn Thành, Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2, tr. 360-362.
[40] X. Marcello Azevedo, SJ, Vocation
for Mission- The Challenge of Religious Life Today (New York: Paulist
Press, 1988), tr. 137.
[41] Saint Francis of Assisi, Writtings
and Early Biographies, tr. 57, 31.
[42] X. Phan Tấn Thành, Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2, tr. 360-361, 366-367.
[43] X. Fabio Ciardi, Koinonia,
tr. 157-158.
[44] X. Gerald A. Arbuckle, SM, From
Chaos to Mission, Refounding Religious Life Formation (London: Geoffrey
Chapman, 1996), tr. 27.
[45] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 43-44.
[46] X. Ibid., tr. 47.
[47] X. Phan Tấn Thành, Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2, tr. 369.
[48] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 77.
[49] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 97-123.
[50] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 149-150.
[51] Đoàn sủng
được sử dụng khi nói đến ư nghĩa phục
vụ cộng đoàn của đặc sủng.
[52] X. The 54th Assembly of the
Union of Superiors General (Unione Superiori
Generali), For a Creative Fidelity Refounding- Resituating Charisms,
Redesigning Presence (Rome 1998), tr. 74-75.
[53] X. Teresa Ledóchowska Osu, In
Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union,
tr. 16, 19, 23, 30.
[54] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr.151-156; Teresa Ledóchowska Osu, In Search
of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union, tr.
17.
[55] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 89-90.
[56] X. Felicisimo Diez
Martinez, Refounding Religious Life: Charismatic Life and Prophetic Mission
(Quezon City: Claretian Publications, 2000), p. 314; VC 73.
[57] X. Futrell, J.C.,
Discovering the Founder’s charism, in The Way Supplement 14 (1971)
62,70.
[58] F. George, Critères pour
découvrir et vivre le charisme du Fondateur aujourd’hui, trong Vie Oblate
Life 36 (1977) 39.
[59] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr.
179.
[60] X. Ibid., tr. 165, 175.
[61] X. S. McCarty, Touching
Each Other at the Roots: A Reflection on the Charism of the Founder, trong Review
for Religious 31 (2/1972) 205.
[62] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 181.
[63] X. Ibid., tr. 171.
[64] Trong bối cảnh
xét lại các h́nh thức hoạt động tông đồ
đó, văn kiện “Những yếu tố cốt yếu
của đời tu” (số 27) đă đưa ra những
khuyến cáo về ba cơn cám dỗ khi xây dựng kế
hoạch hoạt động tông đồ: (i) muốn ôm
đồm mọi h́nh thức hoạt động tông đồ,
(ii) bỏ đi những h́nh thức hoạt động
truyền thống theo đặc sủng của ḍng, để
chạy theo những hoạt động đáp ứng nhu cầu
xă hội tức thời, nhưng lại không hợp với
đặc sủng của ḍng, (iii) phân tán nhân lực ḍng
vào những hoạt động ngắn hạn, chỉ liên
hệ đến đặc sủng một cách mơ hồ;
do đó, với thời gian, tính cách đồng nhất
trong việc thực hiện đặc sủng của ḍng
sẽ bị tổn thương (x. Phan Tấn Thành, Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 4, Các Hội
Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993),
tr. 762- 763).
[65] X. R. Mainka, Carisma e
storia nella vita religiosa, trong Bollettino UISG, số 58 (1981)
6.
[66] X. Sandra Schneiders, Religious
Life in a New Millennium, Volume I, Finding the Treasure- Locating Catholic
Religious Life in a New Ecclesial and Cultural Context (NewYork: Paulist Press,
2000), tr. 287-288.
[67] X. Teresa Ledóchowska Osu, In
Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union,
tr. 27.
[68] X. Ibid., tr. 13-14, 15.
[69] X. Đức Gioan
Phaolô II, bài nói chuyện với các tu sĩ tại Sao Paulo,
3/7/1980, được trích lại trong trong John Manuel
Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 28;
Thượng Hội đồng Giám mục, kỳ IX, Đời
Sống Thánh Hiến và Sứ Mạng của Đời sống
này trong Giáo hội và trong Thế giới, số 3, 6.
[70] X. Cassian J. Yuhaus, ed., Religious
Life: The Challenge of Tomorrow, tr. 184-185; Thượng Hội
đồng Giám mục, kỳ IX, Đời Sống Thánh
Hiến và Sứ Mạng của Đời sống này trong
Giáo hội và trong Thế giới, số 6.
[71] X. Jesus Alvarez Gomez, New
Evangelization for the Third Millennium (Quezon City: Claretian
Publications, 1997), tr. 78.
[72] Đây là những
h́nh thái mới của đời tu: gồm nam và nữ,
giáo sĩ và giáo dân, người đă lập gia đ́nh và
người độc thân.
[73] Bộ Giáo luật,
đ. 573; Bộ Giáo luật các Giáo hội Đông
phương, đ. 410.
[74] X. Teresa Ledóchowska Osu, In
Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union,
tr. 27.
[75] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 114-115, 138-139, 141, 144.
[76] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 145.
[77] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 140; John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 75.
[78] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 64.
[79] X. John Manuel Lozano, Foundresses,
Founders and Their Religious Families, tr. 76.
[80] X. Ibid., tr. 76.
[81] X. Teresa Ledóchowska Osu, In
Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union,
tr. 29.
[82] X. Phan Tấn Thành, Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2, tr. 388.
[83] X. Antonio Romano, The
Charism of the Founders, tr. 173-174.