ĐẶC SỦNG- LINH ĐẠO
– SỨ VỤ
JB. Trần Hữu Hạnh, fsf
Đây là 3 yếu tố chính tạo nên một
Hội ḍng. Mỗi hội ḍng giống như một cái
cây: gốc rễ của nó là đặc sủng, thân cây là
linh đạo và hoa trái của nó là hoạt động tông
đồ hay sứ mệnh truyền giáo. Linh đạo và
hoạt động tông đồ của mỗi hội
ḍng được định h́nh, nuôi dưỡng và phát
triển nhờ đặc sủng của đấng sáng
lập. Mỗi hội ḍng cần phải trung thành với
đặc tính của ḿnh, nghĩa là trung thành với linh
đạo và sứ vụ riêng biệt mà đấng sáng lập
đă trưyền lại cho họ.
Đặc sủng là yếu tố
chính tạo nên sự khác biệt giữa hội ḍng này với
hội ḍng khác. Đặc sủng chính là sức sống,
là nguồn mạch của mọi hoạt động tông
đồ của mỗi hội ḍng. Một hội ḍng mà
không sống theo đặc sủng của đấng sáng
lập sẽ đánh mất đi căn tính của nó, và
như một hệ qủa, mất đi phương
hướng của nó. Ch́a khóa cho sự phát triển của
mỗi hội ḍng là trung thành với đặc sủng của
đấng sáng lập. Bởi đó, Đức Giáo
hoàng Phaolô VI đă kêu gọi các cộng đoàn tu tŕ phải
trung thành với tinh thần, với những ư hướng
Phúc âm và gương thánh thiện của đấng sáng lập.
Chính ở đây mà các hội ḍng t́m thấy nguồn gốc
của họ (x. ET 11-12).
Chúng ta cần phân biệt Đặc sủng
nói chung, Đặc sủng của đời sống thánh
hiến và Đặc sủng của Đấng sáng lập.
1. Đặc Sủng Nói Chung
Một trong những phục hồi vĩ
đại nhất của công đồng Vatican II đối
với vai tṛ của Chúa Thánh Thần trong đời sống
Giáo hội là vai tṛ của đặc sủng. Thời
đại của Giáo hội ngày nay, trong cuộc hành tŕnh về
cánh chung và sự quang lâm của Chúa Kitô, là thời đại
của Chúa Thánh Thần. Chỉ với công đồng
Vatican II, sự t́m hiểu ư nghĩa đầy đủ
và rơ ràng của đặc sủng mới bắt đầu
được quan tâm đặc biệt.
Trong Tân ước, từ đặc sủng
(charism)[1]
được t́m thấy 17 lần: 16 lần trong các
thư của thánh Phaolô (Rm 1, 11; 5, 15.16; 6, 23; 11, 29; 12, 6; 1Cor
1,7; 7,7; 12, 4.9.28.30.31; 2Cor 1, 11; 1Tm 4, 14; 2Tm 1, 6) và 1 lần
trong 1Pr 4, 10.
Đặc sủng được coi là
ân huệ mà Thần Khí ban cho mỗi người v́ lợi
ích chung. Thật vậy, đặc sủng được
ban là để xây dựng Giáo hội, Thân Thể Chúa Kitô
(x. Ep 4, 12. 26; Gl 4, 7, 11-12; 1Cr 14, 12; 12, 7). Các đặc sủng
được sắp đặt để xây dựng Hội
thánh, sinh ích cho con người và thỏa măn những nhu cầu
của trần thế (x. CL 24). Chính Thần khí làm cho Giáo hội
sinh động. Giáo hội như một toàn khối liên kết
với nhau và sống động nhờ các đặc sủng.
(x. MR 1-3)
2. Đặc Sủng của
Đời Sống Thánh Hiến
Trước công đồng Vatican II, ư
tưởng về đặc sủng của đời sống
thánh hiến chưa được biết đến. Từ
công đồng, theo Lumen Gentium, đời sống
thánh hiến được xem như không thuộc về
cơ cấu phẩm trật của Hội thánh, nhưng
thuộc về cơ cấu đặc sủng hay cơ cấu
Thần khí[2].
Đời sống thánh hiến là một ân huệ của
Chúa Thánh Thần, Ngài khơi dậy nơi các tín hữu ḷng
khao khát nên trọn lành, bước theo Chúa Kitô qua việc sống
các lời khuyên Phúc âm cách triệt để (x. LG 43; PC 1).
Đặc sủng được ban cho
các Kitô hữu qua cơ chế phẩm trật và nhiệm
tích, nhưng cũng được ban không qua các cơ chế
này, mà qua các ḍng tu, nhằm phục vụ lợi ích của
Hội thánh. Nếu đặc sủng là một ơn gọi
đối với một bậc sống nào đó của
Kitô hữu như là độc thân hoặc hôn nhân (x.1Cor 7,
7-9), hoặc được đồng hóa với một
thừa tác vụ trong Giáo hội (x. 1Cor 12; Rm 12; Ep 4), th́
công đồng cũng gọi các lời khuyên Phúc âm là những
đặc sủng (x. LG 12, 13, 42, 43; PC 12). Công đồng cũng
nói lên tính cách đa dạng của các hội ḍng tùy theo
đặc tính riêng của chúng (x. PC 1, 7, 8, 9, 10, 11). “Mỗi
ḍng, qua sự cộng tác của đấng sáng lập,
đă đem lại một ơn gọi đặc biệt,
như một ân huệ do Chúa Thánh Thần khơi dậy
(x. LG 45; PC 1, 2) và được hàng giáo phẩm chính thức
công nhận.” (MR 11)
Nói chung, đời sống thánh hiến
chính nó là một đặc sủng. Đó là một ân huệ
đặc biệt được ban cho toàn thể Giáo hội
(x. LG 43; ET 2, 11; MR 2, 11). Đời thánh hiến, bám rễ
sâu trong gương mẫu và lời dạy của Chúa Kitô,
là một ân huệ của Chúa Cha ban cho Giáo hội qua Chúa
Thánh Thần. Thật vậy, các lời khuyên Phúc âm biểu
lộ t́nh yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha, trong sự
hiệp nhất với Chúa Thánh Thần (x. VC 1, 20, 21).
3. Đặc Sủng[3] của Đấng Sáng Lập
và Linh Đạo
a. Giáo Huấn của Giáo hội
Để đổi mới đời
sống thánh hiến, Vatican II đă kêu gọi mỗi hội
ḍng phải khám phá lại tinh thần và mục đích của
đấng sáng lập (x. PC 2b). Công đồng không sử
dụng cụm từ “đặc sủng của đấng
sáng lập.” Đức Phaolô VI là vị Giáo hoàng đầu
tiên nói đến đề tài này. Ngài đă qui chiếu về
công đồng và sử dựng từ đặc sủng
để nói về những ân sủng khác nhau của các
đấng sáng lập: “Chỉ như thế, các con mới
có thề nâng tâm hồn lên để đón nhận chân lư
và t́nh yêu của Thiên Chúa theo các đặc sủng của
các đấng sáng lập của chúng con, mà Thiên Chúa
đă ban cho Giáo hội. Công đồng đă dạy rằng
các tu sĩ phải duy tŕ một cách trung thành tinh thần của
các đấng sáng lập, lối sống Tin mừng và
gương thánh thiện của họ. Các tu sĩ phải
nhận ra nơi đây một trong những nền tảng
cho sự canh tân hiện nay và một trong những tiêu chuẩn
chắc chắn nhất cho sự quyết định về
loại hoạt động của mỗi hội
ḍng.” (ET 11) Ngài chỉ ra rằng mỗi cá nhân của mỗi
hội ḍng được định h́nh bởi những
tính cách đặc biệt về tinh thần và đặc
sủng của đấng sáng lập. Mỗi hội ḍng
phải qui chiếu về với những nguồn gốc
này trước khi nó có thể đem lại một sự
canh tân đích thực và trung thành.[4]
Đức Gioan Phaolô II đă nối tiếp
công đồng và giáo huấn của Đức Phaolô VI.
Ngài nhiều lần nhắc nhở các tu sĩ phải trung
thành với đặc sủng của đấng sáng lập.
Ngài nhấn mạnh đến nhu cầu kính trọng những
đặc sủng khác nhau của các hội ḍng. Trên tất
cả, ngài tái khẳng định sự hiện diện của
những đặc sủng khác nhau này tại chính nguồn
gốc của mỗi hội ḍng: “Mỗi đấng sáng lập
của các con, dưới sự linh hứng của Thần
khí mà Chúa Kitô đă hứa ban cho Giáo hội, đă nhận
được một ân huệ đặc biệt.
Đấng sáng lập là một dụng cụ đặc
biệt của Chúa Kitô cho công cuộc cứu độ của
Ngài, nó sống măi trong lịch sử nhân loại. Giáo hội
đă dần dần nhận ra những đặc sủng
này, xem xét chúng và khi Giáo hội thấy chúng xác thực,
đă dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và ǵn giữ chúng trong
đời sống cộng đoàn để cho chúng luôn
đơm bông kết trái.”[5] Trong Tông huấn về Đời
sống Thánh hiến, ngài căn dặn các hội ḍng phải
trung thành với những đặc sủng này và sau đó
trung thành với gia sản thiêng liêng được tạo
lập nên trong mỗi hội ḍng. Họ phải duy tŕ chúng
trong những cộng đoàn mà chúng đă lập nên. Đặc
sủng phải xây dựng nguyên tắc sống của mỗi
hội ḍng tại bất cứ thời điểm nào (x.
VC 36, 37). “Đặc sủng nào cũng nổi bật niềm
khát vọng sâu xa của tâm hồn muốn được
trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa
Kitô, để làm chứng về một khía cạnh nào
đó thuộc mầu nhiệm của Ngài. Khía cạnh
đó được cụ thể hóa và phát triển trong
truyền thống trung thực nhất của hội ḍng,
phù hợp với quy luật và hiến pháp.” (VC 36) Cũng
trong tông huấn này, Đức Giáo hoàng đă nhiều lần
sử dụng từ đặc sủng để nói về
những chiều kích khác nhau của đời sống
thánh hiến, đặc biệt là để nói lên tính
đặc thù của mỗi hội ḍng (x. VC 1, 5, 19, 25, 32,
36, 37, 48, 63, 65, 68, 72, 71, 73, 74, 80, 93). Lời dạy của
ngài đă in dấu ấn trong nhiều văn kiện khác của
Giáo hội.
Văn kiện của Bộ Tu sĩ và Bộ
Giám mục đă nói về đặc sủng của đấng
sáng lập như sau:
“Đặc sủng của các Đấng
sáng lập biểu lộ như là một kinh nghiệm[6] về
Thần Khí, được truyền lại cho các môn
đệ của họ để sống, giữ ǵn,
đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài
ḥa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn
lên.” (MR 11) V́ lư do này mà đặc tính của mỗi hội
ḍng khác nhau được Giáo hội bảo tồn và nuôi
dưỡng (x. LG 44; CD 33, 35).
Qua đoạn văn trên, từ đặc
sủng đă được sử dụng để giải
thích về căn tính của những hội ḍng khác nhau trong
Giáo hội. Nó cũng bao gồm một kiểu linh
đạo và hoạt động tông đồ
mà nhờ đó, tạo nên truyền thống
đặc biệt của mỗi hội ḍng.[7] Mọi hội ḍng được
sinh ra từ Thần khí. Đây chính là nguồn gốc của
mỗi hội ḍng.[8]
T́m lại đặc sủng chính là t́m lại căn tính của
ḿnh.[9]
“Do đó, như một cây đâm chồi
nẩy lộc um tùm và kỳ diệu từ hạt giống
Chúa gieo văi trong cánh đồng của Người, th́ cũng
có nhiều lối sống khác nhau: đơn độc hay
cộng đồng, và ḍng tu khác nhau mà phần sản nghiệp
dồi dào đem lại lợi ích cho các chi thể của
ḍng cũng như toàn Thân Thể Chúa Kitô.” (LG 43)
b. Tính Cách của Đặc Sủng
- Đặc Sủng và sự Thành Lập
một Hội Ḍng
Đặc sủng (đoàn sủng)[10] của
đấng sáng lập khơi nguồn và đặt nền
móng cho việc thành lập một hội ḍng. Qua vị này,
những yếu tố căn bản về đặc sủng
của hội ḍng được rút ra. Đặc sủng
của đấng sáng lập biểu lộ chính nó như
là một đặc sủng chung, v́ nó được chia sẻ
với người khác ngay từ lúc khởi đầu của
cộng đoàn. Nó được làm phong phú và làm sáng tỏ
bởi kinh nghiệm ban đầu của cộng đoàn
đó.[11]
Đặc sủng thành lập xác định bản chất,
tinh thần, mục đích và đặc tính, là những yếu
tố cấu thành di sản thiêng liêng của mỗi hội
ḍng và làm nền tảng cho ư nghĩa của căn tính, một
yếu tố then chốt cho sự trung thành của mỗi
tu sĩ (x. EE 11).
Đặc sủng là một thực tế
sống động, nhưng không thể định nghĩa
được[12],
mà chỉ có thể cảm nhận qua mối liên hệ với
ư định của đấng sáng lập, mục
đích, sứ mệnh (mission), linh đạo, truyền thống
của hội ḍng. Đặc sủng chỉ có thể
được mô tả bằng cách tập hợp những
yếu tố mà dần dần xuất hiện nơi những
người đầu tiên sống nó, cũng như nơi
những thế hệ sau. Cộng đoàn là một sự
nối dài đấng sáng lập theo thời gian. Đặc
sủng có thể tiếp tục tồn tại trong lịch
sử qua một tiến tŕnh năng động mà trong
đó Chúa Thánh Thần kêu gọi và kết hợp những
thành viên mới vào trong hội ḍng.[13]
- Tính Di Truyền của Đặc Sủng
Đặc sủng của đấng
sáng lập được truyền lại cho các môn đệ
của họ. Cộng đoàn, những môn đệ của
đấng sáng lập, biểu lộ, làm sáng tỏ và phát
triển quyền năng của Thần khí mà đặc sủng,
ân huệ của Thiên Chúa, chứa đựng trong chính nó
ngay từ khi hội ḍng bắt đầu. Không phải
đấng sáng lập, cũng không phải những môn
đệ đầu tiên của ngài, có thể nhận thức
đầy đủ những ǵ chứa đựng trong
đặc sủng. Những người đến sau phải
t́m kiếm để hiểu nó tốt hơn và sống
đặc sủng đó trong sự nhận thức về
trách nhiệm truyền lại cho những người kế
tiếp một cách trung thành. Đây thực sự là sự
đáp trả của họ đối với “Lời Chúa”
đang cật vấn họ trong hoàn cảnh hiện tại.
Do đó, thật cần thiết để nối kết
đời sống và hoạt động của tất cả
những người cùng chia sẻ cuộc phiêu lưu mạo
hiểm theo ơn gọi của Thần khí, bắt đầu
từ đấng sáng lập.[14] Đặc sủng của
hội ḍng ôm trọn toàn bộ lịch sử của chính
nó và hiện diện trong tất cả các thành viên của
nó. Điều này xảy ra trong nhiều cách khác nhau,
tùy theo tài năng và những ân huệ tinh thần của mỗi
thành viên, và trong sự đo lường tương ứng
với ơn gọi mà họ nhận được. Không
một thành viên nào có thể nhận được đoàn
sủng một cách trọn vẹn, nó phải được
khám phá lại không ngừng, nó phải được t́m kiếm
trong cộng đoàn, trong sự hiệp thông với tất
cả những thành viên cùng nhận được một
đoàn sủng đó.[15]
Sự phát triển của cộng
đoàn làm phong phú thêm kinh nghiệm của chính đấng
sáng lập. Họ nên nhớ rằng đời sống của
hội ḍng của họ biểu lộ, trong những t́nh
huống lịch sử khác nhau, kế hoạch ban đầu
của Thiên Chúa, sứ mệnh và ơn gọi của họ
mà đấng sáng lập đă thực hiện trong đời
sống và kinh nghiệm của ngài.[16] Đây là nhiệm vụ của
mọi thành viên. Nếu họ không ư thức được
như vậy, họ không chỉ có nguy cơ đánh mất
đi ư nghĩa của ơn gọi chính họ, mà c̣n làm mờ
đi căn tính đích thực của hội ḍng của họ.[17]
Tinh thần của đấng sáng lập
tiếp tục thấm sâu và cho sức sống tới cộng
đoàn qua một truyền thống sống động. Mỗi
đặc sủng luôn chứa đựng một số
đặc tính nào đó. Một đặc sủng không bao
giờ bị nhốt lại trong một công thức thật
hay, nhưng nó có thể được đào sâu và làm phong
phú qua sự mô tả rơ hơn để dần dần có
thể hiểu được nó hơn. Nói cách khác, những
phần tử của hội ḍng là những người
chú giải đặc sủng của đấng sáng lập.
Trong suốt giai đoạn phát triển, cộng đoàn cần
phản ánh không ngừng trên kinh nghiệm nguồn gốc của
chính nó. Họ cần khôi phục lại kinh nghiệm
đó, kinh nghiệm mà đă được sống bởi
đấng sáng lập hoặc được khẳng
định lại và được phát triển bởi những
kinh nghiệm thích hợp từ kinh nghiệm đó. Trong
cách này, cộng đoàn khám phá ra làm thế nào mầu nhiệm
ơn gọi của nó được biểu lộ.[18]
Các đấng sáng lập chính là những
điểm hội tụ và hợp nhất của tất cả
các môn đệ của họ. Các đấng sáng lập là
những người hướng dẫn các môn đệ của
họ tới sự hiểu biết về mầu nhiệm
Chúa Kitô và sống theo Tin mừng của Ngài. Kinh nghiệm về
Thiên Chúa của đấng sáng lập thu hút các môn đệ
của họ. Họ và các môn đệ của họ
được liên kết và hợp nhất với nhau
trong cùng một kinh nghiệm thiêng liêng. Sự liên kết và
hợp nhất này giúp củng cố và nuôi dưỡng sự
phát triển của một Giáo hội đang được
đổi mới không ngừng bởi Thần Khí.[19]
Các văn kiện của Giáo hội cũng
đều khẳng định đặc sủng của
đấng sáng lập là yếu tố tạo nên sự hiệp
nhất trong hội ḍng: “Nền tảng của sự hiệp
nhất là sự hiệp thông trong Chúa Kitô được củng
cố bởi đoàn sủng duy nhất của đấng
sáng lập (x. EE 18; MR 11- 12). V́ thế, việc quy chiếu
về đấng sáng lập ḍng, và về đoàn sủng
mà vị ấy đă sống và thông truyền, giữ ǵn và
phát triển qua suốt cuộc sống của hội ḍng
(x. MR 11), được coi là yếu tố thiết yếu
cho sự hợp nhất của hội ḍng.” (FLC 45; x. FLC
2c).
- Trung Thành một cách Sáng Tạo
Đặc sủng của hội ḍng diễn
tả căn tính tinh thần của các môn đệ dọc
theo những đường nét được dự định
bởi đấng sáng lập. Căn tính này phải
được xem xét trong ánh sáng của những môi trường
thay đổi. Qua đó, nó trải qua một sự đổi
mới năng động, nhưng không đánh mất ḷng
trung thành của nó đối với những điểm
xuất phát ban đầu. Chỉ có thể kéo dài sự hiện
diện của nó bằng sự trung thành sáng tạo, một
sự trung thành được bám chặt vào nguồn gốc
của nó, nhưng đồng thời mở ra đối
với dấu chỉ của thời đại. Trung thành
mà không thích nghi vào bối cảnh mới, sẽ dẫn
đến chỗ suy tàn; đổi mới mà không bám vào gốc
của nó, sẽ dẫn đến chỗ lập nên một
hội ḍng mới. Đó là lư do tại sao sự đổi
mới đời sống tu tŕ không bao giờ được
làm một lần cho tất cả.[20] Chắc chắn rằng
chúng ta làm việc này không phải để sửa đổi
đặc sủng, nhưng là để xem làm thế nào mà
chúng ta đáp lại những ư hướng sâu xa của
đấng sáng lập trong bối cảnh hôm nay. Đức
Piô XII đă từng nói với các hội ḍng rằng ngày nay
họ phải làm những ǵ mà đấng sáng lập, nếu
c̣n sống, sẽ làm. Chắc chắn trong một số
trường hợp họ sẽ lập lại những
ǵ mà đấng sáng lập của họ đă làm; nhưng
cũng chắc rằng một số sáng kiến mà các
đấng sáng lập đă chọn trong thời của họ,
họ sẽ không chọn chúng đối với bối cảnh
hiện nay.[21]
Đặc sủng giống như bản
thể của một con người. Con người bao gồm
bản thể và tùy thể. Tùy thể là h́nh thức bên
ngoài như màu da, màu tóc, mập, ốm, v.v., nên có thể
thay đổi; c̣n bản thể th́ luôn giữ lại. Dù
tôi khác tôi cách đây 10 năm, 15 năm, 20 năm..., nhưng
tôi vẫn là tôi, tôi không thể là người khác. Để
đổi mới, chúng ta cần nhận thức về
căn tính của chính chúng ta. Bên cạnh đó, sự thay
đổi và sự sáng tạo là những khía cạnh không
thể tránh khỏi trong đời sống của mỗi
hội ḍng.
Trong Kinh thánh, Thần khí được
mạc khải như là Đấng ban sự sống. Mỗi
đặc sủng, v́ đó là ân huệ của Đấng
ban sự sống, luôn luôn là một thực tế năng
động, nguồn sống và hoạt động. Đặc
sủng được ban cho các đấng sáng lập và
sau họ là hội ḍng của họ, là một ơn gọi
cộng đoàn trong Giáo hội, nên phải bảo tồn
nguyên vẹn qua không gian và thời gian. Tuy nhiên, v́ nguồn gốc
Thần khí của nó và v́ nó được ban cho toàn thể
Giáo hội, nó sinh nhiều hoa trái khác nhau, trong những thời
gian và nơi chốn khác nhau. Các đặc sủng sản
sinh những h́nh thức sống khác nhau mà chúng nhập
thể Tin Mừng vào trong những môi trường sống.
Chúng thúc đẩy các hội ḍng đảm nhận những
sứ mệnh khác nhau. Do vậy, các hội ḍng cần mở
ra và ngoan ngoăn vâng theo sự hướng dẫn của Thần
khí. Kết hợp mật thiết với Ngài chính là nguồn
đổi mới và thích nghi thật sự của tất
cả các cộng đoàn tu tŕ trong bối cảnh hiện
nay.
Trong mỗi Tổng hội,
hội ḍng cần nh́n lại quá khứ của ḿnh, đọc
và giải thích nó để để t́m ra hướng
đi cho tương lai của ḿnh. Điều này có nghĩa
là họ phải luôn duy tŕ kư ức sống động về
đấng sáng lập của họ và luôn tiến tới
một sự hiểu biết rơ hơn về đặc sủng
nguồn gốc của họ, về sứ mệnh của
họ trong Giáo hội và trong thế giới.[22] Qua đó, họ có thể
làm cho đấng sáng lập trở thành người tiên
phong của Thần khí trong thời của họ. Đó chính
là chiều kích ngôn sứ của đấng sáng lập,
như George đă khẳng định: “Các đấng sáng
lập ở trước chúng ta, đi trước chúng
ta.”[23]
Đó là lư do tại sao công đồng Vatican II kêu gọi
công việc canh tân nên được thực hiện trong sự
hợp tác của cả cộng đoàn (PC 4). Cộng
đoàn phải luôn t́m kiếm cách tốt hơn để
thích hợp với nhu cầu “ngôn sứ” của đấng
sáng lập của họ. Trong cách này, cộng đoàn t́m
cách để nhận ra và đáp ứng những nhu cầu
của thời đại trong mọi t́nh huống.[24]
Tính cách đặc sủng của mỗi
hội ḍng đ̣i hỏi đấng sáng lập và các môn
đệ phải thường xuyên kiểm chứng xem họ
có trung thành với Chúa, với một khát vọng sâu xa muốn
trở nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa
Kitô để làm chứng cho một khía cạnh nào đó
trong mầu nhiệm của Người, có ngoan ngoăn vâng theo
sự hướng dẫn của Thần khí, có sáng suốt
quan tâm đến bối cảnh họ đang sống và
nhận thức về những dấu chỉ của thời
đại, có đang phục vụ Giáo hội và sẵn
sàng phục tùng hàng giáo phẩm, có dũng cảm trong sáng kiến,
có kiên tŕ trong hiến thân và có khiêm tốn chấp nhận
những nghịch cảnh không (x. MR 12, 51).
Sai lầm có thể xảy ra là khi chúng
ta “hiện đại hóa” đặc sủng, thay mới
hoàn toàn để cho nó hấp dẫn hơn, hoặc sử
dụng đặc sủng của đấng sáng lập
để phục vụ cho chính chúng ta, để biện
minh cho những quyết định và hành động của
chúng ta. Điều này có thể là tốt, nhưng nó không phải
là mục đích của đấng sáng lập. Nó có thể
phá đi những ǵ đă được dày công xây dựng
và làm mất đi đặc tính và căn tính của hội
ḍng.[25]
Việc dung ḥa giữa trung thành với sự thích nghi và
canh tân không dễ dàng. Những năm sau công đồng
Vatican II đă cho thấy những khó khăn đó: nhiều
ḍng đan tu muốn lấy lại ơn gọi nguyên thủy
không có chức linh mục của ḿnh; trái lại, một số
ḍng giáo dân (nam) lại muốn chuyển hướng sang
ḍng giáo sĩ. Bên Âu Mỹ, nhiều ḍng đă bỏ các
cơ sở giáo dục và y tế, v́ không c̣n thích hợp,
để t́m những cách thức mới phục vụ
người nghèo.[26]
Mỗi hội ḍng cũng có thể có thêm một số hoạt
động khác với sứ vụ chuyên biệt của
ḿnh, nhưng không nên để cho những hoạt động
này trở thành những hoạt động chính. Nên để
cho một số phần tử nào đó phụ trách mà
thôi.
c. Linh Đạo[27] và Sứ Vụ
Như vậy, đặc sủng mà
đấng sáng lập nhận được có 2 mục
đích khẩn cấp: Một mặt, nhu cầu trở về
với Tin mừng (một cách thức bước theo Chúa
Kitô) và phương cách thực hiện sự trở về
nguồn gốc này (linh đạo); mặt khác, đáp ứng
lại t́nh huống lịch sử của Giáo hội và xă hội,
đặc biệt là trong mối quan hệ với nhu cầu
cấp bách của Giáo hội (sứ vụ):[28]
1) Trở về với Tin mừng
Mọi cộng đoàn Kitô hữu
được sinh ra và lớn lên bởi Lời Chúa (x. 1Tx
1, 5-10). Sách Công vụ tông đồ đă mô tả cuộc
“hành tŕnh” của Lời Chúa: tới bất cứ đâu, Lời
Chúa đều sinh ra Giáo hội. Giáo hội là một sự
triệu tập: một ơn gọi chung, được
liên kết v́ danh Chúa Giêsu, trong Lời của Ngài, sự hiện
diện của Ngài (x. Mt 18, 20) cho tới khi trở nên một
trong Chúa Kitô.
Nguồn gốc và nền tảng của
đoàn sủng của một hội ḍng là Lời nhập
thể nơi đấng sáng lập. Hành động của
Thần khí mạc khải và sự thật, người dạy
“tất cả sự thật” và gợi lại những Lời
của Chúa Giêsu (x. Ga 14, 24-26; 16, 13), dẫn các đấng
sáng lập vào trong sự hiểu biết sâu xa về một
“Lời” đặc biệt và qua đó mở ra sự hiểu
biết Kinh thánh cho họ (x. Lc 24, 25).[29] Các đấng sáng lập
đă nhận được Lời Chúa trong t́nh huống lịch
sử đặc biệt của họ và họ được
kêu gọi để sống lư tưởng của nước
trời noi gương Chúa Kitô theo một cách mới. Lịch
sử Giáo hội cho chúng ta thấy rằng những h́nh thức
mới của đời sống thánh hiến được
sinh ra là kết quả của sự trở về với
Tin mừng, trong những giai đoạn khi mà Giáo hội
đang trải qua những suy đồi về đạo
đức và luân lư, sự cám dỗ về quyền lực,
v.v.
Thực ra, vào những thế kỷ
đầu, không có sự phân biệt về nếp sống
giữa người Kitô hữu và tu sĩ. Từ giữa
thế kỷ III, nhất là từ thế kỷ IV, đă
có những người, khi thấy đời sống
đạo sa sút do ảnh hưởng của quyền lực
và tục hóa, t́m vào sa mạc để sống đời ẩn
tu. Họ muốn trở về với nếp sống của
cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi.[30] Thánh Basil và thánh Francis đều
nhấn mạnh đến đời sống trung thành theo
Tin mừng, nghĩa là trở về với Tin mừng.
Thánh Pachomius, thánh Augustine và sau đó, toàn bộ truyền thống
Benedictine đă nỗ lực sống theo tinh thần của
cộng đoàn Giêrusalem nguyên thủy. Các ḍng hành khất
(Đa minh, Phanxicô, Augustinô, Carmelo, v.v.) ra đời từ
thế kỷ XIII đáp ứng lại nhiều phong trào cải
cách, kêu gọi Giáo hội trở về với nếp sống
đơn sơ, giản dị của thời nguyên thủy.
Những ḍng khành khất này đề ra lối sống
Phúc âm tinh ṛng trong sự hiệp thông với Giáo hội. Tất
cả họ, bằng cách này hay cách khác, đều muốn
trở về với nguồn gốc của đời sống
Kitô hữu.[31]
Nhiều người lúc đầu không có ư định
thành lập một hội ḍng, nhưng sự nhiệt tâm sống
theo Tin mừng của họ đă thức tỉnh những
người đương đời và lôi kéo nhiều
người theo họ.[32]
Mục đích của sự “linh hứng
ban đầu” của các hội ḍng là để thăng tiến
một lối sống Phúc âm trong Giáo hội và những cách
thức để thực hiện nó (linh đạo). Qui luật
tối thượng của họ là việc theo Chúa Kitô. Cuộc
sống của họ phải qui chiếu theo khuôn mẫu
này, nghĩa là bắt chước gương sống của
Ngài (vâng phục, khó nghèo, thanh khiết), thực hành những
ǵ Ngài giảng dạy, cách riêng trong bài giảng trên núi. Phúc
âm là luật sống cho mọi Kitô hữu. Nhưng mỗi
hội ḍng đă thể hiện một cách rơ ràng và
tươi mới đối với những giá trị của
Tin Mừng.
2) Đáp ứng những nhu cầu cấp
bách của Giáo hội và xă hội:
Từ thời Trung cổ, ư thức về
sứ vụ ngày càng trở nên mănh liệt. Đời tu
không chỉ lo sống Phúc âm, mà c̣n hiến thân đi rao giảng
Phúc âm như Chúa đă truyền dạy (x. Lc 10, 1- 15). Nhiều
nhóm được thành lập để đáp ứng lại
những t́nh huống lịch sử nào đó, thực hiện
một sứ mệnh nào đó bên trong hoặc bên ngoài cộng
đoàn: qua việc hăm ḿnh và khẩn cầu cho trần thế
trong đời sống chiêm niệm, qua việc loan báo Tin Mừng
trong những h́nh thức phục vụ khác nhau.
Vào thế kỷ XI- XII, ta thấy xuất
hiện 3 loại ḍng: những ḍng bác ái chuyên săn sóc những
người di cư, người bệnh, người hành
hương; những ḍng được lập ra để
cứu những Kitô hữu bị bắt làm nô lệ; những
ḍng hiệp sĩ, lo giải phóng và bảo vệ những
nơi thánh ở Palestine. Một số ḍng thuộc 3 loại
này gồm: ḍng bệnh viện thánh Antôn, ḍng bệnh viện
Chúa Thánh Thần, ḍng Chúa Ba Ngôi, ḍng Đức Bà chuộc kẻ
làm tôi, ḍng Đền thờ, ḍng hiệp sĩ Malta.[33]
Từ thế kỷ XIII, cùng với sự
xuất hiện của các ḍng hành khất, nhiều hội
ḍng đă được thành lập, góp phần làm phong phú
thêm đời sống và hoạt động của Giáo hội.
Trong thời cận đại, nhiều
ḍng ra đời để đáp ứng những nhu cầu
khác nhau của Giáo hội hay xă hội, như giáo dục,
chăm sóc bệnh nhân, người già, trẻ mồ côi,
người tàn tật, v.v.[34]
Trong những trường hợp này, với
ơn của Chúa Thánh Thần, các đấng sáng lập
đă khám phá ra một nhu cầu đặc biệt trong
Giáo hội và quyết định để đáp ứng
nhu cầu đó. Luật sống, cách tổ chức, việc
đào tạo những thành viên mới được phát
triển dần dần chung quanh trục sứ vụ nguyên
thủy này. Lối sống độc thân, khó nghèo và đời
sống cộng đoàn ngay từ đầu đă
được coi như là những yếu tố bản
chất của sự hiến thân của nhóm cho Thiên Chúa
trong sứ vụ đó.[35]
Sứ mệnh của hội ḍng không chỉ
là một phần của đặc sủng, nhưng c̣n là
yếu tố đặc biệt mà đặc sủng này
phát triển tới mức hoàn hảo của nó. Đời
sống thánh hiến không thể hiểu được nếu
không có sự qui chiếu không ngừng và rơ ràng với sứ
mệnh thích hợp của nó.[36] Ngày nay, các hội ḍng càng ư
thức hơn về sứ mệnh của họ trong việc
phục vụ những nhu cầu tinh thần hay vật chất
của nhân loại theo đặc sủng của ḿnh.
Văn kiện “Tu sĩ với sự thăng tiến con
người” (1980) của Bộ Tu sĩ đă nói về
sự phục vụ người nghèo, dấn thân bênh vực
họ và tranh đấu cho công bằng xă hội của họ.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă đề cao sự
đóng góp của họ vào công việc truyền giáo (x. RM
65, 69- 70).
Tóm lại, Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ
để họ ở với Ngài và để được
Ngài sai họ đi (Mc 3, 14). Mỗi Đấng sáng lập
được Thiên Chúa kêu gọi để diễn tả
mầu nhiệm Chúa Kitô trong một cách đặc biệt.
Đấng sáng lập nhận được một cảm
nghiệm đặc biệt về Thần khí, t́m ra một
cách mới để sống những lời khuyên Phúc âm,
nhận thức một hướng đi mới trong
đường nên thánh (linh đạo) và đáp ứng lại
những nhu cầu của Giáo hội và xă hội (sứ vụ).
Kinh nghiệm về Thần khí này bắt nguồn từ sự
linh hứng siêu nhiên, dẫn các đấng sáng lập vào
trong sự hiểu biết về mầu nhiệm Chúa Kitô
và Tin mừng của Ngài. Thật vậy, các đấng
sáng lập là những con người của Thần khí. Họ
biết nh́n vào thực tế với cái nh́n mới và qua
đó nhận thức được nhu cầu khẩn cấp
của Giáo hội và thế giới. Họ nhận thức
được điều kiện hiện tại của
Giáo hội và thế giới và được thôi thúc để
làm cho Chúa Kitô có một vị trí mới trong bối cảnh
mới. Họ đă đọc được dấu chỉ
của thời đại và đáp ứng lại những
nhu cầu cấp bách của Giáo hội và xă hội. Bởi
đó, đặc sủng luôn luôn gắn liền và định
hướng cho sứ mệnh truyền giáo.[37] Thiên Chúa ban cho họ một
kinh nghiệm sâu xa về chính Ngài để mà những
người khác có thể hưởng nhờ.[38] Các hội
ḍng được thành lập không chỉ v́ mục
đích đáp ứng những nhu cầu của Giáo hội
và xă hội, nhưng một lối sống Tin mừng cụ
thể đă phát sinh ra một cách sống mới của
đời sống Kitô hữu. T́nh yêu Thiên Chúa phát sinh và thúc
đẩy t́nh yêu tha nhân. Thật vậy, không những bắt
chước đời sống của Chúa Kitô, sự tận
hiến c̣n là tham gia vào sứ mạng của Ngài nữa, tức
công cuộc cứu độ thế giới.
II. ĐẶC SỦNG VÀ SỨ MỆNH
Đấng
sáng lập nhận được đặc sủng để
mở ra một hướng đi mới của việc sống
những lời khuyên Phúc âm, một con đường nên
thánh (linh đạo) và đồng thời để
đáp ứng một nhu cầu nào đó của Giáo hội
(sứ mệnh truyền giáo).
Nơi đấng sáng lập, có thể sứ mệnh truyền
giáo đang c̣n nằm trong giai đoạn nảy mầm,
nhưng nó sẽ trở nên rơ ràng hơn đối với
các thế hệ tiếp theo.[1]
Thiên Chúa ban đặc sủng để
thực hiện kế hoạch của Ngài, nên đặc sủng,
kế hoạch của Thiên Chúa và sứ mệnh truyền
giáo luôn đan quyện vào nhau. Thiên Chúa có mục đích của
Ngài và Thần khí của Ngài ban đặc sủng cho ai
đó để thực hiện mục đích đó. Tách
khỏi mục đích này, đặc sủng không c̣n ư nghĩa.
V́ vậy, đoàn sủng của mỗi hội ḍng có thể
được định nghĩa là một ân huệ của
Thần khí được ban cho họ để cho phép họ
thực hiện sứ mệnh đặc biệt của họ.[2]
1.
Thánh hiến để được sai đi
Chúng ta được Chúa Giêsu kêu gọi
là để sống với Ngài và để được
Ngài sai đi (x. Mc 3, 13- 15). Người tu sĩ được
tách ra khỏi thế gian để thuộc trọn về
Chúa, rồi lại được Chúa sai vào thế gian
để làm chứng cho Ngài.
Được hướng dẫn bởi
Thần khí, nguồn gốc của mọi ơn gọi và
đặc sủng, đời sống thánh hiến, chính
nó, trở thành một việc truyền giáo (x. SAFC 9).
Văn kiện “Những Yếu tố Cốt yếu của
Đời tu” cũng khẳng định: “Sự thánh hiến
luôn đi kèm theo một sứ mệnh.” (EE 23; x. EE 24, 25)
Chính Thần khí thúc đẩy họ đảm nhận sứ
mệnh của Chúa Kitô. Thật vậy, ư thức về
truyền giáo thấm sâu vào tận huyết mạch của
mọi h́nh thức tu tŕ. Nó bao trùm mọi khía cạnh của
đời sống họ. Sự thánh hiến luôn ẩn chứa
một sứ mệnh và đặc sủng luôn gắn liền
với sứ mệnh đặc biệt của mỗi hội
ḍng. Bởi đó, việc truyền giáo là điều cốt
yếu đối với mọi hội ḍng, cả những
hội ḍng chuyên lo làm việc tông đồ, lẫn những
hội ḍng sống đời chiêm niệm. Ư thức truyền
giáo luôn là ưu tiên số một của mọi h́nh thức
tu tŕ (x. VC 19, 25, 72).
Giống như Chúa Giêsu, Người
được Cha thánh hiến và sai đến thế gian
(x. Ga 10, 36), những người được Thiên Chúa
kêu gọi, cũng được thánh hiến và sai đến
thế gian để noi gương Người và tiếp
tục sứ mệnh của Người. Họ được
mời gọi để dấn thân hoàn toàn cho việc truyền
giáo (x. VC 3, 18, 22, 25, 27, 72). Các Hội ḍng cố gắng
bước theo Chúa Kitô, họa lại cuộc đời của
Ngài. Mỗi ḍng có mục đích khác nhau, tùy vào việc họa
lại khía cạnh nào của cuộc sống Chúa Giêsu. Cách
chung có 4 loại ḍng:
1) Chúa Giêsu cầu nguyện: đây là mục
tiêu của những hội ḍng thuần túy chiêm niệm.
2) Chúa Giêsu loan báo nước trời: mục
đích của những ḍng phục vụ Lời Chúa (giảng,
dạy).
3) Chúa Giêsu thi ân giáng phúc cho nhân loại:
những ḍng chuyên về công tác bác ái xă hội.
4) Chúa Giêsu sống giữa đời:
các Tu hội đời.[3]
Sứ mệnh truyền giáo của đời
sống thánh hiến được nói đến ở mọi
nơi trong Tông huấn Vita
Consecrata[4],
ngay từ số đầu tiên. Mọi sự đều
được hiểu trong mối quan hệ với sứ
mệnh. Mọi sự đều qui về sứ mệnh.
Mọi sự đều trở thành sứ mệnh. Sứ
mệnh bao trùm toàn bộ đời sống của những
người tận hiến. Đặc biệt, Tông huấn
nối kết hai ư niệm thánh hiến và sứ mệnh:
thánh hiến và sứ mệnh bổ túc cho nhau và đan quyện
vào nhau, tạo nên căn tính của đời sống thánh
hiến. Không thể hiểu cái này nếu không có cái kia.
Người tận hiến không thể yêu Chúa, mà lại
không yêu người thân cận (x. Mt 22, 34-40; 1Ga 4, 20-21).
Thánh hiến bao hàm sứ mệnh, v́ việc trở nên
đồng h́nh đồng dạng với Chúa Kitô cũng
có nghĩa là tham gia vào sứ mệnh của Ngài: thánh hiến
để được sai đi. Sứ mệnh lại dẫn
đến thánh hiến, v́ việc truyền giáo của
đời sống thánh hiến thiết yếu ở chứng
tá của chính sự tận hiến (số 76). Chứng tá
quan trọng nhất của đời sống thánh hiến
là sự thánh thiện (số 32 - 35). Sự thánh hiến,
trước tất cả, là hành động của Chúa
Cha; bước theo Chúa Kitô trên con đường đến
với Chúa Cha và phục vụ kế hoạch cứu độ
của Chúa Cha; Chúa Thánh Thần, nguồn gốc mọi
đặc sủng, cụ thể hóa sứ mệnh của
đời sống thánh hiến trong những t́nh huống lịch
sử của nhân loại.
2.
Sứ vụ của đời sống thánh hiến trong
Giáo hội
Mọi hội ḍng được thành lập
là để phục vụ Giáo hội, làm cho Giáo hội
thêm phong phú qua đặc tính và sứ vụ riêng biệt của
ḿnh (MR 14b).
Lumen Gentium đă đặt đời sống
thánh hiến trong ḷng Hội thánh, để nhắc nhở
họ rằng việc theo Chúa không chỉ là lợi ích của
riêng họ, mà c̣n liên hệ tới cả Hội thánh nữa.
V́ thuộc về bản chất của Hội thánh, nên
đời tu cũng gắn liền với sứ mệnh
của Hội thánh (x. LG 44). Đặc sủng của họ
không chỉ được ban tặng cho riêng họ,
nhưng c̣n là một ân huệ cho đời sống và sứ
mệnh truyền giáo của Giáo hội (x. LG 43, 44; PC 5).
Đời sống thánh hiến họa lại
nếp sống của Chúa Kitô trinh sạch, khó nghèo và vâng phục-
nếp sống biểu lộ t́nh con thảo của Ngài với
Chúa Cha (VC 1a, 16, 18, 21...), nên nó có vị trí ưu việt
trong Hội thánh, là một ân
huệ qúi báu và cần thiết cho hiện tại và
tương lai của dân Thiên Chúa (VC 3, 18, 32, x. 105). Giáo hội cần họ để
họa lại nếp sống của Con Thiên Chúa. Thêm vào
đó, đời sống thánh hiến c̣n biểu lộ mối
t́nh duy nhất của Giáo hội dành cho Đức Lang Quân
(VC 3, 34). Như thế, đời sống thánh hiến gắn
liền với sứ mệnh (VC 1, 25) và cánh chung của
toàn thể Giáo hội (VC 26). Tông huấn khẳng định
một cách rơ ràng tầm quan trọng và sự cần thiết
của đời sống thánh hiến đối với
Giáo hội (VC 3, 6, 18,29, 32, 105). Mặc dù tông huấn cũng
coi tất cả mọi Kitô hữu đều b́nh đẳng
như nhau, cùng có chung một phẩm giá, cùng được
kêu gọi nên thánh (VC 31b, 18b) và mỗi người đều
làm phong phú người khác (VC 33b), nhưng tông huấn cho thấy
vị trí trổi vượt
của đời sống thánh hiến, v́ người
được thánh hiến sống triệt để nếp
sống mà Chúa Giêsu đă sống khi được Chúa Cha
sai đến thế gian.[5] Nhờ
có sự đóng góp của các tu sĩ mà Tin mừng có thể
được biết đến rộng răi như ngày
nay, Giáo hội mới được cắm sâu vào nhiều
nơi trên thế giới và bộ mặt Giáo hội
được tươi thắm tại các Giáo hội c̣n
non trẻ (x. VC 47).
Các văn kiện của Giáo hội,
đặc biệt là các Đức Giáo hoàng đều
đề cập đến sứ mệnh truyền giáo
(mission) của các đấng sáng lập. Đặc sủng
của các đấng sáng lập th́ đa dạng. Giáo hội,
như Đức Gioan Phaolô II đă tŕnh bày, cần sự
đa dạng về đặc sủng và ơn gọi này,
bởi v́ cả sự phong phú về tinh thần và sự
phục vụ nhân loại của Giáo hội đều tùy
thuộc vào nó.[6] Bởi
vậy, Ad Gentes đă tŕnh
bày rằng trong việc xây dựng Giáo hội địa
phương, việc thành lập các hội ḍng cần phải
được ưu tiên ngang hàng với việc đào tạo
hàng giáo sĩ (x. AG 15, 18).
Các Giám mục cần trợ giúp, nâng
đỡ, thăng tiến và bênh vực những người
sống đời tận hiến, hầu giúp họ hội
nhập, sống hiệp thông với Giáo hội, khai mở
những định hướng thiêng liêng và mục vụ
đáp ứng lại những nhu cầu của thời
đại ngày nay, nhưng vẫn trung thành với đoàn sủng của mỗi hội
ḍng. Những người tận hiến, tùy theo khả
năng và sứ vụ của ḿnh, nên quảng đại cộng
tác với Giáo hội địa phương trong tinh thần
hiệp thông trọn vẹn với Giám mục trong các lănh vực
loan báo Tin mừng, huấn giáo và sinh hoạt giáo xứ. Các
tu sĩ phải coi Giám mục không chỉ như chủ
chăn của toàn thể cộng đồng giáo phận,
mà c̣n như vị bảo đảm sự trung tín của
họ với ơn gọi trong việc chu toàn việc phục
vụ v́ lợi ích của Giáo hội địa
phương. Các tu sĩ hăy mau mắn và trung thành hưởng
ứng những lời thỉnh cầu và nguyện vọng
của các Giám mục để nhận lănh những vai tṛ
rộng lớn hơn trong việc cứu độ con
người, tuy vẫn phải duy
tŕ đặc tính của hội ḍng và theo đúng hiến
pháp. Sự quan tâm của các Giám mục đối với
ơn gọi và sứ vụ của các hội ḍng và thái
độ kính trọng của các hội ḍng đối với
thừa tác vụ Giám mục được thể hiện
qua việc mau mắn đón nhận những chỉ thị
cụ thể về mục vụ giáo phận, thể hiện
hai h́nh thái liên kết chặt chẽ của một đức
ái duy nhất trong Giáo hội. Đức ái đ̣i hỏi mỗi
bên phải phục vụ sự hiệp thông hữu cơ
(vừa có tính đoàn sủng, vừa có tính phẩm trật)
của toàn dân Thiên Chúa (x. VC 49; MR 52; CD 35,1).
“Các Giám mục được yêu cầu
đón tiếp và trân trọng
các đoàn sủng của các hội ḍng, dành cho chúng một
chỗ trong kế hoạch mục vụ của giáo phận. Các ngài phải đặc biệt
quan tâm đến các hội ḍng thuộc quyền giáo phận,
được trao phó cho các ngài chăm sóc đặc biệt.
Một giáo phận không có đời sống thánh hiến sẽ
thiếu nhiều ơn huệ thiêng liêng, thiếu những
nơi dành riêng cho việc t́m kiếm Thiên Chúa, thiếu các hoạt động
tông đồ và những phương thức mục vụ
chuyên biệt; hơn nữa, giáo phận đó có thể
suy yếu đi rất nhiều, v́ thiếu vắng tinh thần truyền giáo vốn là
đặc điểm của hầu hết các hội ḍng
(x. AG 18[7]).
V́ thế, cần biết đón nhận, với ḷng tri ân
và quảng đại, hồng ân của đời sống
thánh hiến mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội địa
phương.” (VC 48)
Cần có sự đối thoại
thường xuyên trong t́nh bác ái giữa Giám mục và các bề
trên các hội ḍng trong giáo phận. Qua các cuộc gặp gỡ,
các bề trên có thể thông báo cho các Giám mục biết những
kế hoạch tông đồ ḿnh đang nhắm đến
trong giáo phận của các ngài, để cùng trao đổi
thực hiện. Do đó, Các bề trên thượng cấp
cần phải nắm vững được khả
năng của các tu sĩ dưới quyền ḿnh, và đồng
thời nắm bắt được những nhu cầu
tông đồ của các giáo phận mà ḿnh được mời
gọi cộng tác. Các Giám mục và những cộng sự
viên trực tiếp của ngài không những phải hiểu
rơ đặc tính riêng biệt của mỗi hội ḍng, mà
c̣n phải nắm rơ hiện trạng và các tiêu chuẩn canh
tân của họ. Đối thoại giúp hiểu biết lẫn
nhau để có thể hợp tác với nhau, nhất là
trong lănh vực mục vụ. Nhằm tạo ra sự hiểu
biết giữa đôi bên, nên đưa môn thần học
và linh đạo của đời sống thánh hiến vào
chương tŕnh thần học của các linh mục giáo
phận; cũng vậy, chương tŕnh đào tạo tu sĩ
nên bao gồm việc học hỏi nền thần học
Giáo hội địa phương và linh đạo giáo sĩ
giáo phận (x. VC 50; MR 38, 45, 47).
Đối với các nữ tu, các Giám mục,
các cộng sự viên của ngài và các bề trên ḍng cần
tôn trọng và nh́n nhận đúng đắn vai tṛ riêng biệt
của nữ tu trong các hoạt động tông đồ.
Họ phải được qúi trọng và đánh giá
đúng đắn v́ chứng
tá con người tận hiến của họ, trước
khi v́ những hoạt động hữu ích mà họ đảm
nhận cách quảng đại (x. MR 49- 50).
“Cùng với hàng giáo sĩ của ḿnh, các
Giám mục phải là những người xác tín về
đời sống thánh hiến, che chở những cộng
đoàn tu sĩ, giáo dục ơn gọi và bảo vệ một
cách hữu hiệu đặc tính của mỗi gia
đ́nh hội ḍng trong lănh vực thiêng liêng cũng
như hoạt động tông đồ.” (MR 28; x. MR 46, 52)
Các Giám mục dùng lề luật mà hướng
dẫn một cách khôn ngoan việc thực thi các Lời
khuyên Phúc âm; phê chuẩn những luật ḍng (x. LG 45); thừa
nhận và trao phó cho các hội ḍng sứ mệnh riêng biệt của họ, khuyến
khích họ dấn thân thành lập các cộng đoàn mới
(x. AG 18, 27); giúp cho các hội ḍng phát triển và sinh hoa trái theo tinh thần của
đấng sáng lập bằng cách lấy quyền bính của
ḿnh mà săn sóc, bênh vực và nâng đỡ (x. LG 45). Ở
đây, cần phân biệt việc sáng lập và thiết
lập. Việc sáng lập do ơn Chúa ban cho một tín
hữu nào đó, thôi thúc họ lập nên một hội
ḍng mới để đạt tới mục tiêu nào
đó. Việc thiết lập là một hành vi pháp lư, thuộc
thẩm quyền của Giáo hội.
Bộ Giáo luật cũng tŕnh bày: “Hội
thánh có thẩm quyền giải thích các lời khuyên Phúc âm,
ban hành những qui luật chi phối việc thực hành
chúng, thiết lập những h́nh thức sống bền vững
các lời khuyên đó bằng cách phê chuẩn những hội
ḍng và lo liệu để cho các hội ḍng được
tăng tiến và phát triển
theo tinh thần của các đấng sáng lập và truyền
thống lành mạnh.” (Can 576; x. LG 43)
Các Giám mục và các tu sĩ đều có
bổn phận phải truyền giáo, một bổn phận
gắn liền với chính tác vụ và đặc sủng của họ. Bổn phận
này mỗi ngày một trở nên khẩn trương, cấp
bách hơn trong bối cảnh văn hóa, chính trị, xă hội
ngày càng biến chuyển nhanh chóng. Những biến chuyển
này đ̣i hỏi việc canh tân nhiều sinh hoạt mục
vụ truyền thống, đ̣i hỏi nhiều sáng kiến
mới trong các hoạt động tông đồ (x. MR 19,
41).
Bộ Giáo luật điều 675 xác
định: Hoạt động tông đồ với Giáo hội:
Hoạt động tông đồ được thi hành
nhân danh và với ủy nhiệm của Giáo hội; do
đó, cần được thực hiện trong sự hiệp
thông với Giáo hội. Các hội ḍng có quyền tự trị
trong tổ chức nội bộ để bảo vệ
gia sản của ḿnh và các Bản quyền sở tại có
bổn phận tôn trọng sự tự trị đó (Can
586). Các Hội ḍng chỉ phục tùng Giám mục trong hoạt
động tông đồ bên ngoài.
MR 44 đă liệt kê những lănh vực
trong hoạt động mục vụ mà tu sĩ phải
tùy thuộc Giám mục: “Công đồng tuyên bố rơ ràng rằng
mọi tu sĩ miễn trừ và không miễn trừ đều
phải phục tùng bản quyền địa
phương trong những điều liên quan đến việc
công khai tôn thờ Thiên Chúa (tuy vẫn tôn trọng sự khác
biệt của các nghi lễ), việc coi sóc các linh hồn,
việc giáo huấn cho dân chúng, việc giáo dục tôn giáo và
luân lư, việc tổ chức dạy giáo lư và huấn luyện
phụng vụ cho các tín hữu nhất là cho thiếu nhi,
tư cách của hàng giáo sĩ và cả những việc
liên quan đến hoạt động tông đồ. Các học
đường Công giáo do các tu sĩ đảm nhiệm cũng
phải lệ thuộc bản quyền sở tại về
những ǵ liên hệ đến tổ chức chung và giám
sát. Các tu sĩ cũng buộc phải tuân giữ tất cả
những ǵ mà các công đồng hay HĐGM ban bố cách hợp
pháp, buộc mọi người phải giữ (x. CD 35,4;
35,5; ES I,39; MR 53)”.
Những qui tắc cho mối
tương quan giữa Giám mục và tu sĩ (MR) đă
được Bộ Giáo luật hiện hành lấy làm nền
tảng cho các điều 678- 683[8].
Điều 678 §1 xác định 3 lănh vực mà các hội
ḍng (cả các ḍng miễn trừ) phải tuân theo đường
lối của Giám mục giáo phận: coi sóc các linh hồn
(công việc của các giáo sĩ), cử hành phụng tự
công khai (nếu cử hành chỉ riêng cho cộng đoàn tu
viện, th́ có thể theo nghi thức riêng của ḍng, kể
cả sử dụng các ngôn ngữ cổ điển
như Latinh, Hy lạp) và các hoạt động tông đồ
khác (ngoài 2 lănh vực trên đây, như hoạt động
bác ái). Giáo luật đă qui định về phụng vụ
(Can 838 §4), về các ngày lễ buộc (Can 1246 §2), về bổng lễ và thù lao khi cử
hành bí tích và á bí tích (Can 952 §3),
về việc quyên tiền (Can 1265, 1266), năng quyền giải
tội (Can 969 §1), năng quyền để dạy giáo lư
(Can 805), mở trường Công giáo (Can 801), phép ấn hành
sách báo Công giáo (Can 824 §1), qui tắc về việc sử dụng
phương tiện truyền thông xă hội (Can 831).
Các hội ḍng cần phải có sự thỏa
thuận của Giám mục khi: mở một tu viện
trong giáo phận (Can 609), thay đổi công tác tông đồ
(Can 612). Trước khi đóng cửa một tu viện cũng
phải tham khảo ư kiến của ngài (Can 616 §1). Đối
với các ḍng giáo dân, việc bổ nhiệm cha tuyên úy và
cha giải tội thường xuyên thuộc thẩm quyền
của Bản quyền sở tại, sau khi đă bàn hỏi
với bề trên và cộng đoàn (Can 567; 630 §3). Can 681 §1
qui định các tu sĩ được Giám mục trao một
công tác hay chức vụ ǵ như giáo xứ (Can 520) hay một
khu vực truyền giáo (Can 790), th́ họ phải ở
dưới quyền và tuân hành chỉ thị của Giám mục
trong những lănh vực đó. Dĩ nhiên, họ phải
làm phúc tŕnh lên Giám mục và vị này có quyền thanh tra kinh
lư.
Ngoài ra, Bộ Giáo luật c̣n qui định
cho các hội ḍng thuộc giáo phận một số trường
hợp liên hệ với Giám mục giáo phận nữa (x.
Can 595 §1; 625 § 2; 628 §2.2; 637, 638 §4; 595 §2; 686 §1.4; 688 §2; 696 §2;
700)[9]
Cần có bản hợp đồng
đối với các công tác tông đồ mà Giám mục giáo
phận trao cho một hội ḍng. Bản hợp đồng
được kư kết giữa Bản quyền sở tại
và bề trên có thẩm quyền, trong đó ghi rơ những ǵ
liên quan đến việc thực hiện công tác, các tu sĩ
được gửi tới làm việc và các vấn đề
tài chính. Bề trên phải trao đổi với Giám mục
giáo phận về nhân sự, nếu trao cho tu sĩ một
chức vụ thuộc giáo sĩ th́ đương sự
phải được chính Bản quyền sở tại
bổ nhiệm, cho một nhiệm kỳ được 2
bên thỏa thuận. Mục đích bản hợp đồng
là để tránh việc thay đổi dễ dàng các
người phụ trách và bảo đảm việc chuyển
nhượng quyền sở hữu tài sản trong trường
hợp công tŕnh phải giải tán (x. MR 57; Can 681, 682). “V́ một
lư do nghiêm trọng, bất kỳ một tu sĩ nào cũng
có thể bị giải nhiệm hoặc do ư muốn của
giáo quyền đă trao nhiệm vụ, sau khi đă báo cho bề
trên đương sự biết; hoặc do ư muốn của
bề trên, sau khi đă báo cho giáo quyền đă trao nhiệm
vụ biết. Hai bên đều có quyền ngang nhau. Bên này
không buộc phải có sự đồng ư của bên kia.
Bên này không cần phải chứng minh hay ngay cả thông tri
cho bên kia những lư do của sự quyết định của
ḿnh. Mỗi bên vẫn có quyền khiếu nại lên Ṭa
Thánh nếu muốn.” (MR 58; x. Can 682 §2)
Đối với tu sĩ linh mục và
phó tế (x. PI 108- 109): Tu sĩ linh mục và phó tế cần
ư thức về hai khía cạnh trong một ơn gọi duy
nhất của ḿnh: ơn gọi sống trong hội ḍng và
trong giáo phận. Họ phải sống hài ḥa hai chiều
kích này. Họ “phải có một nhận thức rơ rệt
và những xác tín vững chắc về bản chất của
thừa tác vụ linh mục và phó tế (thuộc về
cơ cấu của Giáo hội) và của đời tu (thuộc
về sự thánh thiện và sự sống của Giáo hội)
(x. LG 44), nhưng họ phải giữ nguyên tắc này là thừa
tác vụ mục vụ của ḿnh là thành phần của bản
chất đời tu (x. PC 8).” (PI 108; x. PI 109)
3.
Truyền giáo theo đặc sủng của mỗi hội
ḍng
Đặc sủng chính là “tiêu chuẩn
chắc chắn nhất cho sự quyết định về
loại hoạt động của
mỗi hội ḍng.” (ET 11) Đặc sủng luôn gắn liền
với sứ mệnh truyền giáo, mỗi hội ḍng có một sứ mệnh truyền
giáo riêng biệt, tùy theo đặc sủng của ḿnh (x.
VC 19, 72, 46; PC 10, 20; Can 673, 674, 676, 677). Đối với các
hội ḍng chiêm niệm, Bộ Giáo luật, điều 674,
viết: Các tu sĩ sống đời chiêm niệm thuần
túy th́ tham gia vào hoạt động tông đồ theo
đường lối riêng của họ: “Họ dâng lên
Thiên Chúa hy lễ ngợi khen tuyệt vời, họ trang
điểm dân Chúa với những hoa trái dồi dào của
sự thánh thiện, họ thúc đẩy dân Chúa bằng
gương sáng và làm cho nó phát triển nhờ sự phong
nhiêu kín nhiệm của ḿnh.” Trong những hội ḍng hoạt
động tông đồ, yếu tố đầu tiên
để đặc sủng xuất hiện là sự nhận
thức về một nhu cầu thiết yếu nào đó
trong Giáo hội và ơn gọi để đáp ứng lại
nhu cầu đó. Những đặc sủng khác nhau của
các hội ḍng làm phong phú đời sống của Giáo hội
và góp phần vào sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội
theo tính cách riêng của mỗi hội ḍng.[10] Mỗi
hội ḍng có một sứ mệnh riêng trong Thân thể Chúa
Kitô mà không ai khác có thể thay thế được. Nếu
họ không thực hiện nó, họ khước từ kế
hoạch của Thiên Chúa trao cho họ.
4.
Trung thành một cách sáng tạo với sứ vụ
“Các Bề trên và các phần tử hăy trung thành duy tŕ sứ mệnh và
các công tác riêng của ḍng. Tuy nhiên, họ hăy biết thích ứng chúng cách khôn ngoan chiếu
theo nhu cầu của thời thế và địa
phương, kể cả bằng việc sử dụng
các phương tiện mới mẻ và thích ứng.” (Can
677 §1).
Trong bối cảnh xét lại các h́nh thức
hoạt động tông đồ, văn kiện “Những
yếu tố cốt yếu của đời tu” (số
27) đă đưa ra những khuyến cáo về ba cơn
cám dỗ khi xây dựng kế hoạch hoạt động
tông đồ: (i) muốn ôm đồm mọi h́nh thức
hoạt động tông đồ, (ii) bỏ đi những
h́nh thức hoạt động truyền thống theo đặc
sủng của ḍng, để chạy theo những hoạt
động đáp ứng nhu cầu xă hội tức thời,
nhưng lại không hợp với đặc sủng của
ḍng, (iii) phân tán nhân lực ḍng vào những hoạt động
ngắn hạn, chỉ liên hệ đến đặc sủng
một cách mơ hồ; do đó, với thời gian, tính
cách đồng nhất trong việc thực hiện đặc
sủng của ḍng sẽ bị tổn thương.[11]
Dù nhu cầu mục vụ cấp bách thế
nào đi nữa, chúng ta luôn phải nhớ rằng sự đóng góp tốt nhất mà một
hội ḍng có thể đem lại cho Giáo hội là sự
trung thành với đoàn sủng của họ. Hội ḍng càng hiện diện
theo đoàn sủng của ḿnh, càng đem lại nhiều
hoa trái (x. FLC 61; MR 49- 50).
Bởi đó, người tu sĩ trong mỗi
hội ḍng cần thấm nhuần tinh thần của
đấng sáng lập. Đây là một trong những hướng
dẫn chính của công đồng Vatican II đối với
việc canh tân và thích nghi của đời sống thánh hiến
(x. PC 2). Đức Gioan Phaolô II cũng yêu cầu các hội
ḍng chú tâm vào việc đào tạo
theo đoàn sủng riêng biệt của họ, để
họ có thể thực hiện sứ mệnh loan báo Tin mừng tùy theo đoàn
sủng của ḿnh (x. VC 68, 72). Đoàn sủng tạo
nên linh đạo, lối sống, truyền thống và sứ
mệnh của hội ḍng. Bởi đó, việc đào tạo
theo đoàn sủng sẽ giúp các thành viên trong hội ḍng ư
thức được căn tính của ḿnh, cũng
như sứ mệnh đặc biệt mà họ được
trao phó để xây dựng Giáo hội và phục vụ
nước Thiên Chúa. Trong Tông huấn Giáo hội tại Á
Châu, Đức Gioan Phaolô II viết: “Tôi hiệp ư với
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà kêu gọi
những người sống đời thánh hiến, canh
tân sự nhiệt thành của họ trong việc loan báo
chân lư cứu độ của Chúa Kitô. Tất cả phải
được huấn luyện và đào tạo xứng hợp;
nền huấn luyện này cần
tập trung vào Chúa Kitô và trung thành với đoàn sủng nền
tảng của họ, nhấn mạnh đến sự
thánh thiện và chứng tá cá nhân; tu đức và lối sống
của họ phải nhạy cảm với gia sản tôn
giáo của dân tộc mà họ đang sống và phục vụ.”
(EA 44)
Chúa Thánh Thần là nguồn gốc mọi
ơn gọi tận hiến, nên cần phải trung thành
sáng tạo với đặc sủng/đoàn sủng (VC 36,
37, 73, 74) khi canh tân việc huấn luyện (VC 65, 68, 71, 80),
sống linh đạo (VC 37, 93) và hoạt động tông
đồ (VC 48, 63, 72).
5. Loan báo Tin mừng, ch́a khóa để hiểu
được đời sống thánh hiến hôm nay
Qua gịng lịch sử, nhiều hội
ḍng được thành lập để đáp ứng lại
những t́nh huống lịch sử nào đó, thực hiện
một sứ mệnh nào đó bên trong hoặc bên ngoài cộng
đoàn: qua việc hăm ḿmh và khẩn cầu cho trần thế
trong đời sống chiêm niệm, qua việc loan báo Tin Mừng
trong những h́nh thức phục vụ khác nhau.
Căn tính đời sống thánh hiến
ngày nay dựa trên sứ mệnh truyền giáo, bởi v́
đó chính là lư do cho sự hiện diện của họ
(x. EE 23-24). “Tinh thần truyền giáo phải được
tuyệt đối duy tŕ trong các hội ḍng và tùy bản chất riêng của mỗi
ḍng mà thích nghi với hoàn cảnh hiện tại, để
việc rao giảng Phúc âm giữa muôn dân được hữu
hiệu.” (PC 20) Nơi các hội ḍng hoạt động
tông đồ, “hoạt động tông đồ và từ
thiện thuộc về chính bản tính của đời
sống tu tŕ.” (PC 8) Bộ giáo luật cũng đă viết:
“Hoạt động tông đồ làm nên phần cốt yếu
của các ḍng chuyên biệt tông đồ. V́ vậy, toàn bộ
đời sống của các thành viên phải được
thấm nhuần tinh thần tông đồ, và toàn thể hoạt
động tông đồ phải được chất
chứa tinh thần tu tŕ.” (Can 675 §1) Người tu sĩ phải
bước theo Chúa Kitô trên những con đường mà
Ngài đă đi: cầu nguyện trên núi, rao giảng cho
đám đông, chữa lành những người bệnh,
khuyên nhủ các tội nhân ăn năn sám hối, chúc lành
cho trẻ em và ban ơn lành cho mọi người, trong tinh
thần vâng phục thánh ư Chúa Cha (x. LG 46; PC 14; Can 577).
Có thể nói rằng sứ mệnh truyền
giáo là ch́a khóa để hiểu được đời
sống thánh hiến ngày nay và mọi việc xảy ra trong
nó. Không có một nhận thức mạnh mẽ về sứ
mệnh truyền giáo, đời tu không c̣n ư nghĩa, không
c̣n lư do để tồn tại. Do đó, họ cần
ngoan ngoăn vâng theo sự thúc đẩy của Thần khí
để trở thành dụng cụ hữu hiệu cho Ngài
trong sứ mệnh loan báo Tin mừng.[12]
Qua VC 72, chúng ta thấy mọi sự
đều liên quan đến sứ mệnh: việc bắt
chước Chúa Kitô, trở nên đồng h́nh đồng
dạng với Ngài, chứng tá cộng đoàn và cá nhân,
ơn gọi, đặc sủng, các lời khuyên Phúc âm,
đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, những hoạt động đặc
biệt của mỗi hội ḍng,… Tất cả đều
được nối kết với sứ mệnh. Không một
khía cạnh nào có thể được hiểu và sống
riêng rẽ được.
Cách đặc biệt, đời sống
thánh hiến phải trở thành dấu chỉ/chứng tá
(x. VC 15, 25, 27, 32-35, 76, 85, 92, 104- 105) và ngôn sứ (x. VC 33a,
39, 84- 95) trong thế giới hôm nay.
6.
Cộng tác với người giáo dân
Trong thời đại chúng ta, người
giáo dân đóng vai tṛ chủ đạo trong sứ mệnh
loan báo Tin mừng và tân Phúc âm hóa. Qua các đặc sủng của
họ, họ tích cực loan báo Tin mừng cho toàn thế giới
qua con đường đối thoại bằng đời
sống, mang sứ điệp của Tin mừng đến
khắp mọi nơi. Một số phong trào Giáo hội
đă liên kết chặt chẽ với các hội ḍng và
chia sẻ đoàn sủng, linh đạo và sứ mệnh
đặc biệt của các hội ḍng đó. Sự hiệp
thông và cộng tác này giúp phổ biến linh đạo
hướng tới hoạt động ra ngoài biên giới
của hội ḍng, giúp cho hội ḍng đào sâu và làm phong phú
thêm đoàn sủng của ḿnh và từ đó rút ra nhiều
gợi ư cho hoạt động tông đồ mới mẻ.
Nhờ gương thánh thiện của những người
tận hiến, người giáo dân sẽ có kinh nghiệm
trực tiếp về tinh thần của các lời khuyên
Phúc âm, được khích lệ và làm chứng cho tinh thần
các mối phúc để biến đổi trần thế
theo ư định của Thiên Chúa (x. VC 54- 56; FLC 62, 70). Bởi
đó, các hội ḍng nên xem xét lại những hoạt động
truyền thống của ḿnh để hợp tác với
người giáo dân trong công việc truyền giáo, đáp ứng
tốt hơn những nhu cầu tông đồ và mục vụ
đang nổi lên, đặc biệt trong những lănh vực
công bằng xă hội, xây dựng những cộng đoàn
cơ bản được năng động bởi sự
hiệp thông và tham gia và biến đổi xă hội nên tốt
đẹp hơn.
Trong Châu Á ngày nay, Chúa Thánh Thần đang
thúc giục những môn đệ của Chúa Kitô sống và
làm chứng về sự hiệp nhất trong Giáo hội
địa phương, đặc biệt là tại lănh vực
giáo xứ, xây dựng một Giáo hội tham gia mà trong
đó các Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân cùng hiệp
thông, chia sẻ, hợp tác và đồng trách nhiệm trong
sứ vụ loan báo Tin mừng.[13]
Tóm lại, người tu sĩ cần
phải biết được căn tính ơn gọi của
ḿnh trong Giáo hội. Họ phải giữ ǵn, đào sâu và sống
với sự trung thành và ḷng biết ơn đối với
đặc sủng mà đấng sáng lập của họ
đă nhận được và truyền lại cho họ.
Mỗi hội ḍng có một linh đạo riêng, một sứ
vụ riêng tùy theo đoàn sủng của ḍng ḿnh. Việc
đào tạo, sống và hoạt động theo linh đạo
và sứ vụ sẽ tạo nên nét riêng biệt của mỗi
hội ḍng. Muốn có đổi mới, chúng ta cần biết
chúng ta là ai. Mỗi hội ḍng phải ra sức giữ lấy
căn tính của ḿnh để khỏi rơi vào t́nh trạng
mập mờ, không xác định được vị trí
và nhiệm vụ của ḿnh trong đời sống Giáo hội
(x. FLC 46).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Antonio Romano. The Charism of the Founders: The
person and Charism of Founders in Contemporary Theological Reflection.
Ireland: St Pauls, 1994.
- Cassian J. Yuhaus, ed. Religious Life: The
Challenge of Tomorrow. New York: Paulist
Press, 1994.
- Fabio Ciardi. Koinonia- Spirituality and
Theology of the Growth of Religious Community. Quezon City:
Claretian Publications, 1999.
- Felicisimo Diez Martinez, OP. Refounding
Religious Life: Charismatic Life and Prophetic Mission. Quezon City:
Claretian Publications, 2000.
- Gerald A. Arbuckle, SM. From Chaos to Mission,
Refounding Religious Life Formation. London: Geoffrey Chapman, 1996.
- Jesus Alvarez Gomez. New Evangelization for the
Third Millennium. Quezon City: Claretian Publications, 1997.
- John Manuel Lozano, CMF. Foundresses, Founders
and Their Religious Families. Chicago: Claret Center for
Resources in Spirituality, 1983.
- Leonardo Boff. Church: Charism & Power-
Liberation Theology and the Institutional Church. New York: Crosss, 1992.
- Marcello Azevedo, SJ. Vocation for Mission- The
Challenge of Religious Life Today. New York: Paulist Press, 1988.
- M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ). Đời
tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II và Giáo luật,
Quyển I. The Daughters of St. Paul, 1986.
- Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật
Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3 và 4, Các Hội Ḍng Tận
Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. Rôma, 1993.
- Saint Francis of Assisi. Writtings and Early
Biographies. Chicago: Franciscan Herald Press, 1973.
- Sandra Schneiders. Religious Life in a New
Millennium, Volume I, Finding the Treasure- Locating Catholic Religious
Life in a New Ecclesial and Cultural Context. NewYork: Paulist Press, 2000.
- Teresa Ledóchowska Osu. In Search of the Charism
of the Institute of the Ursulines of the Roman Union. Roma: Ursulines of
the Roman Union Via Nomentana 236, 1976.
- The 54th Assembly of the Union of Superiors General
(Unione Superiori Generali). For a
Creative Fidelity Refounding- Resituating Charisms, Redesigning Presence.
Rome 1998.
CHỮ VIẾT TẮT
AG Sắc lệnh về
Truyền giáo
CD Sắc lệnh về
Chức vụ Giám mục
CL
Tông huấn Christifideles Laici
EA Tông huấn Giáo hội tại
Á Châu
EE Văn kiện Những Yếu tố
Cốt yếu của Đời tu
ET Tông huấn Chứng
tá Tin Mừng
FLC
Đời sống huynh
đệ trong cộng đoàn
LG
Hiến chế Tín lư về Hội thánh
MR Văn
kiện Mối Tương quan giữa
các Giám mục với các Tu sĩ
PC Sắc lệnh về
việc Canh tân Ḍng tu
RM Thông điệp Sứ
vụ Đấng Cứu Chuộc
SAFC Huấn thị Xuất
Phát Lại Từ Chúa Kitô.
VC
Tông huấn về Đời sống Thánh hiến
[1] Đặc
sủng được ban nhằm phục vụ lợi
ích cộng đoàn; c̣n ơn thánh sủng nhằm thánh hoá bản
thân người nhận.
[2] “Đời
sống thánh hiến và các cơ cấu trong Giáo hội không
phải là 2 thực tại tồn tại riêng biệt,
như thể một thực tại thuộc về ân sủng
và thực tại kia thuộc về cơ cấu. Trái lại,
2 yếu tố ấy, tức ân sủng thần thiêng và
cơ cấu trong Giáo hội, làm thành một thực tại
duy nhất, tuy phức tạp (x. LG 8)” (MR 34)
[3] Thần học
về đặc sủng của đời sống thánh hiến
mới phát triển từ công đồng Vat II và đến
nay vẫn chưa thực sự chín mùi. Bài viết này dựa
vào các văn kiện của Giáo hội, cũng như các
tác giả và các nhà thần học nổi tiếng hiện
nay xuất phát từ các ḍng tu.
[4] X. Đức
Phaolô VI, bài nói chuyện với một số tu sĩ ngày
31/3/1969, trong AAS 61 (1969) 266; và trong bài giảng ngày
4/3/1964; ET 11.
[5] Đức
Gioan Phaolô II, Bài nói chuyện với các bề trên tổng
quyền nam, ngày 24/11/1978, được trích lại trong
John Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families
(Chicago: Claret Center for Resources in Spirituality, 1983), tr.
28.
[6] Kinh nghiệm
hay cảm nghiệm là một đặc sủng, v́ là một
ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần.
[7] X. John
Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr.
29-30.
[8] X. Cassian J.
Yuhaus, ed., Religious Life: The Challenge of Tomorrow (New York: Paulist Press, 1994), tr. 184-
185.
[9] X. Teresa
Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines
of the Roman Union (Roma: Ursulines of the Roman Union Via Nomentana 236,
1976), tr. 26.
[10] Các đặc
sủng được ban là để phục vụ lợi
ích chung, phục vụ cộng đoàn, nên c̣n được
gọi là Đoàn sủng.
[11] X. Antonio
Romano, The Charism of the Founders: The person and Charism of Founders in
Contemporary Theological Reflection (Ireland: St Pauls, 1994), tr. 149-150.
[12] V́ không
định nghĩa được, nên Bộ Giáo luật
đă không sử dụng từ đặc sủng (v́
luật th́ phải rơ ràng), mà sử dụng các từ
như gia sản tinh thần, truyền thống, linh đạo,
căn tính, đặc tính,…
[13] X. Antonio
Romano, The Charism of the Founders, tr. 109, 140; M. Ngọc
Đính (Chuyển ngữ), Đời tu dưới ánh
sáng công đồng Vatican II và Giáo luật, Quyển I (The
Daughters of St. Paul, 1986), tr. 66- 68, 148- 154.
[14] X. The 54th
Assembly of the Union of Superiors General (Unione
Superiori Generali), For a Creative Fidelity Refounding- Resituating
Charisms, Redesigning Presence (Rome 1998), tr. 74-75.
[15] X. Teresa
Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines
of the Roman Union, tr. 16, 19, 23, 30.
[16] X. Antonio
Romano, The Charism of the Founders, tr.
179.
[17] X. Ibid.,
tr. 165, 175.
[18] X. S.
McCarty, Touching Each Other at the Roots: A Reflection on the Charism of the
Founder, trong Review for Religious 31 (2/1972) 205.
[19] X. Teresa
Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines
of the Roman Union, tr. 23, 31-33.
[20] X. Antonio
Romano, The Charism of the Founders, tr.151-156; Teresa Ledóchowska Osu,
In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman
Union, tr. 17.
[21] X. John
Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr.
89-90.
[22] X. Futrell,
J.C., Discovering the Founder’s charism, in The Way Supplement 14 (1971)
62,70.
[23] F. George,
Critères pour découvrir et vivre le charisme du Fondateur aujourd’hui, trong Vie
Oblate Life 36 (1977) 39.
[24] X. Antonio
Romano, The Charism of the Founders, tr. 181.
[25] X.
Ibid., tr. 171.
[26] x. Phan Tấn
Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập
4, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ
(Rôma, 1993), tr. 762- 763.
[27] Linh Đạo
là con đường thiêng liêng, con đường nên thánh.
Trong các ḍng tu, mỗi hội ḍng đều có một linh
đạo riêng, một con đường nên thánh riêng do vị
sáng lập vạch ra.
[28] X. John
Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr.
45-46.
[29] X. Fabio
Ciardi, Koinonia- Spirituality and Theology of the Growth of
Religious Community (Quezon City: Claretian Publications,
1999), tr. 256- 259.
[30] X. Phan Tấn
Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2,tập 3, tr.
353-354, 411-412.
[31] X. John
Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr.
46; Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2,
tập 3, tr. 360-362.
[32] X. Marcello
Azevedo, SJ, Vocation for Mission- The Challenge of Religious Life Today
(New York: Paulist Press, 1988), tr. 137.
[33] X. Phan Tấn
Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2, tập 3, tr.
360-361, 366-367.
[34] X. Fabio
Ciardi, Koinonia, tr. 157-158.
[35] X. Ibid.,
tr. 47.
[36] X. John
Manuel Lozano, Foundresses, Founders and Their Religious Families, tr.
77.
[37] X. Fabio
Ciardi, Koinonia, tr. 276-279; M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ),
Đời tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II
và Giáo luật, Quyển I (The Daughters of St. Paul, 1986),
tr. 199.
[38] X. Thượng
Hội đồng Giám mục, kỳ IX, Đời Sống
Thánh Hiến và Sứ Mạng của Đời sống này
trong Giáo hội và trong Thế giới (Tài lệu làm việc),
số 16-17.
[39] X. Teresa
Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines
of the Roman Union, tr. 27.
[40] X. Ibid.,
tr. 13-14, 15.
[41] Sắc lệnh
về truyền giáo, Ad Gentes (AG) nói về các hội ḍng: số
15i (vai tṛ bất khả thay thế), số 18- 19 (phát huy
đời tu ở các xứ truyền giáo), số 20 (ḷng
nhiệt thành của các tu sĩ), số 27 (các tu hội truyền
giáo), số 32- 33 (hợp tác với Giáo hội địa
phương trong hoạt động truyền giáo), số
40 (nhiệm vụ truyền giáo của các tu sĩ).
[42] Tông huấn
Vita Consecrata,1996, đúc kết những khuynh hướng
khác nhau về thần học và mục vụ trong suốt
30- 35 năm, kể từ công đồng Vatican II.
[43] X. Jesus
Alvarez Gomez, New Evangelization for the Third Millennium (Quezon City:
Claretian Publications, 1997), tr. 78; VC 19.
[44] X. Jose
Cristo Rey Garcia Paredes, CMF, “Mission: The Key to Understand Consecrated
Life Today.” Religious Life Asia 6 (January-March 2004): tr. 59-77;
Marcello Azevedo, SJ, Vocation for Mission- The Challenge of Religious Life
Today (New York: Paulist Press, 1988), tr. 138.
[1] X. Teresa Ledóchowska Osu, In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union, tr. 27.
[2] X. Ibid., tr. 13-14, 15.
[3] X. LG 46; Can 577; P.T.Thành, Giải thích GL, tập 4, p. 564
[4] Tông huấn Vita Consecrata,1996, đúc kết những khuynh hướng khác nhau về thần học và mục vụ trong suốt 30- 35 năm, kể từ công đồng Vatican II.
[5] Xin đọc thêm VC 46- 50.
[6] X.
Đức Gioan Phaolô II, bài nói chuyện với các tu sĩ tại
[7] Sắc lệnh về truyền giáo, Ad Gentes (AG) nói về các hội ḍng: số 15i (vai tṛ bất khả thay thế), số 18- 19 (phát huy đời tu ở các xứ truyền giáo), số 20 (ḷng nhiệt thành của các tu sĩ), số 27 (các tu hội truyền giáo), số 32- 33 (hợp tác với Giáo hội địa phương trong hoạt động truyền giáo), số 40 (nhiệm vụ truyền giáo của các tu sĩ).
[8] Sắc lệnh về Chức vụ Giám mục, Christus Dominus (CD): số 32-35, nói về việc hoạt động mục vụ của các tu sĩ trong giáo phận. Công đồng đặt ra những qui tắc cho mối liên hệ giữa Giám mục và tu sĩ. Những qui tắc này sẽ được khai triển trong văn kiện Mutuae Relationes, 1978, làm nền tảng cho các điều 678- 683 của BGL 1983.
[9] X. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2, tập 4, tr. 660- 663.
[10] X. Jesus Alvarez Gomez, New Evangelization for the Third Millennium (Quezon City: Claretian Publications, 1997), tr. 78; VC 19.
[11] Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 4, Các Hội Ḍng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993), tr. 762- 763
[12]
X. Jose Cristo Rey Garcia Paredes, CMF, “
[13] X. UCAN News, Ucan Commentary - The Role of Religious amid the Asian Crisis, November 16, 1998 at http://www.ucanews.com/html/uca/index.html, accessed on February 9, 2003.