ĐẶC SỦNG- LINH ĐẠO – SỨ VỤ

JB. Trần Hữu Hạnh, fsf

Đây là 3 yếu tố chính tạo nên một Hội ḍng. Mỗi hội ḍng giống như một cái cây: gốc rễ của nó là đặc sủng, thân cây là linh đạo và hoa trái của nó là hoạt động tông đồ hay sứ mệnh truyền giáo. Linh đạo và hoạt động tông đồ của mỗi hội ḍng được định h́nh, nuôi dưỡng và phát triển nhờ đặc sủng của đấng sáng lập. Mỗi hội ḍng cần phải trung thành với đặc tính của ḿnh, nghĩa là trung thành với linh đạo và sứ vụ riêng biệt mà đấng sáng lập đă trưyền lại cho họ.

 

I. ĐẶC SỦNG

 Đặc sủng là yếu tố chính tạo nên sự khác biệt giữa hội ḍng này với hội ḍng khác. Đặc sủng chính là sức sống, là nguồn mạch của mọi hoạt động tông đồ của mỗi hội ḍng. Một hội ḍng mà không sống theo đặc sủng của đấng sáng lập sẽ đánh mất đi căn tính của nó, và như một hệ qủa, mất đi phương hướng của nó. Ch́a khóa cho sự phát triển của mỗi hội ḍng là trung thành với đặc sủng của đấng sáng lập. Bởi  đó, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đă kêu gọi các cộng đoàn tu tŕ phải trung thành với tinh thần, với những ư hướng Phúc âm và gương thánh thiện của đấng sáng lập. Chính ở đây mà các hội ḍng t́m thấy nguồn gốc của họ (x. ET 11-12).

Chúng ta cần phân biệt Đặc sủng nói chung, Đặc sủng của đời sống thánh hiến và Đặc sủng của Đấng sáng lập.

 

1. Đặc Sủng Nói Chung

Một trong những phục hồi vĩ đại nhất của công đồng Vatican II đối với vai tṛ của Chúa Thánh Thần trong đời sống Giáo hội là vai tṛ của đặc sủng. Thời đại của Giáo hội ngày nay, trong cuộc hành tŕnh về cánh chung và sự quang lâm của Chúa Kitô, là thời đại của Chúa Thánh Thần. Chỉ với công đồng Vatican II, sự t́m hiểu ư nghĩa đầy đủ và rơ ràng của đặc sủng mới bắt đầu được quan tâm đặc biệt. 

Trong Tân ước, từ đặc sủng (charism)[1] được t́m thấy 17 lần: 16 lần trong các thư của thánh Phaolô (Rm 1, 11; 5, 15.16; 6, 23; 11, 29; 12, 6; 1Cor 1,7; 7,7; 12, 4.9.28.30.31; 2Cor 1, 11; 1Tm 4, 14; 2Tm 1, 6) và 1 lần trong 1Pr 4, 10.

Đặc sủng được coi là ân huệ mà Thần Khí ban cho mỗi người v́ lợi ích chung. Thật vậy, đặc sủng được ban là để xây dựng Giáo hội, Thân Thể Chúa Kitô (x. Ep 4, 12. 26; Gl 4, 7, 11-12; 1Cr 14, 12; 12, 7). Các đặc sủng được sắp đặt để xây dựng Hội thánh, sinh ích cho con người và thỏa măn những nhu cầu của trần thế (x. CL 24). Chính Thần khí làm cho Giáo hội sinh động. Giáo hội như một toàn khối liên kết với nhau và sống động nhờ các đặc sủng. (x. MR 1-3)

 

2. Đặc Sủng của Đời Sống Thánh Hiến

Trước công đồng Vatican II, ư tưởng về đặc sủng của đời sống thánh hiến chưa được biết đến. Từ công đồng, theo Lumen Gentium, đời sống thánh hiến được xem như không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Hội thánh, nhưng thuộc về cơ cấu đặc sủng hay cơ cấu Thần khí[2]. Đời sống thánh hiến là một ân huệ của Chúa Thánh Thần, Ngài khơi dậy nơi các tín hữu ḷng khao khát nên trọn lành, bước theo Chúa Kitô qua việc sống các lời khuyên Phúc âm cách triệt để (x. LG 43; PC 1).

Đặc sủng được ban cho các Kitô hữu qua cơ chế phẩm trật và nhiệm tích, nhưng cũng được ban không qua các cơ chế này, mà qua các ḍng tu, nhằm phục vụ lợi ích của Hội thánh. Nếu đặc sủng là một ơn gọi đối với một bậc sống nào đó của Kitô hữu như là độc thân hoặc hôn nhân (x.1Cor 7, 7-9), hoặc được đồng hóa với một thừa tác vụ trong Giáo hội (x. 1Cor 12; Rm 12; Ep 4), th́ công đồng cũng gọi các lời khuyên Phúc âm là những đặc sủng (x. LG 12, 13, 42, 43; PC 12). Công đồng cũng nói lên tính cách đa dạng của các hội ḍng tùy theo đặc tính riêng của chúng (x. PC 1, 7, 8, 9, 10, 11).  “Mỗi ḍng, qua sự  cộng tác của đấng sáng lập, đă đem lại một ơn gọi đặc biệt, như một ân huệ do Chúa Thánh Thần khơi dậy (x. LG 45; PC 1, 2) và được hàng giáo phẩm chính thức công nhận.” (MR 11)

Nói chung, đời sống thánh hiến chính nó là một đặc sủng. Đó là một ân huệ đặc biệt được ban cho toàn thể Giáo hội (x. LG 43; ET 2, 11; MR 2, 11). Đời thánh hiến, bám rễ sâu trong gương mẫu và lời dạy của Chúa Kitô, là một ân huệ của Chúa Cha ban cho Giáo hội qua Chúa Thánh Thần. Thật vậy, các lời khuyên Phúc âm biểu lộ t́nh yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha, trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần (x. VC 1, 20, 21).

 

3. Đặc Sủng[3] của Đấng Sáng Lập và Linh Đạo

a. Giáo Huấn của Giáo hội

Để đổi mới đời sống thánh hiến, Vatican II đă kêu gọi mỗi hội ḍng phải khám phá lại tinh thần và mục đích của đấng sáng lập (x. PC 2b). Công đồng không sử dụng cụm từ “đặc sủng của đấng sáng lập.” Đức Phaolô VI là vị Giáo hoàng đầu tiên nói đến đề tài này. Ngài đă qui chiếu về công đồng và sử dựng từ đặc sủng để nói về những ân sủng khác nhau của các đấng sáng lập: “Chỉ như thế, các con mới có thề nâng tâm hồn lên để đón nhận chân lư và t́nh yêu của Thiên Chúa theo các đặc sủng của các đấng sáng lập của chúng con, mà Thiên Chúa đă ban cho Giáo hội. Công đồng đă dạy rằng các tu sĩ phải duy tŕ một cách trung thành tinh thần của các đấng sáng lập, lối sống Tin mừng và gương thánh thiện của họ. Các tu sĩ phải nhận ra nơi đây một trong những nền tảng cho sự canh tân hiện nay và một trong những tiêu chuẩn chắc chắn nhất cho sự quyết định về loại  hoạt động của mỗi hội ḍng.” (ET 11) Ngài chỉ ra rằng mỗi cá nhân của mỗi hội ḍng được định h́nh bởi những tính cách đặc biệt về tinh thần và đặc sủng của đấng sáng lập. Mỗi hội ḍng phải qui chiếu về với những nguồn gốc này trước khi nó có thể đem lại một sự canh tân đích thực và trung thành.[4]

Đức Gioan Phaolô II đă nối tiếp công đồng và giáo huấn của Đức Phaolô VI. Ngài nhiều lần nhắc nhở các tu sĩ phải trung thành với đặc sủng của đấng sáng lập. Ngài nhấn mạnh đến nhu cầu kính trọng những đặc sủng khác nhau của các hội ḍng. Trên tất cả, ngài tái khẳng định sự hiện diện của những đặc sủng khác nhau này tại chính nguồn gốc của mỗi hội ḍng: “Mỗi đấng sáng lập của các con, dưới sự linh hứng của Thần khí mà Chúa Kitô đă hứa ban cho Giáo hội, đă nhận được một ân huệ đặc biệt. Đấng sáng lập là một dụng cụ đặc biệt của Chúa Kitô cho công cuộc cứu độ của Ngài, nó sống măi trong lịch sử nhân loại. Giáo hội đă dần dần nhận ra những đặc sủng này, xem xét chúng và khi Giáo hội thấy chúng xác thực, đă dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và ǵn giữ chúng trong đời sống cộng đoàn để cho chúng luôn đơm bông kết trái.”[5] Trong Tông huấn về Đời sống Thánh hiến, ngài căn dặn các hội ḍng phải trung thành với những đặc sủng này và sau đó trung thành với gia sản thiêng liêng được tạo lập nên trong mỗi hội ḍng. Họ phải duy tŕ chúng trong những cộng đoàn mà chúng đă lập nên. Đặc sủng phải xây dựng nguyên tắc sống của mỗi hội ḍng tại bất cứ thời điểm nào (x. VC 36, 37). “Đặc sủng nào cũng nổi bật niềm khát vọng sâu xa của tâm hồn muốn được trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô, để làm chứng về một khía cạnh nào đó thuộc mầu nhiệm của Ngài. Khía cạnh đó được cụ thể hóa và phát triển trong truyền thống trung thực nhất của hội ḍng, phù hợp với quy luật và hiến pháp.” (VC 36) Cũng trong tông huấn này, Đức Giáo hoàng đă nhiều lần sử dụng từ đặc sủng để nói về những chiều kích khác nhau của đời sống thánh hiến, đặc biệt là để nói lên tính đặc thù của mỗi hội ḍng (x. VC 1, 5, 19, 25, 32, 36, 37, 48, 63, 65, 68, 72, 71, 73, 74, 80, 93). Lời dạy của ngài đă in dấu ấn trong nhiều văn kiện khác của Giáo hội.     

Văn kiện của Bộ Tu sĩ và Bộ Giám mục đă nói về đặc sủng của đấng sáng lập như sau:

“Đặc sủng của các Đấng sáng lập biểu lộ như là một kinh nghiệm[6] về Thần Khí, được truyền lại cho các môn đệ của họ để sống, giữ ǵn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài ḥa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên.” (MR 11) V́ lư do này mà đặc tính của mỗi hội ḍng khác nhau được Giáo hội bảo tồn và nuôi dưỡng (x. LG 44; CD 33, 35).

Qua đoạn văn trên, từ đặc sủng đă được sử dụng để giải thích về căn tính của những hội ḍng khác nhau trong Giáo hội. Nó cũng bao gồm một kiểu linh đạohoạt động tông đồ mà nhờ đó, tạo nên truyền thống đặc biệt của mỗi hội ḍng.[7] Mọi hội ḍng được sinh ra từ Thần khí. Đây chính là nguồn gốc của mỗi hội ḍng.[8] T́m lại đặc sủng chính là t́m lại căn tính của ḿnh.[9]

“Do đó, như một cây đâm chồi nẩy lộc um tùm và kỳ diệu từ hạt giống Chúa gieo văi trong cánh đồng của Người, th́ cũng có nhiều lối sống khác nhau: đơn độc hay cộng đồng, và ḍng tu khác nhau mà phần sản nghiệp dồi dào đem lại lợi ích cho các chi thể của ḍng cũng như toàn Thân Thể Chúa Kitô.” (LG 43)

 

b. Tính Cách của Đặc Sủng

- Đặc Sủng và sự Thành Lập một Hội Ḍng

Đặc sủng (đoàn sủng)[10] của đấng sáng lập khơi nguồn và đặt nền móng cho việc thành lập một hội ḍng. Qua vị này, những yếu tố căn bản về đặc sủng của hội ḍng được rút ra. Đặc sủng của đấng sáng lập biểu lộ chính nó như là một đặc sủng chung, v́ nó được chia sẻ với người khác ngay từ lúc khởi đầu của cộng đoàn. Nó được làm phong phú và làm sáng tỏ bởi kinh nghiệm ban đầu của cộng đoàn đó.[11] Đặc sủng thành lập xác định bản chất, tinh thần, mục đích và đặc tính, là những yếu tố cấu thành di sản thiêng liêng của mỗi hội ḍng và làm nền tảng cho ư nghĩa của căn tính, một yếu tố then chốt cho sự trung thành của mỗi tu sĩ (x. EE 11).

Đặc sủng là một thực tế sống động, nhưng không thể định nghĩa được[12], mà chỉ có thể cảm nhận qua mối liên hệ với ư định của đấng sáng lập, mục đích, sứ mệnh (mission), linh đạo, truyền thống của hội ḍng. Đặc sủng chỉ có thể được mô tả bằng cách tập hợp những yếu tố mà dần dần xuất hiện nơi những người đầu tiên sống nó, cũng như nơi những thế hệ sau. Cộng đoàn là một sự nối dài đấng sáng lập theo thời gian. Đặc sủng có thể tiếp tục tồn tại trong lịch sử qua một tiến tŕnh năng động mà trong đó Chúa Thánh Thần kêu gọi và kết hợp những thành viên mới vào trong hội ḍng.[13]

 

- Tính Di Truyền của Đặc Sủng

Đặc sủng của đấng sáng lập được truyền lại cho các môn đệ của họ. Cộng đoàn, những môn đệ của đấng sáng lập, biểu lộ, làm sáng tỏ và phát triển quyền năng của Thần khí mà đặc sủng, ân huệ của Thiên Chúa, chứa đựng trong chính nó ngay từ khi hội ḍng bắt đầu. Không phải đấng sáng lập, cũng không phải những môn đệ đầu tiên của ngài, có thể nhận thức đầy đủ những ǵ chứa đựng trong đặc sủng. Những người đến sau phải t́m kiếm để hiểu nó tốt hơn và sống đặc sủng đó trong sự nhận thức về trách nhiệm truyền lại cho những người kế tiếp một cách trung thành. Đây thực sự là sự đáp trả của họ đối với “Lời Chúa” đang cật vấn họ trong hoàn cảnh hiện tại. Do đó, thật cần thiết để nối kết đời sống và hoạt động của tất cả những người cùng chia sẻ cuộc phiêu lưu mạo hiểm theo ơn gọi của Thần khí, bắt đầu từ đấng sáng lập.[14] Đặc sủng của hội ḍng ôm trọn toàn bộ lịch sử của chính nó và hiện diện trong tất cả các thành viên của nó.  Điều này xảy ra trong nhiều cách khác nhau, tùy theo tài năng và những ân huệ tinh thần của mỗi thành viên, và trong sự đo lường tương ứng với ơn gọi mà họ nhận được. Không một thành viên nào có thể nhận được đoàn sủng một cách trọn vẹn, nó phải được khám phá lại không ngừng, nó phải được t́m kiếm trong cộng đoàn, trong sự hiệp thông với tất cả những thành viên cùng nhận được một đoàn sủng đó.[15]

Sự phát triển của cộng đoàn làm phong phú thêm kinh nghiệm của chính đấng sáng lập. Họ nên nhớ rằng đời sống của hội ḍng của họ biểu lộ, trong những t́nh huống lịch sử khác nhau, kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa, sứ mệnh và ơn gọi của họ mà đấng sáng lập đă thực hiện trong đời sống và kinh nghiệm của ngài.[16] Đây là nhiệm vụ của mọi thành viên. Nếu họ không ư thức được như vậy, họ không chỉ có nguy cơ đánh mất đi ư nghĩa của ơn gọi chính họ, mà c̣n làm mờ đi căn tính đích thực của hội ḍng của họ.[17]

Tinh thần của đấng sáng lập tiếp tục thấm sâu và cho sức sống tới cộng đoàn qua một truyền thống sống động. Mỗi đặc sủng luôn chứa đựng một số đặc tính nào đó. Một đặc sủng không bao giờ bị nhốt lại trong một công thức thật hay, nhưng nó có thể được đào sâu và làm phong phú qua sự mô tả rơ hơn để dần dần có thể hiểu được nó hơn. Nói cách khác, những phần tử của hội ḍng là những người chú giải đặc sủng của đấng sáng lập. Trong suốt giai đoạn phát triển, cộng đoàn cần phản ánh không ngừng trên kinh nghiệm nguồn gốc của chính nó. Họ cần khôi phục lại kinh nghiệm đó, kinh nghiệm mà đă được sống bởi đấng sáng lập hoặc được khẳng định lại và được phát triển bởi những kinh nghiệm thích hợp từ kinh nghiệm đó. Trong cách này, cộng đoàn khám phá ra làm thế nào mầu nhiệm ơn gọi của nó được biểu lộ.[18]

Các đấng sáng lập chính là những điểm hội tụ và hợp nhất của tất cả các môn đệ của họ. Các đấng sáng lập là những người hướng dẫn các môn đệ của họ tới sự hiểu biết về mầu nhiệm Chúa Kitô và sống theo Tin mừng của Ngài. Kinh nghiệm về Thiên Chúa của đấng sáng lập thu hút các môn đệ của họ. Họ và các môn đệ của họ được liên kết và hợp nhất với nhau trong cùng một kinh nghiệm thiêng liêng. Sự liên kết và hợp nhất này giúp củng cố và nuôi dưỡng sự phát triển của một Giáo hội đang được đổi mới không ngừng bởi Thần Khí.[19]

Các văn kiện của Giáo hội cũng đều khẳng định đặc sủng của đấng sáng lập là yếu tố tạo nên sự hiệp nhất trong hội ḍng: “Nền tảng của sự hiệp nhất là sự hiệp thông trong Chúa Kitô được củng cố bởi đoàn sủng duy nhất của đấng sáng lập (x. EE 18; MR 11- 12). V́ thế, việc quy chiếu về đấng sáng lập ḍng, và về đoàn sủng mà vị ấy đă sống và thông truyền, giữ ǵn và phát triển qua suốt cuộc sống của hội ḍng (x. MR 11), được coi là yếu tố thiết yếu cho sự hợp nhất của hội ḍng.” (FLC 45; x. FLC 2c).

 

- Trung Thành một cách Sáng Tạo

Đặc sủng của hội ḍng diễn tả căn tính tinh thần của các môn đệ dọc theo những đường nét được dự định bởi đấng sáng lập. Căn tính này phải được xem xét trong ánh sáng của những môi trường thay đổi. Qua đó, nó trải qua một sự đổi mới năng động, nhưng không đánh mất ḷng trung thành của nó đối với những điểm xuất phát ban đầu. Chỉ có thể kéo dài sự hiện diện của nó bằng sự trung thành sáng tạo, một sự trung thành được bám chặt vào nguồn gốc của nó, nhưng đồng thời mở ra đối với dấu chỉ của thời đại. Trung thành mà không thích nghi vào bối cảnh mới, sẽ dẫn đến chỗ suy tàn; đổi mới mà không bám vào gốc của nó, sẽ dẫn đến chỗ lập nên một hội ḍng mới. Đó là lư do tại sao sự đổi mới đời sống tu tŕ không bao giờ được làm một lần cho tất cả.[20] Chắc chắn rằng chúng ta làm việc này không phải để sửa đổi đặc sủng, nhưng là để xem làm thế nào mà chúng ta đáp lại những ư hướng sâu xa của đấng sáng lập trong bối cảnh hôm nay. Đức Piô XII đă từng nói với các hội ḍng rằng ngày nay họ phải làm những ǵ mà đấng sáng lập, nếu c̣n sống, sẽ làm. Chắc chắn trong một số trường hợp họ sẽ lập lại những ǵ mà đấng sáng lập của họ đă làm; nhưng cũng chắc rằng một số sáng kiến mà các đấng sáng lập đă chọn trong thời của họ, họ sẽ không chọn chúng đối với bối cảnh hiện nay.[21] 

Đặc sủng giống như bản thể của một con người. Con người bao gồm bản thể và tùy thể. Tùy thể là h́nh thức bên ngoài như màu da, màu tóc, mập, ốm, v.v., nên có thể thay đổi; c̣n bản thể th́ luôn giữ lại. Dù tôi khác tôi cách đây 10 năm, 15 năm, 20 năm..., nhưng tôi vẫn là tôi, tôi không thể là người khác. Để đổi mới, chúng ta cần nhận thức về căn tính của chính chúng ta. Bên cạnh đó, sự thay đổi và sự sáng tạo là những khía cạnh không thể tránh khỏi trong đời sống của mỗi hội ḍng.

Trong Kinh thánh, Thần khí được mạc khải như là Đấng ban sự sống. Mỗi đặc sủng, v́ đó là ân huệ của Đấng ban sự sống, luôn luôn là một thực tế năng động, nguồn sống và hoạt động. Đặc sủng được ban cho các đấng sáng lập và sau họ là hội ḍng của họ, là một ơn gọi cộng đoàn trong Giáo hội, nên phải bảo tồn nguyên vẹn qua không gian và thời gian. Tuy nhiên, v́ nguồn gốc Thần khí của nó và v́ nó được ban cho toàn thể Giáo hội, nó sinh nhiều hoa trái khác nhau, trong những thời gian và nơi chốn khác nhau. Các đặc sủng sản sinh những h́nh thức sống khác nhau mà chúng nhập thể Tin Mừng vào trong những môi trường sống. Chúng thúc đẩy các hội ḍng đảm nhận những sứ mệnh khác nhau. Do vậy, các hội ḍng cần mở ra và ngoan ngoăn vâng theo sự hướng dẫn của Thần khí. Kết hợp mật thiết với Ngài chính là nguồn đổi mới và thích nghi thật sự của tất cả các cộng đoàn tu tŕ trong bối cảnh hiện nay.

    Trong mỗi Tổng hội, hội ḍng cần nh́n lại quá khứ của ḿnh, đọc và giải thích nó để để t́m ra hướng đi cho tương lai của ḿnh. Điều này có nghĩa là họ phải luôn duy tŕ kư ức sống động về đấng sáng lập của họ và luôn tiến tới một sự hiểu biết rơ hơn về đặc sủng nguồn gốc của họ, về sứ mệnh của họ trong Giáo hội và trong thế giới.[22] Qua đó, họ có thể  làm cho đấng sáng lập trở thành người tiên phong của Thần khí trong thời của họ. Đó chính là chiều kích ngôn sứ của đấng sáng lập, như George đă khẳng định: “Các đấng sáng lập ở trước chúng ta, đi trước chúng ta.”[23] Đó là lư do tại sao công đồng Vatican II kêu gọi công việc canh tân nên được thực hiện trong sự hợp tác của cả cộng đoàn (PC 4). Cộng đoàn phải luôn t́m kiếm cách tốt hơn để thích hợp với nhu cầu “ngôn sứ” của đấng sáng lập của họ. Trong cách này, cộng đoàn t́m cách để nhận ra và đáp ứng những nhu cầu của thời đại trong mọi t́nh huống.[24]

Tính cách đặc sủng của mỗi hội ḍng đ̣i hỏi đấng sáng lập và các môn đệ phải thường xuyên kiểm chứng xem họ có trung thành với Chúa, với một khát vọng sâu xa muốn trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô để làm chứng cho một khía cạnh nào đó trong mầu nhiệm của Người, có ngoan ngoăn vâng theo sự hướng dẫn của Thần khí, có sáng suốt quan tâm đến bối cảnh họ đang sống và nhận thức về những dấu chỉ của thời đại, có đang phục vụ Giáo hội và sẵn sàng phục tùng hàng giáo phẩm, có dũng cảm trong sáng kiến, có kiên tŕ trong hiến thân và có khiêm tốn chấp nhận những nghịch cảnh không (x. MR 12, 51).

Sai lầm có thể xảy ra là khi chúng ta “hiện đại hóa” đặc sủng, thay mới hoàn toàn để cho nó hấp dẫn hơn, hoặc sử dụng đặc sủng của đấng sáng lập để phục vụ cho chính chúng ta, để biện minh cho những quyết định và hành động của chúng ta. Điều này có thể là tốt, nhưng nó không phải là mục đích của đấng sáng lập. Nó có thể phá đi những ǵ đă được dày công xây dựng và làm mất đi đặc tính và căn tính của hội ḍng.[25]  Việc dung ḥa giữa trung thành với sự thích nghi và canh tân không dễ dàng. Những năm sau công đồng Vatican II đă cho thấy những khó khăn đó: nhiều ḍng đan tu muốn lấy lại ơn gọi nguyên thủy không có chức linh mục của ḿnh; trái lại, một số ḍng giáo dân (nam) lại muốn chuyển hướng sang ḍng giáo sĩ. Bên Âu Mỹ, nhiều ḍng đă bỏ các cơ sở giáo dục và y tế, v́ không c̣n thích hợp, để t́m những cách thức mới phục vụ người nghèo.[26] Mỗi hội ḍng cũng có thể có thêm một số hoạt động khác với sứ vụ chuyên biệt của ḿnh, nhưng không nên để cho những hoạt động này trở thành những hoạt động chính. Nên để cho một số phần tử nào đó phụ trách mà thôi.       

 

c. Linh Đạo[27] và Sứ Vụ

Như vậy, đặc sủng mà đấng sáng lập nhận được có 2 mục đích khẩn cấp: Một mặt, nhu cầu trở về với Tin mừng (một cách thức bước theo Chúa Kitô) và phương cách thực hiện sự trở về nguồn gốc này (linh đạo); mặt khác, đáp ứng lại t́nh huống lịch sử của Giáo hội và xă hội, đặc biệt là trong mối quan hệ với nhu cầu cấp bách của Giáo hội (sứ vụ):[28]

1) Trở về với Tin mừng

Mọi cộng đoàn Kitô hữu được sinh ra và lớn lên bởi Lời Chúa (x. 1Tx 1, 5-10). Sách Công vụ tông đồ đă mô tả cuộc “hành tŕnh” của Lời Chúa: tới bất cứ đâu, Lời Chúa đều sinh ra Giáo hội. Giáo hội là một sự triệu tập: một ơn gọi chung, được liên kết v́ danh Chúa Giêsu, trong Lời của Ngài, sự hiện diện của Ngài (x. Mt 18, 20) cho tới khi trở nên một trong Chúa Kitô.

Nguồn gốc và nền tảng của đoàn sủng của một hội ḍng là Lời nhập thể nơi đấng sáng lập. Hành động của Thần khí mạc khải và sự thật, người dạy “tất cả sự thật” và gợi lại những Lời của Chúa Giêsu (x. Ga 14, 24-26; 16, 13), dẫn các đấng sáng lập vào trong sự hiểu biết sâu xa về một “Lời” đặc biệt và qua đó mở ra sự hiểu biết Kinh thánh cho họ (x. Lc 24, 25).[29] Các đấng sáng lập đă nhận được Lời Chúa trong t́nh huống lịch sử đặc biệt của họ và họ được kêu gọi để sống lư tưởng của nước trời noi gương Chúa Kitô theo một cách mới. Lịch sử Giáo hội cho chúng ta thấy rằng những h́nh thức mới của đời sống thánh hiến được sinh ra là kết quả của sự trở về với Tin mừng, trong những giai đoạn khi mà Giáo hội đang trải qua những suy đồi về đạo đức và luân lư, sự cám dỗ về quyền lực, v.v.

Thực ra, vào những thế kỷ đầu, không có sự phân biệt về nếp sống giữa người Kitô hữu và tu sĩ. Từ giữa thế kỷ III, nhất là từ thế kỷ IV, đă có những người, khi thấy đời sống đạo sa sút do ảnh hưởng của quyền lực và tục hóa, t́m vào sa mạc để sống đời ẩn tu. Họ muốn trở về với nếp sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi.[30] Thánh Basil và thánh Francis đều nhấn mạnh đến đời sống trung thành theo Tin mừng, nghĩa là trở về với Tin mừng. Thánh Pachomius, thánh Augustine và sau đó, toàn bộ truyền thống Benedictine đă nỗ lực sống theo tinh thần của cộng đoàn Giêrusalem nguyên thủy. Các ḍng hành khất (Đa minh, Phanxicô, Augustinô, Carmelo, v.v.) ra đời từ thế kỷ XIII đáp ứng lại nhiều phong trào cải cách, kêu gọi Giáo hội trở về với nếp sống đơn sơ, giản dị của thời nguyên thủy. Những ḍng khành khất này đề ra lối sống Phúc âm tinh ṛng trong sự hiệp thông với Giáo hội. Tất cả họ, bằng cách này hay cách khác, đều muốn trở về với nguồn gốc của đời sống Kitô hữu.[31] Nhiều người lúc đầu không có ư định thành lập một hội ḍng, nhưng sự nhiệt tâm sống theo Tin mừng của họ đă thức tỉnh những người đương đời và lôi kéo nhiều người theo họ.[32]

Mục đích của sự “linh hứng ban đầu” của các hội ḍng là để thăng tiến một lối sống Phúc âm trong Giáo hội và những cách thức để thực hiện nó (linh đạo). Qui luật tối thượng của họ là việc theo Chúa Kitô. Cuộc sống của họ phải qui chiếu theo khuôn mẫu này, nghĩa là bắt chước gương sống của Ngài (vâng phục, khó nghèo, thanh khiết), thực hành những ǵ Ngài giảng dạy, cách riêng trong bài giảng trên núi. Phúc âm là luật sống cho mọi Kitô hữu. Nhưng mỗi hội ḍng đă thể hiện một cách rơ ràng và tươi mới đối với những giá trị của Tin Mừng.  

2) Đáp ứng những nhu cầu cấp bách của Giáo hội và xă hội:

Từ thời Trung cổ, ư thức về sứ vụ ngày càng trở nên mănh liệt. Đời tu không chỉ lo sống Phúc âm, mà c̣n hiến thân đi rao giảng Phúc âm như Chúa đă truyền dạy (x. Lc 10, 1- 15). Nhiều nhóm được thành lập để đáp ứng lại những t́nh huống lịch sử nào đó, thực hiện một sứ mệnh nào đó bên trong hoặc bên ngoài cộng đoàn: qua việc hăm ḿnh và khẩn cầu cho trần thế trong đời sống chiêm niệm, qua việc loan báo Tin Mừng trong những h́nh thức phục vụ khác nhau.

Vào thế kỷ XI- XII, ta thấy xuất hiện 3 loại ḍng: những ḍng bác ái chuyên săn sóc những người di cư, người bệnh, người hành hương; những ḍng được lập ra để cứu những Kitô hữu bị bắt làm nô lệ; những ḍng hiệp sĩ, lo giải phóng và bảo vệ những nơi thánh ở Palestine. Một số ḍng thuộc 3 loại này gồm: ḍng bệnh viện thánh Antôn, ḍng bệnh viện Chúa Thánh Thần, ḍng Chúa Ba Ngôi, ḍng Đức Bà chuộc kẻ làm tôi, ḍng Đền thờ, ḍng hiệp sĩ Malta.[33]

Từ thế kỷ XIII, cùng với sự xuất hiện của các ḍng hành khất, nhiều hội ḍng đă được thành lập, góp phần làm phong phú thêm đời sống và hoạt động của Giáo hội.

 Trong thời cận đại, nhiều ḍng ra đời để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của Giáo hội hay xă hội, như giáo dục, chăm sóc bệnh nhân, người già, trẻ mồ côi, người tàn tật, v.v.[34]

Trong những trường hợp này, với ơn của Chúa Thánh Thần, các đấng sáng lập đă khám phá ra một nhu cầu đặc biệt trong Giáo hội và quyết định để đáp ứng nhu cầu đó. Luật sống, cách tổ chức, việc đào tạo những thành viên mới được phát triển dần dần chung quanh trục sứ vụ nguyên thủy này. Lối sống độc thân, khó nghèo và đời sống cộng đoàn ngay từ đầu đă được coi như là những yếu tố bản chất của sự hiến thân của nhóm cho Thiên Chúa trong sứ vụ đó.[35]

Sứ mệnh của hội ḍng không chỉ là một phần của đặc sủng, nhưng c̣n là yếu tố đặc biệt mà đặc sủng này phát triển tới mức hoàn hảo của nó. Đời sống thánh hiến không thể hiểu được nếu không có sự qui chiếu không ngừng và rơ ràng với sứ mệnh thích hợp của nó.[36] Ngày nay, các hội ḍng càng ư thức hơn về sứ mệnh của họ trong việc phục vụ những nhu cầu tinh thần hay vật chất của nhân loại theo đặc sủng của ḿnh. Văn kiện “Tu sĩ với sự thăng tiến con người” (1980) của Bộ Tu sĩ đă nói về sự phục vụ người nghèo, dấn thân bênh vực họ và tranh đấu cho công bằng xă hội của họ. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă đề cao sự đóng góp của họ vào công việc truyền giáo (x. RM 65, 69- 70).

Tóm lại, Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ để họ ở với Ngài và để được Ngài sai họ đi (Mc 3, 14). Mỗi Đấng sáng lập được Thiên Chúa kêu gọi để diễn tả mầu nhiệm Chúa Kitô trong một cách đặc biệt. Đấng sáng lập nhận được một cảm nghiệm đặc biệt về Thần khí, t́m ra một cách mới để sống những lời khuyên Phúc âm, nhận thức một hướng đi mới trong đường nên thánh (linh đạo) và đáp ứng lại những nhu cầu của Giáo hội và xă hội (sứ vụ). Kinh nghiệm về Thần khí này bắt nguồn từ sự linh hứng siêu nhiên, dẫn các đấng sáng lập vào trong sự hiểu biết về mầu nhiệm Chúa Kitô và Tin mừng của Ngài. Thật vậy, các đấng sáng lập là những con người của Thần khí. Họ biết nh́n vào thực tế với cái nh́n mới và qua đó nhận thức được nhu cầu khẩn cấp của Giáo hội và thế giới. Họ nhận thức được điều kiện hiện tại của Giáo hội và thế giới và được thôi thúc để làm cho Chúa Kitô có một vị trí mới trong bối cảnh mới. Họ đă đọc được dấu chỉ của thời đại và đáp ứng lại những nhu cầu cấp bách của Giáo hội và xă hội. Bởi đó, đặc sủng luôn luôn gắn liền và định hướng cho sứ mệnh truyền giáo.[37] Thiên Chúa ban cho họ một kinh nghiệm sâu xa về chính Ngài để mà những người khác có thể hưởng nhờ.[38] Các hội ḍng được thành lập không chỉ v́ mục đích đáp ứng những nhu cầu của Giáo hội và xă hội, nhưng một lối sống Tin mừng cụ thể đă phát sinh ra một cách sống mới của đời sống Kitô hữu. T́nh yêu Thiên Chúa phát sinh và thúc đẩy t́nh yêu tha nhân. Thật vậy, không những bắt chước đời sống của Chúa Kitô, sự tận hiến c̣n là tham gia vào sứ mạng của Ngài nữa, tức công cuộc cứu độ thế giới.

 

II. ĐẶC SỦNG VÀ SỨ MỆNH

Đấng sáng lập nhận được đặc sủng để mở ra một hướng đi mới của việc sống những lời khuyên Phúc âm, một con đường nên thánh (linh đạo) và đồng thời để đáp ứng một nhu cầu nào đó của Giáo hội (sứ mệnh truyền giáo). Nơi đấng sáng lập, có thể sứ mệnh truyền giáo đang c̣n nằm trong giai đoạn nảy mầm, nhưng nó sẽ trở nên rơ ràng hơn đối với các thế hệ tiếp theo.[1]

Thiên Chúa ban đặc sủng để thực hiện kế hoạch của Ngài, nên đặc sủng, kế hoạch của Thiên Chúa và sứ mệnh truyền giáo luôn đan quyện vào nhau. Thiên Chúa có mục đích của Ngài và Thần khí của Ngài ban đặc sủng cho ai đó để thực hiện mục đích đó. Tách khỏi mục đích này, đặc sủng không c̣n ư nghĩa. V́ vậy, đoàn sủng của mỗi hội ḍng có thể được định nghĩa là một ân huệ của Thần khí được ban cho họ để cho phép họ thực hiện sứ mệnh đặc biệt của họ.[2]

 

1. Thánh hiến để được sai đi

Chúng ta được Chúa Giêsu kêu gọi là để sống với Ngài và để được Ngài sai đi (x. Mc 3, 13- 15). Người tu sĩ được tách ra khỏi thế gian để thuộc trọn về Chúa, rồi lại được Chúa sai vào thế gian để làm chứng cho Ngài.

Được hướng dẫn bởi Thần khí, nguồn gốc của mọi ơn gọi và đặc sủng, đời sống thánh hiến, chính nó, trở thành một việc truyền giáo (x. SAFC 9). Văn kiện “Những Yếu tố Cốt yếu của Đời tu” cũng khẳng định: “Sự thánh hiến luôn đi kèm theo một sứ mệnh.” (EE 23; x. EE 24, 25) Chính Thần khí thúc đẩy họ đảm nhận sứ mệnh của Chúa Kitô. Thật vậy, ư thức về truyền giáo thấm sâu vào tận huyết mạch của mọi h́nh thức tu tŕ. Nó bao trùm mọi khía cạnh của đời sống họ. Sự thánh hiến luôn ẩn chứa một sứ mệnh và đặc sủng luôn gắn liền với sứ mệnh đặc biệt của mỗi hội ḍng. Bởi đó, việc truyền giáo là điều cốt yếu đối với mọi hội ḍng, cả những hội ḍng chuyên lo làm việc tông đồ, lẫn những hội ḍng sống đời chiêm niệm. Ư thức truyền giáo luôn là ưu tiên số một của mọi h́nh thức tu tŕ (x. VC 19, 25, 72).

Giống như Chúa Giêsu, Người được Cha thánh hiến và sai đến thế gian (x. Ga 10, 36), những người được Thiên Chúa kêu gọi, cũng được thánh hiến và sai đến thế gian để noi gương Người và tiếp tục sứ mệnh của Người. Họ được mời gọi để dấn thân hoàn toàn cho việc truyền giáo (x. VC 3, 18, 22, 25, 27, 72). Các Hội ḍng cố gắng bước theo Chúa Kitô, họa lại cuộc đời của Ngài. Mỗi ḍng có mục đích khác nhau, tùy vào việc họa lại khía cạnh nào của cuộc sống Chúa Giêsu. Cách chung có 4 loại ḍng:

1) Chúa Giêsu cầu nguyện: đây là mục tiêu của những hội ḍng thuần túy chiêm niệm.

2) Chúa Giêsu loan báo nước trời: mục đích của những ḍng phục vụ Lời Chúa (giảng, dạy).

3) Chúa Giêsu thi ân giáng phúc cho nhân loại: những ḍng chuyên về công tác bác ái xă hội.

4) Chúa Giêsu sống giữa đời: các Tu hội đời.[3] 

Sứ mệnh truyền giáo của đời sống thánh hiến được nói đến ở mọi nơi trong Tông huấn Vita Consecrata[4], ngay từ số đầu tiên. Mọi sự đều được hiểu trong mối quan hệ với sứ mệnh. Mọi sự đều qui về sứ mệnh. Mọi sự đều trở thành sứ mệnh. Sứ mệnh bao trùm toàn bộ đời sống của những người tận hiến. Đặc biệt, Tông huấn nối kết hai ư niệm thánh hiến và sứ mệnh: thánh hiến và sứ mệnh bổ túc cho nhau và đan quyện vào nhau, tạo nên căn tính của đời sống thánh hiến. Không thể hiểu cái này nếu không có cái kia. Người tận hiến không thể yêu Chúa, mà lại không yêu người thân cận (x. Mt 22, 34-40; 1Ga 4, 20-21). Thánh hiến bao hàm sứ mệnh, v́ việc trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô cũng có nghĩa là tham gia vào sứ mệnh của Ngài: thánh hiến để được sai đi. Sứ mệnh lại dẫn đến thánh hiến, v́ việc truyền giáo của đời sống thánh hiến thiết yếu ở chứng tá của chính sự tận hiến (số 76). Chứng tá quan trọng nhất của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện (số 32 - 35). Sự thánh hiến, trước tất cả, là hành động của Chúa Cha; bước theo Chúa Kitô trên con đường đến với Chúa Cha và phục vụ kế hoạch cứu độ của Chúa Cha; Chúa Thánh Thần, nguồn gốc mọi đặc sủng, cụ thể hóa sứ mệnh của đời sống thánh hiến trong những t́nh huống lịch sử của nhân loại.

 

2. Sứ vụ của đời sống thánh hiến trong Giáo hội

Mọi hội ḍng được thành lập là để phục vụ Giáo hội, làm cho Giáo hội thêm phong phú qua đặc tính và sứ vụ riêng biệt của ḿnh (MR 14b). 

Lumen Gentium đă đặt đời sống thánh hiến trong ḷng Hội thánh, để nhắc nhở họ rằng việc theo Chúa không chỉ là lợi ích của riêng họ, mà c̣n liên hệ tới cả Hội thánh nữa. V́ thuộc về bản chất của Hội thánh, nên đời tu cũng gắn liền với sứ mệnh của Hội thánh (x. LG 44). Đặc sủng của họ không chỉ được ban tặng cho riêng họ, nhưng c̣n là một ân huệ cho đời sống và sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội (x. LG 43, 44; PC 5).

Đời sống thánh hiến họa lại nếp sống của Chúa Kitô trinh sạch, khó nghèo và vâng phục- nếp sống biểu lộ t́nh con thảo của Ngài với Chúa Cha (VC 1a, 16, 18, 21...), nên nó có vị trí ưu việt trong Hội thánh, là một ân huệ qúi báu và cần thiết cho hiện tại và tương lai của dân Thiên Chúa (VC 3, 18, 32, x. 105). Giáo hội cần họ để họa lại nếp sống của Con Thiên Chúa. Thêm vào đó, đời sống thánh hiến c̣n biểu lộ mối t́nh duy nhất của Giáo hội dành cho Đức Lang Quân (VC 3, 34). Như thế, đời sống thánh hiến gắn liền với sứ mệnh (VC 1, 25) và cánh chung của toàn thể Giáo hội (VC 26). Tông huấn khẳng định một cách rơ ràng tầm quan trọng và sự cần thiết của đời sống thánh hiến đối với Giáo hội (VC 3, 6, 18,29, 32, 105). Mặc dù tông huấn cũng coi tất cả mọi Kitô hữu đều b́nh đẳng như nhau, cùng có chung một phẩm giá, cùng được kêu gọi nên thánh (VC 31b, 18b) và mỗi người đều làm phong phú người khác (VC 33b), nhưng tông huấn cho thấy vị trí trổi vượt của đời sống thánh hiến, v́ người được thánh hiến sống triệt để nếp sống mà Chúa Giêsu đă sống khi được Chúa Cha sai đến thế gian.[5] Nhờ có sự đóng góp của các tu sĩ mà Tin mừng có thể được biết đến rộng răi như ngày nay, Giáo hội mới được cắm sâu vào nhiều nơi trên thế giới và bộ mặt Giáo hội được tươi thắm tại các Giáo hội c̣n non trẻ (x. VC 47).

Các văn kiện của Giáo hội, đặc biệt là các Đức Giáo hoàng đều đề cập đến sứ mệnh truyền giáo (mission) của các đấng sáng lập. Đặc sủng của các đấng sáng lập th́ đa dạng. Giáo hội, như Đức Gioan Phaolô II đă tŕnh bày, cần sự đa dạng về đặc sủng và ơn gọi này, bởi v́ cả sự phong phú về tinh thần và sự phục vụ nhân loại của Giáo hội đều tùy thuộc vào nó.[6] Bởi vậy, Ad Gentes đă tŕnh bày rằng trong việc xây dựng Giáo hội địa phương, việc thành lập các hội ḍng cần phải được ưu tiên ngang hàng với việc đào tạo hàng giáo sĩ (x. AG 15, 18).

Các Giám mục cần trợ giúp, nâng đỡ, thăng tiến và bênh vực những người sống đời tận hiến, hầu giúp họ hội nhập, sống hiệp thông với Giáo hội, khai mở những định hướng thiêng liêng và mục vụ đáp ứng lại những nhu cầu của thời đại ngày nay, nhưng vẫn trung thành với đoàn sủng của mỗi hội ḍng. Những người tận hiến, tùy theo khả năng và sứ vụ của ḿnh, nên quảng đại cộng tác với Giáo hội địa phương trong tinh thần hiệp thông trọn vẹn với Giám mục trong các lănh vực loan báo Tin mừng, huấn giáo và sinh hoạt giáo xứ. Các tu sĩ phải coi Giám mục không chỉ như chủ chăn của toàn thể cộng đồng giáo phận, mà c̣n như vị bảo đảm sự trung tín của họ với ơn gọi trong việc chu toàn việc phục vụ v́ lợi ích của Giáo hội địa phương. Các tu sĩ hăy mau mắn và trung thành hưởng ứng những lời thỉnh cầu và nguyện vọng của các Giám mục để nhận lănh những vai tṛ rộng lớn hơn trong việc cứu độ con người, tuy vẫn phải duy tŕ đặc tính của hội ḍng và theo đúng hiến pháp. Sự quan tâm của các Giám mục đối với ơn gọi và sứ vụ của các hội ḍng và thái độ kính trọng của các hội ḍng đối với thừa tác vụ Giám mục được thể hiện qua việc mau mắn đón nhận những chỉ thị cụ thể về mục vụ giáo phận, thể hiện hai h́nh thái liên kết chặt chẽ của một đức ái duy nhất trong Giáo hội. Đức ái đ̣i hỏi mỗi bên phải phục vụ sự hiệp thông hữu cơ (vừa có tính đoàn sủng, vừa có tính phẩm trật) của toàn dân Thiên Chúa (x. VC 49; MR 52; CD 35,1).

“Các Giám mục được yêu cầu đón tiếp và trân trọng các đoàn sủng của các hội ḍng, dành cho chúng một chỗ trong kế hoạch mục vụ của giáo phận. Các ngài phải đặc biệt quan tâm đến các hội ḍng thuộc quyền giáo phận, được trao phó cho các ngài chăm sóc đặc biệt. Một giáo phận không có đời sống thánh hiến sẽ thiếu nhiều ơn huệ thiêng liêng, thiếu những nơi dành riêng cho việc t́m kiếm Thiên Chúa, thiếu các hoạt động tông đồ và những phương thức mục vụ chuyên biệt; hơn nữa, giáo phận đó có thể suy yếu đi rất nhiều, v́ thiếu vắng tinh thần truyền giáo vốn là đặc điểm của hầu hết các hội ḍng (x. AG 18[7]). V́ thế, cần biết đón nhận, với ḷng tri ân và quảng đại, hồng ân của đời sống thánh hiến mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội địa phương.” (VC 48)

Cần có sự đối thoại thường xuyên trong t́nh bác ái giữa Giám mục và các bề trên các hội ḍng trong giáo phận. Qua các cuộc gặp gỡ, các bề trên có thể thông báo cho các Giám mục biết những kế hoạch tông đồ ḿnh đang nhắm đến trong giáo phận của các ngài, để cùng trao đổi thực hiện. Do đó, Các bề trên thượng cấp cần phải nắm vững được khả năng của các tu sĩ dưới quyền ḿnh, và đồng thời nắm bắt được những nhu cầu tông đồ của các giáo phận mà ḿnh được mời gọi cộng tác. Các Giám mục và những cộng sự viên trực tiếp của ngài không những phải hiểu rơ đặc tính riêng biệt của mỗi hội ḍng, mà c̣n phải nắm rơ hiện trạng và các tiêu chuẩn canh tân của họ. Đối thoại giúp hiểu biết lẫn nhau để có thể hợp tác với nhau, nhất là trong lănh vực mục vụ. Nhằm tạo ra sự hiểu biết giữa đôi bên, nên đưa môn thần học và linh đạo của đời sống thánh hiến vào chương tŕnh thần học của các linh mục giáo phận; cũng vậy, chương tŕnh đào tạo tu sĩ nên bao gồm việc học hỏi nền thần học Giáo hội địa phương và linh đạo giáo sĩ giáo phận (x. VC 50; MR 38, 45, 47).

Đối với các nữ tu, các Giám mục, các cộng sự viên của ngài và các bề trên ḍng cần tôn trọng và nh́n nhận đúng đắn vai tṛ riêng biệt của nữ tu trong các hoạt động tông đồ. Họ phải được qúi trọng và đánh giá đúng đắn v́ chứng tá con người tận hiến của họ, trước khi v́ những hoạt động hữu ích mà họ đảm nhận cách quảng đại (x. MR 49- 50).

“Cùng với hàng giáo sĩ của ḿnh, các Giám mục phải là những người xác tín về đời sống thánh hiến, che chở những cộng đoàn tu sĩ, giáo dục ơn gọi và bảo vệ một cách hữu hiệu  đặc tính của mỗi gia đ́nh hội ḍng trong lănh vực thiêng liêng cũng như hoạt động tông đồ.” (MR 28; x. MR 46, 52)

Các Giám mục dùng lề luật mà hướng dẫn một cách khôn ngoan việc thực thi các Lời khuyên Phúc âm; phê chuẩn những luật ḍng (x. LG 45); thừa nhận và trao phó cho các hội ḍng sứ mệnh riêng biệt của họ, khuyến khích họ dấn thân thành lập các cộng đoàn mới (x. AG 18, 27); giúp cho các hội ḍng phát triển và sinh hoa trái theo tinh thần của đấng sáng lập bằng cách lấy quyền bính của ḿnh mà săn sóc, bênh vực và nâng đỡ (x. LG 45). Ở đây, cần phân biệt việc sáng lậpthiết lập. Việc sáng lập do ơn Chúa ban cho một tín hữu nào đó, thôi thúc họ lập nên một hội ḍng mới để đạt tới mục tiêu nào đó. Việc thiết lập là một hành vi pháp lư, thuộc thẩm quyền của Giáo hội.

Bộ Giáo luật cũng tŕnh bày: “Hội thánh có thẩm quyền giải thích các lời khuyên Phúc âm, ban hành những qui luật chi phối việc thực hành chúng, thiết lập những h́nh thức sống bền vững các lời khuyên đó bằng cách phê chuẩn những hội ḍng và lo liệu để cho các hội ḍng được tăng tiến và phát triển theo tinh thần của các đấng sáng lập và truyền thống lành mạnh.” (Can 576; x. LG 43)

Các Giám mục và các tu sĩ đều có bổn phận phải truyền giáo, một bổn phận gắn liền với chính tác vụ và đặc sủng của họ. Bổn phận này mỗi ngày một trở nên khẩn trương, cấp bách hơn trong bối cảnh văn hóa, chính trị, xă hội ngày càng biến chuyển nhanh chóng. Những biến chuyển này đ̣i hỏi việc canh tân nhiều sinh hoạt mục vụ truyền thống, đ̣i hỏi nhiều sáng kiến mới trong các hoạt động tông đồ (x. MR 19, 41).

Bộ Giáo luật điều 675 xác định: Hoạt động tông đồ với Giáo hội: Hoạt động tông đồ được thi hành nhân danh và với ủy nhiệm của Giáo hội; do đó, cần được thực hiện trong sự hiệp thông với Giáo hội. Các hội ḍng có quyền tự trị trong tổ chức nội bộ để bảo vệ gia sản của ḿnh và các Bản quyền sở tại có bổn phận tôn trọng sự tự trị đó (Can 586). Các Hội ḍng chỉ phục tùng Giám mục trong hoạt động tông đồ bên ngoài. 

MR 44 đă liệt kê những lănh vực trong hoạt động mục vụ mà tu sĩ phải tùy thuộc Giám mục: “Công đồng tuyên bố rơ ràng rằng mọi tu sĩ miễn trừ và không miễn trừ đều phải phục tùng bản quyền địa phương trong những điều liên quan đến việc công khai tôn thờ Thiên Chúa (tuy vẫn tôn trọng sự khác biệt của các nghi lễ), việc coi sóc các linh hồn, việc giáo huấn cho dân chúng, việc giáo dục tôn giáo và luân lư, việc tổ chức dạy giáo lư và huấn luyện phụng vụ cho các tín hữu nhất là cho thiếu nhi, tư cách của hàng giáo sĩ và cả những việc liên quan đến hoạt động tông đồ. Các học đường Công giáo do các tu sĩ đảm nhiệm cũng phải lệ thuộc bản quyền sở tại về những ǵ liên hệ đến tổ chức chung và giám sát. Các tu sĩ cũng buộc phải tuân giữ tất cả những ǵ mà các công đồng hay HĐGM ban bố cách hợp pháp, buộc mọi người phải giữ (x. CD 35,4; 35,5; ES I,39; MR 53)”.

Những qui tắc cho mối tương quan giữa Giám mục và tu sĩ (MR) đă được Bộ Giáo luật hiện hành lấy làm nền tảng cho các điều 678- 683[8]. Điều 678 §1 xác định 3 lănh vực mà các hội ḍng (cả các ḍng miễn trừ) phải tuân theo đường lối của Giám mục giáo phận: coi sóc các linh hồn (công việc của các giáo sĩ), cử hành phụng tự công khai (nếu cử hành chỉ riêng cho cộng đoàn tu viện, th́ có thể theo nghi thức riêng của ḍng, kể cả sử dụng các ngôn ngữ cổ điển như Latinh, Hy lạp) và các hoạt động tông đồ khác (ngoài 2 lănh vực trên đây, như hoạt động bác ái). Giáo luật đă qui định về phụng vụ (Can 838 §4), về các ngày lễ buộc (Can 1246 §2),  về bổng lễ và thù lao khi cử hành bí tích và á bí tích  (Can 952 §3), về việc quyên tiền (Can 1265, 1266), năng quyền giải tội (Can 969 §1), năng quyền để dạy giáo lư (Can 805), mở trường Công giáo (Can 801), phép ấn hành sách báo Công giáo (Can 824 §1), qui tắc về việc sử dụng phương tiện truyền thông xă hội (Can 831).

Các hội ḍng cần phải có sự thỏa thuận của Giám mục khi: mở một tu viện trong giáo phận (Can 609), thay đổi công tác tông đồ (Can 612). Trước khi đóng cửa một tu viện cũng phải tham khảo ư kiến của ngài (Can 616 §1). Đối với các ḍng giáo dân, việc bổ nhiệm cha tuyên úy và cha giải tội thường xuyên thuộc thẩm quyền của Bản quyền sở tại, sau khi đă bàn hỏi với bề trên và cộng đoàn (Can 567; 630 §3). Can 681 §1 qui định các tu sĩ được Giám mục trao một công tác hay chức vụ ǵ như giáo xứ (Can 520) hay một khu vực truyền giáo (Can 790), th́ họ phải ở dưới quyền và tuân hành chỉ thị của Giám mục trong những lănh vực đó. Dĩ nhiên, họ phải làm phúc tŕnh lên Giám mục và vị này có quyền thanh tra kinh lư.

Ngoài ra, Bộ Giáo luật c̣n qui định cho các hội ḍng thuộc giáo phận một số trường hợp liên hệ với Giám mục giáo phận nữa (x. Can 595 §1; 625 § 2; 628 §2.2; 637, 638 §4; 595 §2; 686 §1.4; 688 §2; 696 §2; 700)[9]

Cần có bản hợp đồng đối với các công tác tông đồ mà Giám mục giáo phận trao cho một hội ḍng. Bản hợp đồng được kư kết giữa Bản quyền sở tại và bề trên có thẩm quyền, trong đó ghi rơ những ǵ liên quan đến việc thực hiện công tác, các tu sĩ được gửi tới làm việc và các vấn đề tài chính. Bề trên phải trao đổi với Giám mục giáo phận về nhân sự, nếu trao cho tu sĩ một chức vụ thuộc giáo sĩ th́ đương sự phải được chính Bản quyền sở tại bổ nhiệm, cho một nhiệm kỳ được 2 bên thỏa thuận. Mục đích bản hợp đồng là để tránh việc thay đổi dễ dàng các người phụ trách và bảo đảm việc chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản trong trường hợp công tŕnh phải giải tán (x. MR 57; Can 681, 682). “V́ một lư do nghiêm trọng, bất kỳ một tu sĩ nào cũng có thể bị giải nhiệm hoặc do ư muốn của giáo quyền đă trao nhiệm vụ, sau khi đă báo cho bề trên đương sự biết; hoặc do ư muốn của bề trên, sau khi đă báo cho giáo quyền đă trao nhiệm vụ biết. Hai bên đều có quyền ngang nhau. Bên này không buộc phải có sự đồng ư của bên kia. Bên này không cần phải chứng minh hay ngay cả thông tri cho bên kia những lư do của sự quyết định của ḿnh. Mỗi bên vẫn có quyền khiếu nại lên Ṭa Thánh nếu muốn.” (MR 58; x. Can 682 §2)

Đối với tu sĩ linh mục và phó tế (x. PI 108- 109): Tu sĩ linh mục và phó tế cần ư thức về hai khía cạnh trong một ơn gọi duy nhất của ḿnh: ơn gọi sống trong hội ḍng và trong giáo phận. Họ phải sống hài ḥa hai chiều kích này. Họ “phải có một nhận thức rơ rệt và những xác tín vững chắc về bản chất của thừa tác vụ linh mục và phó tế (thuộc về cơ cấu của Giáo hội) và của đời tu (thuộc về sự thánh thiện và sự sống của Giáo hội) (x. LG 44), nhưng họ phải giữ nguyên tắc này là thừa tác vụ mục vụ của ḿnh là thành phần của bản chất đời tu (x. PC 8).” (PI 108; x. PI 109)

 

3. Truyền giáo theo đặc sủng của mỗi hội ḍng

  Đặc sủng chính là “tiêu chuẩn chắc chắn nhất cho sự quyết định về loại  hoạt động của mỗi hội ḍng.” (ET 11) Đặc sủng luôn gắn liền với sứ mệnh truyền giáo, mỗi hội ḍng có một sứ mệnh truyền giáo riêng biệt, tùy theo đặc sủng của ḿnh (x. VC 19, 72, 46; PC 10, 20; Can 673, 674, 676, 677). Đối với các hội ḍng chiêm niệm, Bộ Giáo luật, điều 674, viết: Các tu sĩ sống đời chiêm niệm thuần túy th́ tham gia vào hoạt động tông đồ theo đường lối riêng của họ: “Họ dâng lên Thiên Chúa hy lễ ngợi khen tuyệt vời, họ trang điểm dân Chúa với những hoa trái dồi dào của sự thánh thiện, họ thúc đẩy dân Chúa bằng gương sáng và làm cho nó phát triển nhờ sự phong nhiêu kín nhiệm của ḿnh.” Trong những hội ḍng hoạt động tông đồ, yếu tố đầu tiên để đặc sủng xuất hiện là sự nhận thức về một nhu cầu thiết yếu nào đó trong Giáo hội và ơn gọi để đáp ứng lại nhu cầu đó. Những đặc sủng khác nhau của các hội ḍng làm phong phú đời sống của Giáo hội và góp phần vào sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội theo tính cách riêng của mỗi hội ḍng.[10] Mỗi hội ḍng có một sứ mệnh riêng trong Thân thể Chúa Kitô mà không ai khác có thể thay thế được. Nếu họ không thực hiện nó, họ khước từ kế hoạch của Thiên Chúa trao cho họ.

 

4. Trung thành một cách sáng tạo với sứ vụ

“Các Bề trên và các phần tử hăy trung thành duy tŕ sứ mệnh và các công tác riêng của ḍng. Tuy nhiên, họ hăy biết thích ứng chúng cách khôn ngoan chiếu theo nhu cầu của thời thế và địa phương, kể cả bằng việc sử dụng các phương tiện mới mẻ và thích ứng.” (Can 677 §1).

Trong bối cảnh xét lại các h́nh thức hoạt động tông đồ, văn kiện “Những yếu tố cốt yếu của đời tu” (số 27) đă đưa ra những khuyến cáo về ba cơn cám dỗ khi xây dựng kế hoạch hoạt động tông đồ: (i) muốn ôm đồm mọi h́nh thức hoạt động tông đồ, (ii) bỏ đi những h́nh thức hoạt động truyền thống theo đặc sủng của ḍng, để chạy theo những hoạt động đáp ứng nhu cầu xă hội tức thời, nhưng lại không hợp với đặc sủng của ḍng, (iii) phân tán nhân lực ḍng vào những hoạt động ngắn hạn, chỉ liên hệ đến đặc sủng một cách mơ hồ; do đó, với thời gian, tính cách đồng nhất trong việc thực hiện đặc sủng của ḍng sẽ bị tổn thương.[11]

Dù nhu cầu mục vụ cấp bách thế nào đi nữa, chúng ta luôn phải nhớ rằng sự đóng góp tốt nhất mà một hội ḍng có thể đem lại cho Giáo hội là sự trung thành với đoàn sủng của họ. Hội ḍng càng hiện diện theo đoàn sủng của ḿnh, càng đem lại nhiều hoa trái (x. FLC 61; MR 49- 50).

Bởi đó, người tu sĩ trong mỗi hội ḍng cần thấm nhuần tinh thần của đấng sáng lập. Đây là một trong những hướng dẫn chính của công đồng Vatican II đối với việc canh tân và thích nghi của đời sống thánh hiến (x. PC 2). Đức Gioan Phaolô II cũng yêu cầu các hội ḍng chú tâm vào việc đào tạo theo đoàn sủng riêng biệt của họ, để họ có thể thực hiện sứ mệnh loan báo Tin mừng tùy theo đoàn sủng của ḿnh (x. VC 68, 72). Đoàn sủng tạo nên linh đạo, lối sống, truyền thống và sứ mệnh của hội ḍng. Bởi đó, việc đào tạo theo đoàn sủng sẽ giúp các thành viên trong hội ḍng ư thức được căn tính của ḿnh, cũng như sứ mệnh đặc biệt mà họ được trao phó để xây dựng Giáo hội và phục vụ nước Thiên Chúa. Trong Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, Đức Gioan Phaolô II viết: “Tôi hiệp ư với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà kêu gọi những người sống đời thánh hiến, canh tân sự nhiệt thành của họ trong việc loan báo chân lư cứu độ của Chúa Kitô. Tất cả phải được huấn luyện và đào tạo xứng hợp; nền huấn luyện này cần tập trung vào Chúa Kitô và trung thành với đoàn sủng nền tảng của họ, nhấn mạnh đến sự thánh thiện và chứng tá cá nhân; tu đức và lối sống của họ phải nhạy cảm với gia sản tôn giáo của dân tộc mà họ đang sống và phục vụ.” (EA 44)

Chúa Thánh Thần là nguồn gốc mọi ơn gọi tận hiến, nên cần phải trung thành sáng tạo với đặc sủng/đoàn sủng (VC 36, 37, 73, 74) khi canh tân việc huấn luyện (VC 65, 68, 71, 80), sống linh đạo (VC 37, 93) và hoạt động tông đồ (VC 48, 63, 72).

 

5. Loan báo Tin mừng, ch́a khóa để hiểu được đời sống thánh hiến hôm nay

Qua gịng lịch sử, nhiều hội ḍng được thành lập để đáp ứng lại những t́nh huống lịch sử nào đó, thực hiện một sứ mệnh nào đó bên trong hoặc bên ngoài cộng đoàn: qua việc hăm ḿmh và khẩn cầu cho trần thế trong đời sống chiêm niệm, qua việc loan báo Tin Mừng trong những h́nh thức phục vụ khác nhau.

Căn tính đời sống thánh hiến ngày nay dựa trên sứ mệnh truyền giáo, bởi v́ đó chính là lư do cho sự hiện diện của họ (x. EE 23-24). “Tinh thần truyền giáo phải được tuyệt đối duy tŕ trong các hội ḍng và tùy bản chất riêng của mỗi ḍng mà thích nghi với hoàn cảnh hiện tại, để việc rao giảng Phúc âm giữa muôn dân được hữu hiệu.” (PC 20) Nơi các hội ḍng hoạt động tông đồ, “hoạt động tông đồ và từ thiện thuộc về chính bản tính của đời sống tu tŕ.” (PC 8) Bộ giáo luật cũng đă viết: “Hoạt động tông đồ làm nên phần cốt yếu của các ḍng chuyên biệt tông đồ. V́ vậy, toàn bộ đời sống của các thành viên phải được thấm nhuần tinh thần tông đồ, và toàn thể hoạt động tông đồ phải được chất chứa tinh thần tu tŕ.” (Can 675 §1) Người tu sĩ phải bước theo Chúa Kitô trên những con đường mà Ngài đă đi: cầu nguyện trên núi, rao giảng cho đám đông, chữa lành những người bệnh, khuyên nhủ các tội nhân ăn năn sám hối, chúc lành cho trẻ em và ban ơn lành cho mọi người, trong tinh thần vâng phục thánh ư Chúa Cha (x. LG 46; PC 14; Can 577).

Có thể nói rằng sứ mệnh truyền giáo là ch́a khóa để hiểu được đời sống thánh hiến ngày nay và mọi việc xảy ra trong nó. Không có một nhận thức mạnh mẽ về sứ mệnh truyền giáo, đời tu không c̣n ư nghĩa, không c̣n lư do để tồn tại. Do đó, họ cần ngoan ngoăn vâng theo sự thúc đẩy của Thần khí để trở thành dụng cụ hữu hiệu cho Ngài trong sứ mệnh loan báo Tin mừng.[12]

Qua VC 72, chúng ta thấy mọi sự đều liên quan đến sứ mệnh: việc bắt chước Chúa Kitô, trở nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài, chứng tá cộng đoàn và cá nhân, ơn gọi, đặc sủng, các lời khuyên Phúc âm, đời sống huynh đệ trong cộng đoàn,  những hoạt động đặc biệt của mỗi hội ḍng,… Tất cả đều được nối kết với sứ mệnh. Không một khía cạnh nào có thể được hiểu và sống riêng rẽ được.

Cách đặc biệt, đời sống thánh hiến phải trở thành dấu chỉ/chứng tá (x. VC 15, 25, 27, 32-35, 76, 85, 92, 104- 105) và ngôn sứ (x. VC 33a, 39, 84- 95) trong thế giới hôm nay.

 

6. Cộng tác với người giáo dân

Trong thời đại chúng ta, người giáo dân đóng vai tṛ chủ đạo trong sứ mệnh loan báo Tin mừng và tân Phúc âm hóa. Qua các đặc sủng của họ, họ tích cực loan báo Tin mừng cho toàn thế giới qua con đường đối thoại bằng đời sống, mang sứ điệp của Tin mừng đến khắp mọi nơi. Một số phong trào Giáo hội đă liên kết chặt chẽ với các hội ḍng và chia sẻ đoàn sủng, linh đạo và sứ mệnh đặc biệt của các hội ḍng đó. Sự hiệp thông và cộng tác này giúp phổ biến linh đạo hướng tới hoạt động ra ngoài biên giới của hội ḍng, giúp cho hội ḍng đào sâu và làm phong phú thêm đoàn sủng của ḿnh và từ đó rút ra nhiều gợi ư cho hoạt động tông đồ mới mẻ. Nhờ gương thánh thiện của những người tận hiến, người giáo dân sẽ có kinh nghiệm trực tiếp về tinh thần của các lời khuyên Phúc âm, được khích lệ và làm chứng cho tinh thần các mối phúc để biến đổi trần thế theo ư định của Thiên Chúa (x. VC 54- 56; FLC 62, 70). Bởi đó, các hội ḍng nên xem xét lại những hoạt động truyền thống của ḿnh để hợp tác với người giáo dân trong công việc truyền giáo, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu tông đồ và mục vụ đang nổi lên, đặc biệt trong những lănh vực công bằng xă hội, xây dựng những cộng đoàn cơ bản được năng động bởi sự hiệp thông và tham gia và biến đổi xă hội nên tốt đẹp hơn.

Trong Châu Á ngày nay, Chúa Thánh Thần đang thúc giục những môn đệ của Chúa Kitô sống và làm chứng về sự hiệp nhất trong Giáo hội địa phương, đặc biệt là tại lănh vực giáo xứ, xây dựng một Giáo hội tham gia mà trong đó các Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân cùng hiệp thông, chia sẻ, hợp tác và đồng trách nhiệm trong sứ vụ loan báo Tin mừng.[13]

Tóm lại, người tu sĩ cần phải biết được căn tính ơn gọi của ḿnh trong Giáo hội. Họ phải giữ ǵn, đào sâu và sống với sự trung thành và ḷng biết ơn đối với đặc sủng mà đấng sáng lập của họ đă nhận được và truyền lại cho họ. Mỗi hội ḍng có một linh đạo riêng, một sứ vụ riêng tùy theo đoàn sủng của ḍng ḿnh. Việc đào tạo, sống và hoạt động theo linh đạo và sứ vụ sẽ tạo nên nét riêng biệt của mỗi hội ḍng. Muốn có đổi mới, chúng ta cần biết chúng ta là ai. Mỗi hội ḍng phải ra sức giữ lấy căn tính của ḿnh để khỏi rơi vào t́nh trạng mập mờ, không xác định được vị trí và nhiệm vụ của ḿnh trong đời sống Giáo hội (x. FLC 46).

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Antonio Romano. The Charism of the Founders: The person and Charism of Founders in Contemporary Theological Reflection. Ireland: St Pauls, 1994.

- Cassian J. Yuhaus, ed. Religious Life: The Challenge of Tomorrow. New York: Paulist Press, 1994.

- Fabio Ciardi. Koinonia- Spirituality and Theology of the Growth of Religious Community. Quezon City: Claretian Publications, 1999.

- Felicisimo Diez Martinez, OP. Refounding Religious Life: Charismatic Life and Prophetic Mission. Quezon City: Claretian Publications, 2000.

- Gerald A. Arbuckle, SM. From Chaos to Mission, Refounding Religious Life Formation. London: Geoffrey Chapman, 1996.

- Jesus Alvarez Gomez. New Evangelization for the Third Millennium. Quezon City: Claretian Publications, 1997.

- John Manuel Lozano, CMF. Foundresses, Founders and Their Religious Families. Chicago: Claret Center   for Resources in Spirituality, 1983.

- Leonardo Boff. Church: Charism & Power- Liberation Theology and the Institutional Church. New York: Crosss, 1992.

- Marcello Azevedo, SJ. Vocation for Mission- The Challenge of Religious Life Today. New York: Paulist Press, 1988.

- M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ). Đời tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II và Giáo luật, Quyển I. The Daughters of St. Paul, 1986.

- Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3 và 4, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. Rôma, 1993.

- Saint Francis of Assisi. Writtings and Early Biographies. Chicago: Franciscan Herald Press, 1973.

- Sandra Schneiders. Religious Life in a New Millennium, Volume I, Finding the Treasure- Locating Catholic Religious Life in a New Ecclesial and Cultural Context. NewYork: Paulist Press, 2000.

- Teresa Ledóchowska Osu. In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union. Roma: Ursulines of the Roman Union Via Nomentana 236, 1976.

- The 54th Assembly of the Union of Superiors General (Unione Superiori Generali).  For a Creative Fidelity Refounding- Resituating Charisms, Redesigning Presence. Rome 1998.

 

CHỮ VIẾT TẮT

 

AG      Sắc lệnh về Truyền giáo

CD      Sắc lệnh về Chức vụ Giám mục

CL                 Tông huấn Christifideles Laici

   EA      Tông huấn Giáo hội tại Á Châu

   EE     Văn kiện Những Yếu tố Cốt yếu của Đời tu

ET      Tông huấn Chứng tá Tin Mừng

FLC   Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn

LG                 Hiến chế Tín lư về Hội thánh

      MR     Văn kiện Mối Tương quan giữa

            các Giám mục với các Tu sĩ

PC      Sắc lệnh về việc Canh tân Ḍng tu

RM     Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc

      SAFC  Huấn thị Xuất Phát Lại Từ Chúa Kitô.

VC                Tông huấn về Đời sống Thánh hiến

 


 


[1] Đặc sủng được ban nhằm phục vụ lợi ích cộng đoàn; c̣n ơn thánh sủng nhằm thánh hoá bản thân người nhận.

[2] “Đời sống thánh hiến và các cơ cấu trong Giáo hội không phải là 2 thực tại tồn tại riêng biệt, như thể một thực tại thuộc về ân sủng và thực tại kia thuộc về cơ cấu. Trái lại, 2 yếu tố ấy, tức ân sủng thần thiêng và cơ cấu trong Giáo hội, làm thành một thực tại duy nhất, tuy phức tạp (x. LG 8)” (MR 34)

[3] Thần học về đặc sủng của đời sống thánh hiến mới phát triển từ công đồng Vat II và đến nay vẫn chưa thực sự chín mùi. Bài viết này dựa vào các văn kiện của Giáo hội, cũng như các tác giả và các nhà thần học nổi tiếng hiện nay xuất phát từ các ḍng tu.

[4] X. Đức Phaolô VI, bài nói chuyện với một số tu sĩ ngày 31/3/1969, trong AAS 61 (1969) 266;  và trong bài giảng ngày 4/3/1964; ET 11.

[5] Đức Gioan Phaolô II, Bài nói chuyện với các bề trên tổng quyền nam, ngày 24/11/1978, được trích lại trong John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families (Chicago: Claret Center   for Resources in Spirituality, 1983), tr. 28.

[6] Kinh nghiệm hay cảm nghiệm là một đặc sủng, v́ là một ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần.

[7] X. John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 29-30.

[8] X. Cassian J. Yuhaus, ed., Religious Life: The Challenge of Tomorrow (New York: Paulist Press, 1994), tr. 184- 185.

[9] X. Teresa Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union (Roma: Ursulines of the Roman Union Via Nomentana 236, 1976), tr. 26.

[10] Các đặc sủng được ban là để phục vụ lợi ích chung, phục vụ cộng đoàn, nên c̣n được gọi là Đoàn sủng.

[11] X. Antonio Romano, The Charism of the Founders: The person and Charism of Founders in Contemporary Theological Reflection (Ireland: St Pauls, 1994), tr. 149-150.

[12] V́ không định nghĩa được, nên Bộ Giáo luật đă không sử dụng từ đặc sủng  (v́ luật th́ phải rơ ràng), mà sử dụng các từ như gia sản tinh thần, truyền thống, linh đạo, căn tính, đặc tính,…

[13] X. Antonio Romano, The Charism of the Founders, tr. 109, 140; M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ), Đời tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II và Giáo luật, Quyển I (The Daughters of St. Paul, 1986),  tr. 66- 68, 148- 154.

[14] X. The 54th Assembly of the Union of Superiors General (Unione Superiori Generali),  For a Creative Fidelity Refounding- Resituating Charisms, Redesigning Presence (Rome 1998),  tr. 74-75.

[15] X. Teresa Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union, tr. 16, 19, 23, 30.

[16] X. Antonio Romano, The Charism of the Founders, tr. 179.                                                                             

[17] X. Ibid., tr. 165, 175.

[18] X. S. McCarty, Touching Each Other at the Roots: A Reflection on the Charism of the Founder, trong Review for Religious 31 (2/1972) 205.

[19] X. Teresa Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union, tr. 23, 31-33.

[20] X. Antonio Romano, The Charism of the Founders, tr.151-156; Teresa Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union, tr. 17.

[21] X. John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 89-90.

[22] X. Futrell, J.C., Discovering the Founder’s charism, in The Way Supplement 14 (1971) 62,70.

[23] F. George, Critères pour découvrir et vivre le charisme du Fondateur aujourd’hui, trong Vie Oblate Life 36 (1977) 39.

[24] X. Antonio Romano, The Charism of the Founders, tr. 181.

[25] X.  Ibid., tr. 171.

[26] x. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 4, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993), tr. 762- 763.

[27] Linh Đạo là con đường thiêng liêng, con đường nên thánh. Trong các ḍng tu, mỗi hội ḍng đều có một linh đạo riêng, một con đường nên thánh riêng do vị sáng lập vạch ra.

[28] X. John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 45-46.

[29] X. Fabio Ciardi, Koinonia- Spirituality and Theology of the Growth of Religious Community (Quezon City: Claretian Publications, 1999),  tr. 256- 259.

[30] X. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2,tập 3, tr. 353-354, 411-412.

[31] X. John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 46; Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2, tập 3,  tr. 360-362.

[32] X. Marcello Azevedo, SJ, Vocation for Mission- The Challenge of Religious Life Today (New York: Paulist Press, 1988), tr. 137.

[33] X. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2, tập 3, tr. 360-361, 366-367.

[34] X. Fabio Ciardi, Koinonia, tr. 157-158.

[35] X. Ibid., tr. 47.

[36] X. John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 77.

[37] X. Fabio Ciardi, Koinonia, tr. 276-279; M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ), Đời tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II và Giáo luật, Quyển I (The Daughters of St. Paul, 1986),  tr. 199.

[38] X. Thượng Hội đồng Giám mục, kỳ IX, Đời Sống Thánh Hiến và Sứ Mạng của Đời sống này trong Giáo hội và trong Thế giới (Tài lệu làm việc), số 16-17.

[39] X. Teresa Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union, tr. 27.

[40] X. Ibid., tr. 13-14, 15.

[41] Sắc lệnh về truyền giáo, Ad Gentes (AG) nói về các hội ḍng: số 15i (vai tṛ bất khả thay thế), số 18- 19 (phát huy đời tu ở các xứ truyền giáo), số 20 (ḷng nhiệt thành của các tu sĩ), số 27 (các tu hội truyền giáo), số 32- 33 (hợp tác với Giáo hội địa phương trong hoạt động truyền giáo), số 40 (nhiệm vụ truyền giáo của các tu sĩ).

[42] Tông huấn Vita Consecrata,1996, đúc kết những khuynh hướng khác nhau về thần học và mục vụ trong suốt 30- 35 năm, kể từ công đồng Vatican II.

[43] X. Jesus Alvarez Gomez, New Evangelization for the Third Millennium (Quezon City: Claretian Publications, 1997), tr. 78; VC 19.

[44] X. Jose Cristo Rey Garcia Paredes, CMF, “Mission: The Key to Understand Consecrated Life Today.” Religious Life Asia 6 (January-March 2004): tr. 59-77; Marcello Azevedo, SJ, Vocation for Mission- The Challenge of Religious Life Today (New York: Paulist Press, 1988), tr. 138.



[1] X. Teresa Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union, tr. 27.

[2] X. Ibid., tr. 13-14, 15.

[3] X. LG 46; Can 577;  P.T.Thành, Giải thích GL, tập 4, p. 564

[4] Tông huấn Vita Consecrata,1996, đúc kết những khuynh hướng khác nhau về thần học và mục vụ trong suốt 30- 35 năm, kể từ công đồng Vatican II.

[5] Xin đọc thêm VC 46- 50.

[6] X. Đức Gioan Phaolô II, bài nói chuyện với các tu sĩ tại Sao Paulo, 3/7/1980, được trích lại trong  trong John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr. 28; Thượng Hội đồng Giám mục, kỳ IX, Đời Sống Thánh Hiến và Sứ Mạng của Đời sống này trong Giáo hội và trong Thế giới, số 3, 6.

[7] Sắc lệnh về truyền giáo, Ad Gentes (AG) nói về các hội ḍng: số 15i (vai tṛ bất khả thay thế), số 18- 19 (phát huy đời tu ở các xứ truyền giáo), số 20 (ḷng nhiệt thành của các tu sĩ), số 27 (các tu hội truyền giáo), số 32- 33 (hợp tác với Giáo hội địa phương trong hoạt động truyền giáo), số 40 (nhiệm vụ truyền giáo của các tu sĩ).

[8] Sắc lệnh về Chức vụ Giám mục, Christus Dominus (CD): số 32-35, nói về việc hoạt động mục vụ của các tu sĩ trong giáo phận. Công đồng đặt ra những qui tắc cho mối liên hệ giữa Giám mục và tu sĩ. Những qui tắc này sẽ được khai triển trong văn kiện Mutuae Relationes, 1978, làm nền tảng cho các điều 678- 683 của BGL 1983.

[9] X. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2, tập 4, tr. 660- 663.

[10] X. Jesus Alvarez Gomez, New Evangelization for the Third Millennium (Quezon City: Claretian Publications, 1997), tr. 78; VC 19.

[11] Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 4, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993), tr. 762- 763

[12] X. Jose Cristo Rey Garcia Paredes, CMF, “Mission: The Key to Understand Consecrated Life Today.” Religious Life Asia 6 (January-March 2004): tr. 59-77; Marcello Azevedo, SJ, Vocation for Mission- The Challenge of Religious Life Today (New York: Paulist Press, 1988), tr. 138.

[13] X. UCAN News, Ucan Commentary - The Role of Religious amid the Asian Crisis, November 16, 1998 at http://www.ucanews.com/html/uca/index.html, accessed on February 9, 2003.